Skip to content

Chương mười

NHÀ NGÔ VÀ DƯƠNG TAM KHA

(938-965)

 

      Sau chiến thắng Bạch Đằng cuối năm 938, Ngô Quyền được tôn lên làm vua. Sang mùa xuân kỷ hợi 939, ông  dời đô về Cổ Loa. Nguyên nhân việc di dời nầy vẫn còn là một dấu hỏi. Đại La đang là một thành trì kiên cố với chu vi hơn 6 cây số và nhiều lầu canh trên mặt thành. Nó nằm trên bờ nam sông Nhị Hà của một kinh thành Tống Bình phồn thịnh. Trong khi đó Cổ Loa nằm bên kia sông chỉ còn là một dấu tích sau cả ngàn năm điêu tàn. Phải chăng Ngô Vương muốn dựng lại một Cổ Loa để tìm hình ảnh độc lập của thời An Dương Vương? Hay là sợ lá bùa trấn yểm nào đó của Cao Biền? Hay là một thực tại có quá đông cư dân người Tàu tại phía nam Nhị Hà? Kể từ cuối đời Đường sang thời Ngũ Đại Thập Quốc, người Tàu di cư từ bắc xuống rất nhiều. Họ ra đi vì loạn lạc hoặc theo những gia đình của các quan đô hộ. Họ lập nên một giai cấp thế quyền ở kinh thành Tống Bình, mà Ngô Vương sợ rằng đó là thế lực cần phải đề phòng. Cả ba lý do đều không đủ sức thuyết phục tuyệt đối, nhưng chỉ sau một tháng, vừa qua cái tết kỷ hợi 939, Cổ Loa cũng trở lại thành thủ đô.

      Đến Cổ Loa, vua nhà Ngô lập người vợ đang chung sống lên làm hoàng hậu. Bà là con gái của Dương Diên Nghệ và là chị ruột của Dương Tam Kha. Ngô Vương và Dương hậu có một người con tên Ngô Xương Văn. Riêng ông đã có một người con với người vợ trước tên Ngô Xương Ngập. Không thấy ghi năm sinh của người con cả nầy, nhưng cậu ta đã từng theo cha tham chiến trận Bạch Đằng và được lập làm thái tử. Tuy xưng vương, nhưng Ngô Quyền vẫn giữ tên hiệu của đất nước mình là Tĩnh Hải quân để âm thầm nuôi dưỡng sức mạnh. Rất tiếc trên đà cải tổ thành một quốc gia độc lập*, thì đến mùa đông năm 944 Ngô Vương bị bệnh qua đời. Ông chỉ thọ 47 tuổi. Trước khi mất ông dặn dò người em vợ cũng là thuộc tướng Dương Tam Kha phù trợ thái tử Ngô Xương Ngập. Bên giường bịnh, Dương Tam Kha nghẹn ngào thương cảm người anh rể, và nhận lời.

      Sử không ghi bằng cách nào Dương Tam Kha đoạt ngôi nhà Ngô, chỉ biết vừa qua cái tết ất dậu năm 945 là Dương Bình vương năm thứ nhất. Đó là lúc thái tử Ngô Xương Ngập phải tìm cách bỏ trốn. Vua họ Dương đã nhiều lần truy đuổi nhưng không tìm ra gia đình gồm một vợ và một con của thái tử nầy. Gia đình thái tử Ngô Xương Ngập đã được một bộ tướng dưới thời Ngô Vương tìm cách che chở. Người ấy là lão tướng Phạm Chiêm ở Trà Hương, Nam Sách. Trước cảnh truy đuổi bức bách và nhân tình thế thái tranh đoạt ở chốn cung đình, vợ và con của thái tử  Xuơng Ngập xuất gia đầu Phật. Người con tên Ngô Xương Tỷ** có thể là Ngô Chân Lưu, thiền sư Khuông Việt thời nhà Đinh sau này. Riêng bản thân thái tử Xương Ngập được Phạm Chiêm gởi đi nhiều nơi để ẩn náu, đã nhiều lần lên trốn trên núi Hun Sơn. Sau đó ít lâu Phạm Chiêm gả con gái của mình cho thái tử. Họ có với nhau một người con tên Ngô Xương Xí.

      Trong khi đó thì ở Cổ Loa, Dương Bình vương không thay đổi mấy khác so với thời Ngô Vương. Vẫn có những cuộc nổi loạn nhỏ cần phải dẹp, vẫn có những vùng đất cần phải khai hoang. Ông cho khai khẩn vùng đất phía đông là Chương Dương và Cổ Lễ thành những miền đất mới. Bên cạnh những công việc có vẻ bên ngoài ấy, trong nội triều ông nhận Ngô Xương Văn làm con nuôi. Ông vốn chỉ có một người con gái còn rất nhỏ tên Dương Vân Nga, nên Ngô Xương Văn có nhiều phần được ông truyền ngôi. Nhưng tại sao ông cướp ngôi nhà Ngô, rồi lại muốn truyền ngôi lại nhà Ngô? Có phải ông hy sinh uy tín và đạo đức của mình để dành ngôi cho Xương Văn, đứa cháu gọi ông bằng cậu ruột thay vì Ngô Xương Ngập không có họ hàng gì với ông? Điều nầy được sự đồng tình và ủng hộ của người chị Dương hậu?

      Hay ông cướp ngôi nhà Ngô và không hề có ý truyền ngôi lại cho nhà Ngô. Việc nhận Ngô Xương Văn làm con nuôi chỉ là một toan tính giai đoạn? Ông nghĩ ngôi vua phải thuộc về ông? Năm 938, khi giết Kiều Công Tiễn ở Đại La thì đáng ra ông phải được tôn lên giữ chức tiết độ sứ. Ông là người ưu tiên thay cha mình là Dương Diên Nghệ, nhưng Ngô Quyền đã không làm như thế. Tình hình lúc bấy giờ dẫn đến chiến thắng Bạch Đằng, đã làm ông lu mờ trước tài năng của người anh rể Ngô Quyền. Ông ôm hận và chờ đợi? Bằng cách nào thì đến năm 950 cũng xảy ra biến.

      Lúc bấy giờ có loạn ở Thái Bình (Sơn Tây), Dương Bình vương sai người con nuôi Ngô Xương Văn và tướng Đỗ Cảnh Thạc mang quân đi dẹp. Nguyên loạn nầy từ những người không thần phục họ Dương sinh ra cát cứ ở hai thôn Đường và Nguyễn. Trên đường thảo phạt mới đến Từ Liêm, thì Ngô Xương Văn bàn với tướng quân thân tín họ Đỗ một điều rất hệ trọng. Theo đó hai người sẽ mang quân trở về đánh úp họ Dương lấy lại Ngô triều. Sau khi phủ dụ toàn quân, ai ai cũng hăng say trở về, trong lúc ấy thì Dương Bình vương không hề ngờ đến. Chỉ trong một thời khắc hừng đông ngắn ngủi thì quân trấn thủ Cổ Loa đầu hàng, Dương Bình vương bị bắt và lập tức bị phế truất ngôi vị. Mọi thứ đều lật ngược. Ngô Xương Văn nghĩ đến tình cậu cháu, tình cha con nuôi nên đã tha chết cho vị phế vương nầy. Ông bị buộc đi đến Chương Dương, nơi mà trước đó ông đã khai khẩn. Ở chỗ mới nầy ông được phong là Chương Dương công, có đất thực ấp và được tự do, tuy nhiên ông cũng biết rằng mình đang bị giám sát của quân đội nhà Ngô.

      Sau khi diệt họ Dương, Ngô Xương Văn lên ngôi xưng hiệu Nam Tấn vương. Ông cho người đi tìm người anh đã một thời là thái tử về cung. Ngô Xương Ngập đi về với người vợ sau và đứa con Ngô Xương Xí còn rất nhỏ. Với sự chuẩn thuận của Dương thái hậu, Ngô Xương Ngập được đồng vương vị với Nam Tấn vương. Ông xưng hiệu là Thiên Sách vương, và triều đại nhà Ngô sau Dương Tam Kha gọi là triều Hậu Ngô. Từ đây triều đại nầy trở nên yếu đi. Hai vị vua đều không có tài để duy trì một tình thế xấu chớm rạn nứt từ thời Dương Tam Kha. Mầm phản đối về việc họ Dương soán ngôi không bị mất đi, mà vẫn tiếp diễn như một điều nghịch lý: Phiến loạn Đường Nguyễn ở Thái Bình (Sơn Tây) mạnh hơn, cát cứ Trần Lãm ở Bố Hải khẩu càng lúc càng phát triển…, và đáng ngại nhất là Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư.

      Để trấn áp lực lượng họ Đinh, năm 951 Nam Tấn vương mang quân tấn công Hoa Lư. Dĩ nhiên là gậy gộc của các sách đội địa phương phải đầu hàng trước gươm giáo quân đội triều đình. Nam Tấn vương buộc Đinh Bộ Lĩnh giao đứa con trai duy nhất Đinh Liễn về Cổ Loa làm con tin, và phải tức thì rời khỏi nguyên quán của mình đến vùng cư trú chỉ định. Đinh Liễn lúc ấy mới 6 tuổi theo đoàn quân triều đình về kinh thành. Người cha Đinh Bộ Lĩnh 27 tuổi bị bắt buộc đến Thái Bình.

      Bốn năm sau, năm 955, Thiên Sách vương bị bệnh qua đời. Triều đình yên ổn hơn vì chỉ còn có một vua, lệnh lạc được thống nhất. Đất nước nhiều nơi được yên bình đến 10 năm. Bất ngờ, tháng 6 năm 965 thì phiến loạn Đường Nguyễn bỗng trở dậy. Chúng trở nên hung hãn và mạnh hơn trước rất nhiều. Đích thân Nam Tấn vương mang đại quân đi dẹp. Loạn tan, nhưng đổi lại nhà vua phải tử nạn trong một lần bị phục kích. Cái chết thình lình của Nam Tấn vương khi không có con trai thừa kế, làm triều đình nhà Ngô rối loạn.

      Lúc ấy Lã Xử Bình giữ quyền điều hành đất nước. Ông là người có học, giữ chức tham tri chính sự cho Nam Tấn vương. Ông nầy có tài được nhà vua trọng dụng, nhưng là vị tân quan so với các vị cựu trào. Họ Lã khó lòng điều động những võ tướng đã từng theo vương Ngô Quyền từ trước trận Bạch Đằng 938: Tướng Đỗ Cảnh Thạc đang là tướng quân trấn thủ hoàng thành Cổ Loa, và vùng phụ cận. Tướng Kiều Công Hãn cai quản Phong Châu, và lãnh thổ miền tây. Tướng Phạm Bạch Hổ ở châu Đằng, và lãnh thổ miền đông. Ngoài ba vị cựu trào nầy còn có Dương Huy ở Vũ Ninh cai quản xứ bắc. Trong 5 người họ thì Đỗ Cảnh Thạc ủng hộ hoàng tử Ngô Xương Xí lên làm vua. Phạm Bạch Hổ tuy là họ hàng bên ngoại của hoàng tử họ Ngô nầy, nhưng chưa sẵn sàng. Ba vị Lã, Dương và Kiều quyết giành lấy ngôi vị đế vương về phần mình. Cuộc tranh đoạt xảy ra, và Lã Xử Bình là người chết trước nhất. Ông nầy, tuy có chức vụ cao hơn cả, nhưng không có quân bản bộ bằng những người khác nên phải chịu số phận thảm hại trước tiên. Sang đến tháng thứ hai, sự tranh giành chỉ còn ba lực lượng. Phạm Bạch Hổ đã ủng hộ Đỗ Cảnh Thạc phò Ngô Xương Xí thành một lực lượng duy nhất. Họ lo giữ hoàng thành Cổ Loa khi hai đạo quân của Kiều Công Hãn và Dương Huy kéo về kinh thành. Ba bộ quân nầy không tương nhượng nhau, làm cho nhiều nơi tự ý chiêu quân cát cứ. Thành Tống Bình ở bên kia sông Nhị Hà, Sơn Tây, Tiên Du, Hồng Châu là những nơi đổ máu nhiều nhất. Đó là thời gian khởi đầu của 12 sứ quân.

Độc lập từ đây ở Đại La
Lan nhanh khắp xứ khắp sơn hà
Ngô Quyền dựng nghiệp ngôi vương bá
Lê thứ muôn dân khúc hoan ca

Xuân kỷ hợi dời đô chốn cũ (939)
Thành bên sông hoang phế Cổ Loa
Bên nay dấu ấn thời nô lệ
Bên kia sông dựng nước dựng nhà?

Những tưởng thế mà sao bỏ cuộc
Mấy xuân sau ai nhớ Ba Trăng
Nhớ miền Thượng Phúc thời xuân sắc
Khóc kẻ Đường Lâm biệt vĩnh hằng

Lâm sàng còn dặn người thân tín
Phò trợ hoàng nhi giữ nước nhà
Tam Kha em ruột Dương vương hậu
Binh biến Ngô triều mấy lệ sa

Ngô Vương mất ai người phụ bạc
Cướp binh quyền nối nghiệp xưng vương
Con đường rất ngắn lên ngôi vị
Ai biết là ai ở hậu trường?

Thái tử không còn ngôi vương báu
Chạy về Nam Sách ở Trà Hương
Phạm Chiêm che chở Ngô Xương Ngập
Ẩn núp Hun Sơn mấy đoạn trường

Tam Kha đoạt vị không máu lệ
Chỉ lệ trong lòng kẻ sa cơ
Triều thần yên ổn như vô sự
Ai biết cho ai giữa cuộc cờ

Dương Bình vương đà ngôi cửu ngũ
Nhận con nuôi lại chính con vua
Sau nầy đoạt lại vương triều cũ
Quyền vị công danh ngọn gió lùa

Thuở xưa nhà Lý phân ba đoạn
Nay đến triều Ngô cũng ba thôi
Tam Kha không giữ ngôi vua được
Đã bị Xương Văn lấy lại rồi

Xương Văn nhận lịnh đi phá giặc
Nửa đường nghĩ lại đúng hay chăng
Thù đâu ai gọi ai là giặc
Mà chính tim ta có vết hằn

Tiên vương di chí anh thái tử
Người cậu soán ngôi đoạt vị vương
Ngô, Dương hai họ không là một
Mang quân trở lại định chiến trường

Cổ Loa may mắn không loang máu
Mà tự lòng quân thuận ý trời
Nội thành sau trước buông gươm giáo
Non nước về Ngô non nước ơi

Xương Văn lập lại Ngô triều cũ
Nam Tấn vương là hiệu tự xưng
Mấy phần thay đổi Dương triều đổ
Lê thứ muôn dân lộ sắc mừng

Nam Tấn vương vốn người nhân đức
Tha Tam Kha cấp đất Chương Dương
Đón anh Xương Ngập còn bôn tẩu
Về lại Cổ Loa giữ nghiệp đường

Ngô Xương Ngập về Loa Thành cũ
Nhớ khi xưa thái tử nhà Ngô
Nhớ đường nội thị vương thành quách
Mà tưởng xa xăm ở chốn nào

Người anh cả nao nao trong dạ
Nam Tấn vương bèn lập hai vua
Bao giờ lịch sử là như thế
Mới nghe qua như thể chuyện đùa

Ngô Xương Ngập tới trình thái hậu
Dẫn thê nhi chỉ có người sau
Người vợ trước cùng con Xương Tỷ
Đã quy y đầu Phật tháng ngày

Thái hậu đón mừng cũng thấy vui
Làm sao ai hiểu được nụ cười
Nhớ ngày binh biến Ngô thái tử
Ai sợ Loa Thành loang máu tươi?

Cũng là giọt máu nguyên dòng chính
Thế sự an bài ý tiên vương
Chuẩn tâu Xương Ngập đồng vương vị
Riêng cõi lòng ai tự tỏ tường

Bốn năm sau mùa thu thứ nhất
Từ về thành Xương Ngập chết đi
Hoàng nam còn lại Ngô Xương Xí
Tuổi nhỏ thơ ngây chẳng biết gì

Nam Tấn vương trị vì thiên hạ
Lấy nhân tâm mà đắp sơn hà
Giữa thời tao loạn sinh cát cứ
Hậu Ngô vương cứ mãi sút sa

Mười năm tay lái chèo mệt mỏi
Tĩnh Hải quân trôi mãi ba đào
Gió giông không đến từ phương bắc
Mà tự trời nam tiếc biết bao

Nam Tấn vương nơi nào thọ tử
Triều Ngô Vương rối loạn không vua
Ai đưa Xương Xí lên kế vị
Để gió trôi đi kiếp gió lùa

Bấy giờ loạn lạc trên khắp xứ
Tự thủy xưa nay chẳng kịp bì
Cổ Loa tranh đoạt ngôi vương vị
Nào Xử Bình, Công Hãn, Dương Huy…

______________________________

     * Triều đại Ngô Quyền vương chỉ kéo dài 6 năm, từ năm 938 đến năm 944. So với các vị tiền bối từng xưng vương như Bà Trưng, Lý Bí, Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử, Mai Thúc Loan, thì Ngô Quyền may mắn hơn. Sau các vị tiền bối nêu trên là một thời nô lệ trở lại. Lúc Ngô Quyền xưng vương thì nước Tàu đang rơi vào thời kỳ tranh giành của Ngũ Đại Thập Quốc. Thạch Kính Đường của nhà Hậu Tấn là đương kim hoàng đế nước nầy cũng yếu đuối không đủ sức vươn tay ra xa. Ông ta không công nhận, nhưng cũng không phủ nhận việc Ngô Quyền xưng vương. Dù bị Dương Tam Kha cướp ngôi, dù anh em hậu Ngô không vựt dậy được sức mạnh, dù đất nước rơi vào loạn 12 sứ quân, nhưng Đại Việt (thực ra dưới thời nhà Ngô vẫn còn gọi là Tĩnh Hải quân) vẫn độc lập. Nền độc lập nầy kéo dài qua Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần và Hồ. Qua gần 500 năm như thế, nên khi nói đến độc lập người ta đồng ý rằng Ngô Quyền là người đầu tiên dựng nên nền độc lập.

     **Thiền Tuyển Tập Anh chịu chung số phận như các bộ sách Việt trong thời quân Minh xâm lăng. Nó được hòa thượng Thích Minh Trí trùng san năm 1715 dưới thời vua Lê Dụ Tông. Theo đó thì đại sư Khuông Việt được nói nhiều về đức độ và hành trạng khi đã trở thành tăng thống dưới thời nhà Đinh và Tiền Lê. Riêng về nguồn gốc chỉ vắn tắt: “Ông người hương Cát Lị, huyện Thường Lạc, họ Ngô tên Chân Lưu là hậu duệ của Ngô Thuận”, và chú giải Ngô Thuận là thụy hiệu của vua Ngô Quyền. Tuy nhiên, trong các sử cũ không có bộ sử nào nói thụy hiệu của vua Ngô Quyền là Ngô Thuận. Hơn nữa, sự chú giải nầy cũng nổi trôi theo số phận bộ sách từ nhà Lý đến nhà Lê trung hưng, nên chỉ tin được ở mức dè dặt. Do vậy, việc kết luận đại sư Khuông Việt chính là Ngô Xương Tỷ (theo tôi) chỉ là có thể mà thôi.


<<  |  >>