Skip to content

LỜI NÓI ĐẦU

Dòng sử Việt rất dài. Như chúng ta đã biết, những thăng trầm của nó lần lược được các bộ chính sử ghi lại như sau:

Bộ Đại Việt Sử Ký do sử gia Lê Văn Hưu soạn, và hoàn thành năm 1272 dưới thời vua Trần Thánh Tông.  Bộ nầy viết về thời Triệu Đà thành lập nước Nam Việt đến thời vua Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng Trần Cảnh năm 1225. Đây là bộ sử đầu tiên của Việt Nam, và bị thiêu hủy trong lúc quân Minh xâm lăng.

Không kể bộ An Nam Chí Lược của Lê Tắc viết sau khi ông nầy đầu hàng quân Nguyên, thì chúng ta có bộ thứ hai. Đó là bộ Đại Việt Sử Lược. Bộ nầy còn lại khá trọn vẹn, nhưng cũng mất đi phần lai lịch của tác giả. Cũng không rõ được khởi viết lúc nào, nhưng nó được hoàn thành dưới thời vua Trần Đế Hiện (1377 – 1388). Bộ nầy có chiều dài từ vua huyền thoại Hoàng Đế bên Tàu đến cuối nhà Lý 1225. Riêng phần nhà Trần chỉ chép về niên hiệu các vua, từ vua Trần Thái Tông đến vua Trần Đế Hiện.

Bộ thứ ba là bộ có cùng tên Đại Việt Sử Ký do sử gia Phan Phu Tiên soạn. Ông Phan khởi soạn năm 1448 và hoàn thành bộ nầy vào năm 1452 dưới thời vua Lê Nhân Tông. Nó gồm phần truy lục bộ sử cũ của tiền bối Lê Văn Hưu, và viết tiếp đến thời kỳ khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh thành công năm 1228.

Bộ thứ tư là bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT) do sử gia Ngô Sĩ Liên biên soạn. Nó được khởi viết dưới thời vua Lê Thánh Tông và được trình lên nhà vua năm 1479. Bộ nầy chính yếu là biên tập từ những bộ sử đã có, và viết về thời thượng cổ lập quốc. Nó có độ dài từ năm 2879 trước công nguyên (TCN) khi Kinh Dương vương lập nên họ Hồng Bàng đến lúc Bình Định vương Lê Lợi lên ngôi năm 1428. Về sau các nhóm sử gia cuối thời Lê Sơ và dưới thời Lê Trung Hưng căn cứ vào đây để viết tiếp. Chính yếu, họ tiếp tục viết biên niên lịch sử đến lúc vị vua thiếu niên Lê Gia Tông qua đời vào năm 1675. Nó được nhóm sử gia Lê Hy hoàn thành năm 1697 dưới thời Chính Hòa của vua Lê Hy Tông. Tên gọi ĐVSKTT vẫn được giữ như sử gia Ngô Sĩ Liên đã đặt từ 200 năm trước, nhưng bộ sử đã dày hơn. Nó được gọi là bộ Chính Hòa để phân biệt với ĐVSKTT ở các giai đoạn trước.

Bộ thứ năm là bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (TGCM) do Quốc sử quán nhà Nguyễn soạn thảo. Nó được khởi viết dưới thời vua Tự Đức và hoàn thành dưới thời vua Kiến Phước. Quốc sử quán đã dựa theo các bộ sử trước để soạn bộ sử mới hơn. Bộ nầy có độ dài gồm cả ĐVSKTT bộ Chính Hòa, và viết tiếp đến ngày cuối cùng của vua Lê Chiêu Thống trị vì vào năm 1789. Nó có chỉnh sửa, có cẩn án, chia thành phần mục rõ ràng dễ đọc.

Riêng trong phần mở rộng phương Nam của nhà Nguyễn, chúng ta lần lược có Phủ Biên Tạp Lục của học gỉa Lê Qúy Đôn, Gia Định Thành Thông Chí của nhà nghiên cứu Trịnh Hoài Đức và bộ sử Đại Nam Thực Lục (ĐNTL). ĐNTL là bộ sử lớn của quốc sử quán nhà Nguyễn. Nó được khởi soạn từ thời vua Minh Mạng đến thời vua Khải Định mới hoàn tất. Bộ nầy viết về thời tiên chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (1558) đến vị hoàng đế chống pháp Duy Tân bị thực dân Pháp lưu đày (1916). Nó trải qua thời kỳ chống Trịnh và mở mang phương nam, chiến tranh với nhà Tây Sơn, chống và lệ thuộc thực dân Pháp.

Bên cạnh những bộ chính sử nêu trên còn một số bộ sử khác cũng rất có giá trị. Tuy nhiên, kể cả chính sử, khó để nói có sự trung thực đúng mức, vì các sử gia trong thời phong kiến đều là những vị sử thần. Do vậy, năm 1920 học giả Trần Trọng Kim dựa vào tất cả các bộ sử đã có để soạn bộ Việt Nam Sử Lựợc (VNSL). Ông là người thoát ra cái vai “sử thần” nên chắn chắn bộ sử sẽ công bằng hơn. Đây là bộ sử gọn gàng dễ hiểu, tuy nhiên nó lại rơi vào tình trạng quá ngắn gọn không diễn tả hết những uẩn khúc. Đã có những khoảng trống nhảy vọt.  Bộ sử ít trang hơn, nhưng nói về một thời gian dài hơn: Thượng cổ đến vua Thành Thái, phụ hoàng của vua Duy Tân.

Từ đó, nhiều tác giả về sau ôm một hoài bảo soạn một bộ sử đầy đủ hơn, tầm vóc hơn. Nó bao gồm chính trị, tôn giáo, văn hóa, xã hội và quân sự qua từng thời kỳ. Nó phải đi qua những khúc quanh với những diễn tiến phức tạp để không làm cho dòng sử đứt đoạn. Đây là một hoài bảo đáng qúy, và tôi tin sẽ có người làm được. Sử gia Phạm Văn Sơn soạn Việt Sử Tân Biên từ năm 1952 là một ví dụ. Riêng tôi không dám mơ ước như thế vì sự hiểu biết giới hạn của mình. Tôi viết Việt Nam Thi Sử chỉ là làm công việc lượm nhặt sử cũ, và ghi lại những điều đã thấy trong thời kỳ mình đang sống. Để tránh những khô khan phải có của dòng sử văn, tôi viết như một lối truyện kể gồm hai phần:

Thứ nhất, phần lược sử. Trong phần nầy, tôi không đi từng chi tiết biên niên. Nguyên nhân, diễn tiến, và hệ quả của một sự việc được chú ý. Chúng là một cuộc khởi nghĩa, một lần chiến tranh hay cột mốc thịnh suy của một triều đại. Tuy nhiên, tôi cũng gặp khó khăn khi đọc các dòng sử cũ. Ở đó có những sai khác về một biến cố, hay là sự bỏ trống một khoảng thời gian. Tham vấn những điều nầy với bạn hữu xa gần, và cố làm trôi chảy dòng sử một cách chừng mực là điều tôi đương cố gắng.

Thứ hai, phần thơ. Cũng giống như phần lược sử, nhưng ở đây bằng thơ. Trong thơ không ghi chi tiết ngày tháng xảy ra sự việc, nhưng địa danh và nhân vật lịch sử vẫn được giữ nguyên. Trước tôi đã có Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của nhà thơ Lê Ngô Cát, và một số tập hùng ca của một vài tác giả khác. Ở đây tôi tiếp tục làm công việc lượm nhặt chứ không phải là người khởi xướng. Thơ tránh chồng lên thơ, mà phải giữ nguyên nơi chốn và tên người nên không khỏi có phần thô kệch, mong qúy vị lượng thứ. Dầu sao, tôi vẫn thấy nỗi nhọc nhằn, bi tráng của những nhân vật lịch sử sẽ trở nên “đẹp” hơn khi đi vào thơ, nên có phần thứ hai nầy.

Ngoài hai phần chính trên, trong một số chương có phần nói thêm như là chú thích, hoặc là ý kiến riêng của tôi về một sự kiện. Phần nầy chữ nhỏ hơn, và nó nằm ở cuối chương hoặc cuối đoạn.

Việt Nam Thi Sử vẫn chưa xong, nhưng tạm dừng lại ở đây để nhìn lại những sai sót, những điều không rõ. Chúng tôi xin lắng nghe và học hỏi từ qúy bạn đọc để có những trang sử đầy đủ hơn. Nhân đây, tôi xin để lòng biết ơn đến các tác giả tiền bối các bộ sử nêu trên, và các dịch giả Hán Việt. Tôi xin cảm ơn các trang mạng điện tử đã chuyển tải nhiều thông tin. Tôi xin cảm ơn bạn hữu đã cho tôi những sử liệu và những lời góp ý. Sau cùng tôi muốn dành lòng về gia đình, nơi đã cho tôi nhiều may mắn để viết khúc thi sử nầy.

. 

                                                           Trân trọng.
                                                     Dallas, mùa thu 2016
                                                           Đinh Thắng


<<  |  >>