Skip to content

Chương năm

LÝ NAM ĐẾ
VÀ NHỮNG CUỘC CHIA LY

(541- 547)

      Khi bà Triệu tuẫn tiết ở núi Tùng vào cuối năm 248 thì lực lượng khởi nghĩa hoàn toàn bị dập tắt. Dân chúng Giao Châu vẫn miệt mài trong nô lệ, dù ở nước Tàu đang ngập trong chiến tranh. Sau một thời gian đẫm máu với Lưu Bị, năm 264 Tào Ngụy diệt Thục Hán. Năm 265 quyền thần Tư Mã Chiêu cướp ngôi nhà Ngụy lập ra nhà Tấn. Năm 280 nhà Tấn diệt nhà Đông Ngô. Đó là kết thúc thời Tam Quốc, và nhà Tấn thu gom nước Tàu về một mối. Nhà Tấn của họ Tư Mã kéo dài 154 năm từ năm 280 đến năm 420 thì mất ngôi, và miền đất mênh mông nầy lại chia làm hai trong một thời gian dài. Đó là thời  Nam Bắc Triều.

      Không nói tới Bắc Triều, chúng ta chỉ lượt qua Nam Triều vì những triều đại nầy mới trực tiếp đô hộ Giao Châu. Năm 420 Lưu Dụ lập nhà Lưu Tống và Lưu Tống kéo dài gần 60 năm. Đến năm 479 Tiêu Đạo Thành là một quyền thần, ép vua Lưu Thuận Đế nhường ngôi cho mình lập nhà Nam Tề. Trong thời Lưu Tống và Nam Tề nầy, ở Giao Châu có một cuộc nổi dậy của Lý Trường Nhân. Ông chỉ giành được quyền thứ sử và sau đó người em là Lý Thúc Hiến tiếp tục duy trì cả thảy 17 năm từ năm 468. Nam Tề kéo dài 23 năm, đến năm 502 Tiêu Diễn cướp ngôi Nam Tề Hòa Đế. Tiêu Diễn lập ra nhà Lương và xưng vương tức Lương Vũ Đế. Nhà Lương hay Nam Lương kéo dài từ năm 502 đến năm 587. Trong giai đoạn nhà Lương, ở Giao Châu có một người Việt tên Lý Bí đứng lên khởi nghĩa.

      Lý Bí hay Lý Bôn là quan quân giám của chính quyền đô hộ nhà Lương ở thành Long Biên. Long Biên là châu trị của Giao Châu đã dời từ Luy Lâu qua, cả hai địa danh nầy đều nằn trên bờ sông Dâu (một chi lưu quanh co của sông Cầu, đi ngang qua sông Đuống và đổ về sông Hồng, phần lớn nằm trong tỉnh Bắc Ninh). Lúc bấy giờ có quan thứ sử Giao Châu là Tiêu Tư rất độc ác. Dân chúng thành Long Biên bị hà hiếp dã man mà quan quân giám Lý Bí không thể bênh vực được. Ông bỏ về quê ở Thái Bình (tên một làng xưa thuộc Sơn Tây) để chiêu tập nghĩa sĩ. Rất nhanh ông đã có một đội quân hùng hậu với các tướng: Lý Thiên Bảo, Lý Phật Tử, Triệu Túc, Triệu Quang Phục, Tinh Thiều và Phạm Tu. Quân của Lý Bí ồ ạt từ Thái Bình vượt qua sông Hồng, tiến chiếm cổ thành Luy Lâu tiến về thủ phủ Long Biên. Quân khởi nghĩa chưa đến nơi thì thứ sử Tiêu Tư đã bỏ chạy. Đó là những ngày cuối đông năm 541. Và, đó lần đầu tiên dân chúng được ăn một cái tết không có quân thù trên một nửa đất nước sau cả mấy trăm năm. Một nửa phía nam thuộc Cửu Chân và Nhật Nam, quân nhà Lương vẫn cầm cự. Thái thú Cửu Chân lúc bấy giờ là Trần Hầu cố thủ đến mùa hè năm sau mới chịu phục.

      Khi quân khởi nghĩa giành lại toàn bộ Giao Châu vào tháng 8 năm 542, thì chưa tới một năm sau có biến. Tháng 4 năm 543, Lương Vũ Đế sai Tôn Quýnh là tướng Giang Đông nhậm chức thứ sử Giao Châu và mang quân chinh phạt họ Lý. Lý Bí hay tin, không đợi quân nhà Lương tiến về Long Biên. Hai mươi ngàn quân của Tôn Quýnh đã bị chận đánh ở sông Kỳ Cùng biên giới miền đông bắc. Mặt trận nầy Lý Bí quyết thắng, nên giao cho người anh ruột Thiên Bảo một lực lượng hùng hậu gồm hai vạn quân. Các tướng đi theo có Triệu Túc, Tinh Thiều và Triệu Quang Phục. Quân nhà Lương bất ngờ bị phục kích, nhưng quân số đông hơn quân Giao Châu nên không đi đến thất bại. Hai bên chiến đấu dai dẳng.

      Chiến trường mặt bắc chưa yên thì hay tin mặt nam có loạn. Vua của nước Lâm Ấp (tức Hồ Tôn xưa) lúc bấy giờ là Luật Đa La Bật Ma cất quân tấn công Nhật Nam. Nhật Nam có một thời là lãnh thổ của Hồ Tôn đã bị nhà Hán cướp mất sát nhập vào Giao Chỉ. Đòi lại lãnh thổ của tổ quốc là lý do làm cho quân Lâm Ấp chiến đấu hăng say đến độ liều lĩnh. Trước tình thế hai đầu đất nước đều thọ địch, lão tướng Phạm Tu xung phong ra mặt trận phía nam. Dù đã 67 tuổi nhưng Phạm Tu vẫn cường tráng và tinh thông binh pháp nên Lý Bí yên lòng. Với một vạn quân ra đi vào những ngày đầu tháng 6 năm 543 và hơn một tháng sau mang tin chiến thắng trở về. Binh lính của Phạm Tu hầu như không hao hụt. Trong khi ấy chiến trường mặt bắc vẫn tiếp diễn. Mãi đến mùa đông quân của tướng Thiên Bảo mới đánh bật được quân của Tôn Quýnh chạy về Tàu. Qua những trận chiến ở biên giới bắc nầy, Lý Bí phát hiện một tài năng trẻ đầy hứa hẹn: Triệu Quang Phục.

      Trước sau hai mặt nam bắc đều thắng lợi. Một đại hội tướng sĩ nhóm họp ở Long Biên vào cuối năm 543, và tháng giêng năm 544 Lý Bí tuyên bố đất nước độc lập. Không tính thời Hùng Vương, thời An Dương vương, thời Triệu Đà, thì đây là lần thứ hai người Việt có một nước độc lập sau thời Hai Bà Trưng. Nơi nơi đều vui mừng, toàn dân quân suy tôn Lý Bí làm vua, và ông xưng hiệu là Lý Nam Đế. Nếu 500 năm trước không thấy quốc hiệu của hai bà Trưng, thì 500 sau vua họ Lý đặt tên nước là Vạn Xuân. Ông chọn Long Biên làm thủ đô. (Thành Long Biên không rõ được xây lúc nào, nhưng khi lý Bí làm quan quân giám thì đã có thành  nầy rồi. Một điều chúng ta có thể đọc được là trong thời Sĩ Nhiếp làm thứ sử từ năm 187 đến năm 226, thì Luy Lâu còn là thủ đô của Giao Châu. Đó là thời cực thịnh của văn hóa Hán được Sĩ Nhiếp khéo léo dung hòa mà được gọi là  “văn hóa Luy Lâu”. Sau đó, hơn 300 năm người ta bận rộn chiến tranh Tam Quốc và Nam Bắc triều của nước Tàu không ai để ý đến các chi tiết ở Giao Châu. Chưa ai rõ tại sao và khi nào đã dời châu trị Giao Châu từ Luy Lâu qua Long Biên. Có lẽ do trong thời gian dài ấy có sự bồi lở của sông Dâu khiến cho Long Biên thuận tiện hơn Luy Lâu.)

      Long Biên củng cố chưa xong, thì bị nhà Lương đưa quân tấn công. Cuối tháng 6 năm 544, Lương Vũ Đế sai tư mã tướng quân Trần Bá Tiên mang 50 ngàn quân ồ ạt tràn qua biên giới. Đây là quân số quá lớn đối với nhà Tiền Lý còn non nớt lúc bấy giờ. Mọi đơn vị địa phương từ biên giới đến bắc sông Cầu đều tan rã. Trong thế chẻ tre, Trần Bá Tiên tiến sát Long Biên. Tình hình đã sớm đặt Lý Nam Đế trở thành thế thủ.  Ngoài các đạo quân trấn giữ miền tây bắc và miền nam, tất cả các lực lượng còn lại rút về thủ đô. Long Biên đã nâng quân số lên tới gần 25 ngàn quân để lấy một chọi hai với quân Lương. Những chạm trán lẻ tẻ ở ngoại thành cho biết lực lượng hai bên đã thật sự chênh lệch. Hơn thế nữa, một điều Lý Nam Đế lo ngại đang xảy ra: Quân nhà Lương tăng viện. Quả vậy, Lương Vũ Đế sai Dương Phiêu qua nhậm chức thứ sử Giao Châu và mang theo 15 ngàn quân đặt dưới quyền điều khiển của Trần Bá Tiên. Họ Trần là danh tướng nhà Lương, với quân số hùng hậu hơn, ông ta vây thành Long Biên.

      Ba mặt đông, nam và bắc của thành vốn có tường cao kiên cố từ các thời trước. Đến thời Tiêu Tư không gia cố gì thêm, nhưng cũng khó tiến quân từ ngoài vào. Mặt tây còn lại là con sông Dâu vắt ngang như một hào lũy thiên nhiên ưu đãi. Thông thường nước sông Dâu sẽ cạn dần vào cuối mùa hè vì ảnh hưởng của sông Cầu và sông Đuống. Yếu tố thời tiết ấy đã đưa Lý Nam Đế và Trần Bá Tiên gặp nhau ở chỗ liều lĩnh: Đánh nhau trên sông Dâu. Một cuộc chiến đấu đẫm máu bên làn nước thấp giữa lòng sông. Ý niệm cầu sinh đã làm quân Lý chiến đấu không biết mỏi mệt. Bây giờ thì Lý Nam Đế và Trần Bá Tiên mới thấy được tài nghệ của nhau. Nhưng, rất tiếc họ gặp nhau ở chiến trường. Bên cạnh đó người tướng trẻ Triệu Quang Phục cũng làm Trần Bá Tiên nể vì. Họ Triệu đã giết Dương Phiêu ngay bên hông mình mà Trần Bá Tiên không cứu kịp. Máu trên sông lai láng đến nỗi như mặt nước đã dâng  lên. Thấy quân Lý liều mạng cố thoát ra, Trần Bá Tiên dồn hết lực lượng về mặt tây nầy. Cuộc chiến nghiêng lệch thấy rõ. Bây giờ thực sự quân nhà Lý phải lấy một chọi ba. Sự cố gắng chỉ giúp hơn một nửa quân Lý chạy khỏi bờ tây. Số phận còn lại đã hy sinh dưới làn nước cạn trong đó có tướng Tinh Thiều.

      Quân của Lý Nam Đế rút lui được đến núi Thất Diệu, và quân số chỉ còn chưa tới mười lăm ngàn người. Nhà vua tiếp tục mang quân về hướng tây. Họ di chuyển qua dải cát Quân Thần, qua thành Ô Diên ở Vĩnh Phúc. Con đường đầy cam go, và họ tiếp tục di chuyển. Qua một tuần trăng, Lý Nam Đế dừng quân ở Gia Ninh, Vĩnh Lạc bên dòng sông Lô. Địa thế ở đây có thể thuận tiện cho việc phòng thủ và nuôi sống. Các tướng lãnh và vua Lý quyết định lập căn cứ. Thời tiết bây giờ đã cuối mùa hạ. Người ta bắt tay vào việc gieo trồng và phòng thủ. Hình ảnh một đạo quân hùng mạnh trở lại, đang nhen nhúm bên dòng chảy phù sa tây bắc. Nhưng, hy vọng đó không thành. Đầu tháng giêng năm 545 Trần Bá Tiên mang quân tấn công. Một cuộc chiến đấu sống còn lại xảy ra.

      Với một quân số áp đảo, quân nhà Lương đã giành chiến thắng sau hai ngày. Hai lão tướng Phạm Tu và Triệu Túc đã hi sinh cùng với hơn bảy ngàn binh sĩ. Còn lại chưa tới năm ngàn quân lành lặn và thương tích, nhà vua họ Lý tiếp tục lưu trú qua nhiều nơi. Điểm cuối cùng họ dừng chân ở Tân Xương, nơi mà dân bản địa thưa thớt được gọi là người Lạo. Đó là triền tây nam của dãy Tam Đảo. Lúc nầy trời đang giữa mùa hạ, còn kịp để gieo trồng những hoa màu phụ. Người Lạo đã cho họ đất để tự canh tác. Người ta xăm lổ trên những mảnh đất nhỏ có những tảng đá màu bạc để trồng bắp và trồng bí đỏ. Người lính đã trở thành nông dân miền núi. Khi những gánh hoa màu đầu tiên được mang về trại thì rừng lá Tân Xương đã vàng sẫm. Mùa thu đã về. Nỗi u hoài của một vị đế vương và lòng phục hận của một chiến sĩ đã khiến Lý Nam Đế quyết định ra đi. Họ quay lại hướng nam. Họ tới hồ Điển Triệt. Đó là những ngày đầu mùa hè năm 546.

      Hồ Điển Triệt là một địa điểm thuận lợi để phòng thủ và đánh du kích ở huyện Tứ Yên, Vĩnh Phúc. Nó nối với sông Lô bằng con rạch ngắn, đã được nhà vua cho người dò tìm từ lúc còn ở Tân Xương. Hồ có 4 nhánh dài ngắn khác nhau như một thân cây xương rồng nằm ngang trên mặt đất. Tổng diện tích mặt hồ có tới hơn trăm mẫu đất. Xung quanh hồ hầu hết là lau sậy sình lầy, nhưng trong lòng hồ lại có những cù lao lớn mà có nơi như một ngọn đồi thấp. Người ta đã gieo hạt sau khi phát quang ở những ngày đầu mới đến. Lúa và đậu đã trổ mầm, cá và tôm đầy dẫy như có thể nhúng tay xuống nước là lấy lên được. Thiên nhiên ấy dễ dàng nuôi sống đạo quân nhà Lý, mà đương thời chưa đến số ngàn. Ngoài số người chết ở Long Biên và Gia Ninh, số người tự ý bỏ đi cũng rất nhiều. Đó là niềm đau của Lý Nam Đế nhưng ông chỉ mang trong lòng. Ông dặn Thiên Bảo, Phật Tử và Quang Phục làm lơ cho những người có ý ra đi. Lý Nam Đế quyết tâm xây dựng Điền Triệt thành một cứ địa vững chắc.

      Rất tiếc cái quyết tâm ấy không được kéo dài. Tin quân kháng chiến Giao Châu ở Điền Triệt đã về tới Long Biên. Trần Bá Tiên quyết định tấn công. Ông ta thân chinh dẫn quân đi. Đầu tháng 8 năm 546, ba ngàn quân Lương đã dày đặt ở mặt tây hồ Điền Triệt bên dòng sông Lô. Chúng mang thuyền lớn và máy bắn đá nhưng đều vô ích. Quân Lý rút sâu vào trong, và không hề sợ thiếu lương thực. Ngô khoai đã có củ, lúa đã ươm vàng. Người ta vẫn đóng thuyền, phơi cá, vót tên và hái trái chà là như không có gì xảy ra. Quân Trần Bá Tiên đã nhiều ngày thử tiến quân vào bên trong nhưng đều thất bại. Cũng có những thuyền quân liều lĩnh bơi đến hồ, nhưng chỉ là mục tiêu của những toán xạ tiễn. Vô kế khả thi. Đã nằm bên bờ sông Lô qua một tuần trăng, và đã có ý định trở về. Nhưng trời đã chìu lòng kẻ xâm lăng.

       Một ngày đầu tháng 8 năm bính dần, tức cuối tháng 9 năm 546, trời nổi cơn sấm sét dữ dội. Nhiều trận mưa như thác từ trên cao đổ xuống. Nó kéo dài suốt nhiều ngày đêm. Nước dâng lên cao chưa từng thấy. Thông thường mưa lớn vào tháng 9 tháng 10 âm lịch hằng năm, nhưng năm nay là một điều rất lạ. Mưa quá sớm. Những ngày tạnh ráo hôm sau nước sông Lô vàng sủng màu đất dưới ánh mặt trời. Con kinh phía tây Điền Triệt cũng một màu vàng như thế. Nó rộng thênh thang. Lợi dụng nước chưa kịp rút, Trần Bá Tiên ra lịnh tấn công. Thuyền lớn của quân Lương từ cửa sông Lô tiến vào. Cuộc chiến đấu không cân sức giữa thuyền nan và thuyền gỗ, giữa một người phải cầm cự đến 10 người. Quân Nam rút lên những đồi thấp, quân của họ Trần tiếp tục bao vây ở dưới. Lương thực trở thành thứ tất yếu, mà quân nhà Lý không còn. Lúa, khoai chưa đủ thời gian thu hoạch đang ngập ủng dưới chân mình. Sợ rằng sẽ đưa vào thế bí, vua Lý hội các tướng tìm phương cách tốt nhất. Quyết định sau cùng là trở lại Tân Xương, quân Nam muốn trở về nơi đã bỏ đi. Họ mở đường máu. Dĩ nhiên chấp nhận tổn thất không thể chọn lựa. Từng toán quân kháng chiến chết la liệt, những ai còn sống đều thất tán, không biết còn ai trở lại được Tân Xương. Lý Thiên Bảo và Lý Phật Tử mỗi người chạy mỗi nơi. Triệu Quang Phục cứu chủ tướng vừa bị thương hai mắt thoát khỏi vòng vây. Không biết qua bao nhiêu ngày, qua bao nhiêu nơi, Triệu Quang Phục đưa được Lý Nam Đế và một số tàn binh về động Khuất Lão, bên bờ hữu ngạn sông Hồng. Tại đây đôi mắt của vị quân vương họ Lý trở thành mù.

      Một năm sau, nhà vua quyết định tự mình và một ít gia thần ở lại Khuất Lão. Ông buộc Triệu Quang Phục phải ra đi để tiếp nối con đường kháng chiến. Họ ngậm ngùi chia tay, đó là buổi chia ly cuối cùng vào một ngày thu năm 547. Họ không bao giờ gặp được nhau nữa. Lúc ấy Lý Nam Đế 45 tuổi, và Triệu Quang Phục 24.

Phải chảy bao nhiêu nguồn ngấn lệ
Để mừng non nước một ngày vui
Bao giờ cho tới thời Nam Đế
Để dậy tin vui một nụ cười

Một ngày nô lệ một ngày nhục
Hồ dễ trăm năm gọi phù vân
Từ Ngô, Tấn , Tống, Nam Tề ấy
Khởi nghĩa Trường Nhân chỉ một lần

Mười lăm năm lẻ mong tự trị
Một sớm không yên phải đầu hàng
Trường Nhân, Thúc Hiến như chút lửa
Đưa gió bay về ấm giang san

Bấy giờ đất bắc, Tề Hòa đế
Diệt vong. Tiêu Diễn mở triều Lương
Đặt quan thứ sử tên Tiêu Tứ
Áp bức dân Nam đến cùng đường

Có người quân giám tên Lý Bí
Từ bỏ Lương quyền trở lại quê
Thái Bình thuở trước là đâu tá
Phải đất Sơn Tây, Lý trở về?

Tiếng vọng quê nghèo vọng tiếng vang
Ai đi khởi nghĩa với gió ngàn
Họ Triệu Chu Diên đôi phụ tử
Thái Bình, Thiên Bảo cũng gian nan

Tinh Thiều ra sức khuông phò sớm
Một bậc nho sinh có thực tài
Phạm Tu trí lực thông binh pháp
Cùng chung giúp Lý sẻ đôi vai

Một mùa đông tới ngày đông ấy
Quân tiến Thái Bình tiến Long Biên
Nước non chờ đón ngày độc lập
Tiếng vọng vang vang khắp xứ miền

Quân đi chưa tới quân thành giặc
Mà tiếng trời nam dậy tướng tài
Giặc thù bỏ chạy về phương bắc
Một sớm mùa xuân mai trắng mai

Long Biên thành phủ mừng Lý Bí
Non nước mừng xuân nửa Giao Châu
Nửa kia còn lại trong tay giặc
Tướng nhà Lương thái thú Trần Hầu

Một ngày cháy nắng trên đồi thấp
Thắng trận miền nam bên bến sông
Tình hình vừa định chưa yên ổn
Mà đã sang đông nhuộm máu hồng

Trông phương bắc nhà Lương khởi chiến
Dẫn binh hùng Tôn Quýnh nam chinh
Kỳ Cùng cứ ngỡ là yên tĩnh
Mà sóng quân Nam bỗng thình lình

Điều quân, Triệu Túc ra biên bắc
Quang Phục theo cha chức tiên phong
Tinh Thiều phụ trợ, quyền Thiên Bảo
Quân tướng ra đi thác chảy dòng

Lý Bí chưa yên lòng biên bắc
Mà biên nam đã dậy đao binh
Lão tướng nào đây người họ Phạm
Tóc pha sương dám hẹn thái bình

Lưỡng đầu quân giặc đầy khí thế
Mà thế quân ta vẫn phủ đầu
Quân Lương bại trận thu về bắc
Lâm Ấp cầu hòa bỏ Ái Châu

Non nước đã qua mùa khói lửa
Dân quân tôn Lý Bí lên ngôi
Vạn Xuân quốc hiệu từ xuân ấy
Thủ phủ Long Biên nắng dậy rồi

Nắng mùa xuân nhẹ gió bay
Vạn Xuân mơ những vạn xuân này
Thiên thu là ước không là có
Chỉ một mùa xuân ai có hay!

Mùa hạ năm sau quân thù đến
Đọ mặt quân Nam mất tướng tài
Sông Dâu mờ mịt chiều sương khói
Nợ nước ai người bỏ xuống vai

Ai đã chết ai đi ai ở
Thành Long Biên tới lúc lung lay
Tràn tràn quân địch đông vô kể
Có lẽ nào đâu thất trận này?

Tướng sĩ nghị bàn tung một phía
Đánh cho tan tác ở một bên
Tả quân Quang Phục danh tướng trẻ
Gặp mặt Dương Phiêu thế lưỡng bền

Nam Đế lược đồ quanh trận tuyến
Trần Bá Tiên cự phách nhà Lương
Nhường nhau đôi bước anh hùng khí
Mà tiếc so gươm tại chiến trường

Đường cùng thế giặc bỏ Long Biên
Ra đi ôm ấp một lời nguyền
Sông Lô nước chảy mờ nhân ảnh
Đường về trở lại những truân chuyên

Con nước xa khơi cứ chập chồng
Gia Ninh không giữ được non sông
Một chiều mây nước như yên tỉnh
Mà máu ai rơi giữa máu hồng

Phạm Tu, Triệu Túc đồng tử trận
Nghe nặng lòng ai máu chảy tràn
Thu hết tàn quân về đất Lạo
Ở tuốt Tân Xương dặm quan san

Thời gian đâu dễ quên niềm cũ
Quân tướng còn ai ở chốn nầy
Bào huynh Thiên Bảo đang thương tích
Tả quân Quang Phục gánh đông tây

Một năm. Ừ nhỉ. Một năm nhỉ
Tái lập quân binh sẽ trở về
Nam Đế nguyện lòng nơi biên địa
Tụ quân mà cứu lấy hồn quê

Mùa thu rừng lá rơi về cội
Tân Xương vàng sẫm những chiều hoang
Một năm nguyện ước chưa tròn đủ
Mà đủ quân tâm tiếng gọi đàn

Trở về sông nước bến sông Lô
Thuyền ai thấp thoáng bóng nguyệt hồ
Điển Triệt xanh xanh lùa gợn sóng
Hỏi trời mây nước nước ra sao

Thủy trại dựng xây đường huyết mạch
Đường sông Lô, đường đến Tứ Yên
Thủy binh bốn mặt, ai bốn tướng
Thiên Bảo đông, Phật Tử tây biên

Quang Phục mặt nam vùng giặc phá
Thân chinh mặt bắc tự Nam Vương
Rừng lau sình đọng trêu quân địch
Công phá nơi nao cũng khó đường

Địch cứ phá, ta hồ không động
Nắng cứ lên trời hạ cứ trong
Một tuần trăng khuyết chùng quân địch
Điển Triệt yên yên mỗi mỗi lòng

Lòng tưởng thế mà trời bỗng ghét
Mưa bỗng rơi và nước cả bờ
Điển Triệt mênh mông tràn bóng nước
Chưa có bao giờ tự thủy sơ

Thuyền lớn quân thù xô nước vỡ
Thuyền con Điền Triệt hóa mong manh
Hai bên chiến đấu trên đầu sóng
Thế nước không cho dạ phải đành

Ngày ấy bình minh không dậy nữa
Tả quân Quang Phục cứu Lý vương
Nỗi sầu cứ chảy theo dòng nước
Mà rót tâm can khúc đoạn trường

Khuất Lão nơi nào đâu sử sách
Phải chăng Cổ Triệt, phải Văn Lang
Non sông mờ mịt chiều cô quạnh
Hỏi gió về đâu những gió ngàn

Lý vương còn lại bao tướng sĩ
Quân binh chịu khó biết bao nhiêu
Bào huynh, Phật Tử về đâu tá
Ngọn gió xa đưa ngọn gió chiều

Chí lớn không giam trong động nhỏ
Tài kinh bang há lụy nhân sinh
Lý vương ủy thác người trai trẻ
Gánh giang sơn mà định tình hình

Gian lao một thuở quân thần nghĩa
Thế nước không còn, tiễn biệt ly
Anh hùng bịn rịn ai sương điểm
Ai kẻ đầu xanh lặng bước đi!


<<  |  >>