Skip to content

Chương sáu

TRIỆU QUANG PHỤC, VÀ
SỰ TRỞ VỀ CỦA LÝ PHẬT TỬ  

( 547- 602)

 

      Giã từ Lý Nam Đế ở động Khuất Lão vào một ngày tháng giêng năm 547, Triệu Quang Phục  đưa nghĩa quân về đầm Dạ Trạch. Đây là một địa danh mà Lý Nam Đế đã biết từ hồi còn làm quan quân giám. Bằng sự ra đi im lặng đầy nước mắt, nghĩa binh lần lượt trở lại sông Lô. Có thể hiểu đây là cuộc chuyển quân, là cuộc di dời hay là cuộc chia tay với Lý Nam Đế cũng được. Họ trước sau tìm cách xuôi theo sông Hồng, qua hẳn thành Cổ Loa về miền hạ nguồn.

      Cuối cùng nghĩa quân cũng dừng lại ở Khoái Châu bên bờ tả ngạn sông Hồng. Nơi đây vẫn còn hoang hóa với dòng sông Chữ huyền thoại xa xưa. Đi sâu vào trong, không ai thấy di tích hoàng thành “Nhất Dạ” ở đâu. Người ta chỉ thấy những con lạch chằng chịt giữa những rừng hoang. Những bước chân dọ dẫm trong nhiều ngày họ cũng tới được đích. Đầm Dạ Trạch đã hiện ra. Đó là một vùng trũng thấp mênh mông đầy lau sậy sình lầy giữa rừng già. Vùng đầm lầy nầy còn lớn hơn vùng đầm lầy của hồ Điển Triệt. Một điều khác nhau dễ thấy là ở Điển Triệt thì hồ nằm giữa, ở đây thì có một khu rừng cây nằm giữa đầm lầy. Chỉ trong một tháng đầu, ba ngàn nghĩa quân từ động Khuất Lão đã về hết tại đây. Triệu Quang Phục huấn luyện binh sĩ lối đánh du kích thích hợp với địa thế. Đến giữa tháng tư năm 548, tức sau gần một năm rời động Khuất Lão, nghĩa quân hay tin Lý Nam Đế qua đời. Họ tôn Triệu Quang Phục làm vua để dễ kêu gọi lòng dân hưởng ứng khởi nghĩa. Danh xưng Triệu Việt Vương có từ lúc nầy, nhưng hai năm sau ông mới thực sự lên ngôi.

      Trong lúc nghĩa quân Vạn Xuân tôn Triệu Quang Phục làm vua, thì Trần Bá Tiên được triệu về nước vì những diễn biến phức tạp ở đó: Loạn Hầu Cảnh. Hầu Cảnh là hàng tướng của nhà Lương từ Đông Ngụy. Ông ta được phong đất 9 châu ở phía nam sông Hoàng Hà và phong tước vị Hà Nam vương (miền nầy vốn của Đông Ngụy do Hầu Cảnh cai quản trước đó). Năm 548 Hầu Cảnh  phản nhà Lương tiến quân chiếm kinh thành Kiến Khang của nhà Lương và bắt giam vua Lương Vũ Đế.  Khi nhà vua nầy chết trong tù, Hầu Cảnh lập thái tử Tiêu Cương lên làm vua tức Lương Giản Văn Đế. Vị vua nầy bị sự giám sát của Hầu Cảnh rất chặt chẽ, đến nỗi không dám gặp một quan cận thần nào. Ông phải gả con gái của mình cho Hầu Cảnh làm thiếp để được yên thân. Trước tình thế ấy một vị vương thân là Tiêu Dịch trấn thủ ở mặt đông chống Hầu Cảnh. Ông nầy gọi Trần Bá Tiên về nước để gây thế lực.

      Khi Trần Bá Tiên giao quyền cho Dương Sàn, vị phó soái, thì cán cân quân nhà Lương và quân kháng chiến Vạn Xuân thay đổi hẳn. Không những mất đi một lãnh đạo tài ba Trần Bá Tiên, mà quân Lương còn phải đối đầu với quân số nghĩa binh tăng nhanh vùn vụt. Từ 3 ngàn nghĩa binh ban đầu đã tăng thành 10 ngàn ở 6 tháng sau. Lúc nầy Dương Sàn không dám tấn công mà chỉ dàn quân xung quanh để giữ Long Biên. Từ đó Triệu Quang Phục dễ dàng kêu gọi nghĩa sĩ tham gia cuộc kháng chiến. Họ là những thanh niên nông dân khắp nước. Chỉ trong vòng một năm quân số nghĩa quân đã lên tới 30 ngàn. Họ tha hồ tấn công các đồn lũy nhà Lương dọc theo sông Hồng. Nghĩa quân chiếm Khoái Châu, Hồng Châu tháng 2 năm 549. Tháng 2 năm 550 họ đã làm chủ hầu hết mặt đông và mặt nam. Quân Lương chỉ còn kiểm soát thực sự vùng Luy Lâu cũ tức khu bình nguyên bắc sông Hồng và mặt tây sông Đuống. Dương Sàn kêu cứu về Kiến Khang nhưng không được đáp ứng. Tháng 8 năm 550, Triệu Việt Vương kéo quân về chiếm thành Long Biên. Dương Sàn chống cự yếu ớt và bị tử thương ở chân thành phía bắc. Số thương vong không lên quá cao vì quân Lương đều sớm đầu hàng. Triệu Việt Vương tha tất cả hàng binh để họ chạy về nước.

      Triệu Việt Vương là một tướng tài, là một ông vua nhân hậu. Lần tha mạng sống cho địch thù lần nầy không di hại gì cả, nhưng 7 năm sau cũng với lòng nhân hậu ấy đã mang đến cái chết cho ông:

      Ngược dòng thời gian. từ khi thất thủ ở hồ Điển Triệt, Lý Thiên Bảo và Lý Phật Tử mỗi người mỗi lối, nhưng đều chạy về hướng nam. Họ gặp nhau ở Đức Châu. Cả hai tập họp số tàn quân đi theo, và đặt duới sự lãnh đạo của Lý Thiên Bảo. Để sống còn, họ đánh cướp quận trị Đức Châu và giết luôn thứ sử Trần Văn Giới của nhà Lương. Trần Bá Tiên hay được mang quân đuổi theo. Lực yếu, hai người họ Lý mang số quân còn lại chạy đến Dã Năng, một vùng hoang địa thuộc Đào Giang của Lào. Ở đây dần dần họ chiêu tập những du cư và dân bản địa thành lập làng xã. Họ gom những làng xã nầy thành một nước nhỏ và chọn tên Dã Năng làm quốc hiệu. Lý Thiên Bảo được xưng tặng là Đào Lang vưong. Đó là năm 548. Nước Dã Năng tự túc về kinh tế và dần dần quân đội trở nên hùng mạnh. Bảy năm sau, năm 555, Lý Thiên Bảo chết, Lý Phật Tử lên thay làm vua.

      Đến năm 557 Lý Phật Tử dẫn quân về Long Biên gây hấn với Triệu Việt Vương đòi lại quyền làm vua của họ Lý. Triệu Việt Vương không muốn có chiến tranh với Lý Phật Tử. Đã 5 lần đụng trận và 5 lần đều thắng, nhưng Triệu Việt Vương không truy diệt. Ông đã cắt đất từ bãi Quân Thần về miền tây cho Lý Phật Tử. Cùng lúc đó ông bằng lòng làm thông gia với họ Lý dù có hai thuộc tướng là Trương Hống và Trương Hát ngăn can. Không có bằng chứng nào nói Lý Phật Tử lợi dụng tình thông gia để lấy thông tin nhưng ông ta vẫn nuôi mộng soán đoạt.

      Năm 571 Lý Phật Tử mang quân về đánh úp thành Long Biên. Triệu Việt Vương vì tin người, không phòng bị nên bị thua. Ông dẫn con gái và lực lượng trung thành chạy về phương nam, nhưng bị quân Lý Phật Tử đuổi theo và đánh giết đến tận tuyệt. Sử không nói về số phận của người con gái tên Cảo Nương nầy, chỉ nói Triệu Việt Vương nhảy xuống biển Đại Nha để tự kết liễu đời mình.

      Sau chiến thắng năm 571, Lý Phật Tử lên làm vua nước Vạn Xuân và cũng xưng Lý Nam Đế. Ông làm vua nước Vạn Xuân trong vòng 20 năm đầu được bình an, không có một đe dọa nào từ phương bắc. Nước Tàu lúc nầy vẫn còn thời kỳ Nam – Bắc triều và đang chinh phạt lẫn nhau. Phía bắc, Bắc Tề bị Bắc Chu tiêu diệt năm 577. Năm 581 Bắc Chu bị Dương Kiên soán ngôi lập ra nhà Tùy. Dương Kiên vốn là thượng quốc trụ và là ông ngoại của vua Chu Tĩnh Đế lúc ấy mới 6 tuổi. Phía nam, Trần Bá Tiên đoạt ngôi của nhà Lương năm 557 lập ra nhà Trần. Năm 559 Trần Bá Tiên chết, nhà Trần lần lược truyền đến đời vua thứ 5 là Trần Thúc Bảo. Lúc ấy chiến tranh Tùy – Trần đang xảy ra, năm 589 quân Tùy chiếm kinh thành Kiến Khang của nhà Trần và bắt vua Trần Thúc Bảo. Nhà Trần bị diệt vong. Đó là thời điểm Nam – Bắc triều chấm dứt.

      Nhà Tùy thống nhất nước Tàu và bắt đầu dòm ngó nước Vạn Xuân ở phía nam. Từ năm 589, Dương Kiên Tùy Văn Đế nhiều lần sai sứ buộc Lý Phật Tử sang chầu, nhưng họ Lý luôn tìm cách khất lại. Đến năm 602, Tùy Dạng Đế sai tướng Lưu Phương mang đại quân đi chinh nam. Đoàn quân nầy đến núi Đô Lương ở biên giới hai nước thì gặp quân nhà Lý chặn đường. Hai bên giao chiến, quân Vạn Xuân thua nặng và đại binh của Lưu Phương kéo đến Long Biên. Lý Phật Tử đã chia quân ra 3 nơi: Phong Châu ở phía tây, Long Biên ở giữa và Cổ Loa ở phía đông để phòng ngự nhưng vẫn không yên lòng. Lưu Phương lấy họa phúc thiệt hơn phân tích, Lý Phật Tử chưa cho đơn vị nào xuất quân đã qui hàng. Ông bị đưa về Tàu và chết trong thầm lặng. Nước Vạn Xuân mất tên, nhà Tùy đặt lại là quận Giao Châu. Họ chia quận Giao Châu thành 9 huyện và đặt quận trị tại huyện Tống Bình, địa danh nầy một phần trùng với Phong Khê cũ. Vạn Xuân, Long Biên cũng giống như Luy Lâu trước xưa chỉ còn là kỉ niệm. Nhà Tùy cai trị dân Việt trong 16 năm từ năm 602 đến năm 618 thì nhà Đường cướp ngôi Tùy. Trong thời gian ngắn ngủi nầy các vua Tùy không để lại dấu ấn tàn ác nào. Tuy nhiên nó là mốc khởi đầu cho thời kỳ mà sử gọi là bắc thuộc lần thứ 3. Đó là lúc dân Việt mất nước Vạn Xuân năm 602.

Vị nước vị quân dòng Lạc tướng
Biết bài binh từ thuở thiếu niên
Một thời Nam Đế quen tôi luyện
Quang Phục trên vai một lời nguyền

Quân tướng ra đi về Dạ Trạch
Thấy đầm xưa mà nhớ Tiên Dung
Nhớ chàng Đồng Tử đêm mưa gió
Bỏ hết nhân gian, bỏ vua Hùng

Đầm Dạ Trạch cây xanh xanh ngắt
Cỏ non cao lay mặt sình lầy
Ai đi trong nước đi trong lá
Có thấy đường xa có thấy mây

Chiếc thuyền độc mộc đi trên cỏ
Chở ắp hồn xanh chở nắng về
Chở người du kích phương Nam ấy
Mang giáo gươm về lấy lại quê

Đầu xanh ai biết ai quân tướng
Chỉ biết mang mang tiếng gọi mời
Rằng quân quang phục từ Nam Đế
Về đánh quân thù khắp nơi nơi

Thuở ấy bắc phương nhiều biến động
Loạn thần Hầu Cảnh sém đoạt ngôi
Bắt giam Vũ Đế, thao Văn Đế
Trần Bá Tiên được gọi triệu hồi

Binh quyền trao lại cho phó soái
Dương Sàn giao động tướng binh chao
Trong cùng năm ấy Nam Đế mất
Quang Phục xưng vương Triệu Việt trào

Dạ Trạch đoàn quân vai sát vai
Giáo gươm quyết chí vạn dặm dài
Quân Nam thắp tạ hồn sông núi
Buổi ấy thu về trong nắng mai

Dương Sàn tử trận trên chiến địa
Long Biên mừng hội giữa mùa thu
Sơn hà độc lập từ thu ấy
Mà tiếc không lâu phải hận thù

Ngược dòng chinh chiến thời gian trước
Kể từ Điền Triệt mất sông Lô
Tưởng rằng Thiên Bảo không còn nữa
Mà đã xuôi nam dựng cơ đồ

Lao đao một thuở cùng Phật Tử
Về đến phương nam đất Cửu Chân
Gom binh mà diệt châu quan xứ
Giết tướng nhà Lương, thứ sử Trần

Bá Tiên hay được xua quân đuổi
Thiên Bảo cùng đường chạy Ai Lao
Dã Năng biên địa Đào Giang xứ
Ở đó bên sông mộng cơ đồ

Lần hồi quân tướng càng thêm mạnh
Cát cứ một vùng không tương tranh
Quang Phục, Dạ đầm đang kháng chiến
Ở đây non nước vẫn yên lành

Quốc hiệu Dã Năng mang tên đất
Thiên Bảo không còn, Phật Tử thay
Ai ngờ có lúc còn về xứ
Cùng với Triệu Vương luận chiến này

Mười một năm sau mới trùng phùng
Nỡ nào quên được mối thù chung
Nỡ nào quên được thời Nam Đế
Mà để non sông phụ anh hùng

Lý Phật Tử xuôi đông gây hấn
Triệu Việt Vương dừng bước hơn thua
Năm lần đụng trận năm lần thắng
Chiến địa mang mang ngọn gió lùa*

Một lần Phật Tử xin hòa giải
Triệu Vương thành ý bỏ binh đao
Cùng nguồn quân trước quân sau ấy
Mà cứ thù nhau có lẽ nào?

Nghĩa tình họ Lý thời Nam Đế
Nhượng đất Quân Thần bãi phân ranh
Đôi bên lân quốc không xâm lấn
Ai bỗng lừa ai để chiếm thành

Bao năm đất nước bình yên lắm
Ai nỡ gây chi một vết hằn
Sử xanh còn đó trêu tên tuổi
Phụ tình lấy nước được gì chăng

Cớ sao lặp lại tình xưa cũ
Giá mất Cổ Loa lại chẳng tường
Tình chi gây nợ đau hồn nước
Biển sóng bao giờ hết nhớ thương

Lời khuyên Trương Hống còn y đó
Sao đã không tin để hận này
Trách chi con gái thơ ngây quá
Mà trách nhân tình lắm đổi thay

Phật Tử kéo dài vua Tiền Lý
Ba mươi năm một chuỗi thịnh suy
Đến khi phương bắc thời thống nhất
Xứ sở Giang Đông đã thuộc Tùy

Tùy vương nghĩ tới Giao Châu cũ
Nay nước Vạn Xuân mặc thế nào
Mang quân qua đánh triều Lý Đế
Quần thần Phật Tử sẽ ra sao?

Nước lớn đã đành âu phương bắc
Trời Nam hồ dễ chẳng quân binh?
Ba mươi năm không được ngư kình
Chí ít cũng sa trường với địch

Mới một trận Đô Lương xa lắc
Thua Lưu Phương hà cớ không yên
Ai đem hoạ phúc ra cân lượng
Mà vội quên đi tự chủ quyền

Mùa xuân đã mất theo chân giặc
Để lại dân tôi một vết chàm
Lý Đế qui hàng theo phương Bắc
Tùy Vương đô hộ đất trời Nam

____________________________

    *Hình ảnh Triệu Quang Phục đứng lại nhìn Lý Phật Tử rút chạy mà không truy đuổi ở sa trường là hình ảnh đẹp. Theo ĐVSKTT thì 5 lần đều như vậy. Ông đứng nhìn gió bụi tung bay, chắc trong lòng ông đương nghĩ đến Lý Nam Đế, nghĩ đến thời kỳ gian khó ở Thái Bình, Long Biên, Tân Xương rồi Điển Triệt. Ông không tiêu diệt Lý Phật Tử vì  ân tình với  Nam Đế Lý Bôn, vì không muốn đất nước phải chiến tranh, vì tình bạn với một người đã từng chiến đấu trong gian khó. Đó là tính nhân bản, cao thượng của nhà quân sự, tuy nhiên đó là một điểm yếu của một nhà chính trị. Giá như ông làm khác đi chưa chắc nước ta lại nô lệ nhà Tùy.


<<  |  >>