Skip to content

Chương mười sáu

NHÀ HỒ
(1400-1407)

 

      Năm 1399, cuộc chính biến Đốn Sơn của nhóm thượng tướng Trần Khát Chân thất bại. Hơn 370 người bị xử chết. Nỗi sợ hãi bao trùm. Nếu Lê Qúy Ly tự ý lên ngôi vua lúc nầy thì cũng không có ai dám phản đối, nhưng ông ta không làm như thế.  Đầu tháng giêng năm 1400, họ Lê cho thuộc hạ rỉ tai với những vương thân còn lại của nhà Trần tôn ông lên làm vua. Phải ba lần như thế Lê Qúy Ly mới nhận. Ngày 22 tháng 3 năm 1400, ông chính thức lên ngôi. Ông xưng hiệu Quốc tổ Chưong hoàng đế.

      Từ đây, ông công khai nguồn gốc họ Hồ của mình. Theo đó, tổ phụ Hồ Hưng Dật quê ở Triết Giang bên Tàu qua Việt Nam dưới thời Dương Bình vương Dương Tam Kha 944 – 950. Dù Việt Nam lúc ấy còn mang tên Tĩnh Hải quân, nhưng đã độc lập từ mươi năm trước đó dưới thời Ngô vương Ngô Quyền. Hồ Hưng Dật qua Việt Nam là một di dân chạy loạn trong thời gian chiến tranh Ngũ đại thập quốc giữa Hậu Tấn và Hậu Hán. Gia đình Hồ Hưng Dật định cư ở Diễn Châu, nhưng sau đó vì biến loạn phải di dời nhiều chỗ. Qua nhiều đời, con cháu tản mác để mưu sinh.  Hồ Liêm là cháu đời thứ 12 của Hồ Hưng Dật lang bạt ra Thanh Hoa lúc còn nhỏ. Ông đổi theo họ Lê của cha nuôi Lê Huấn, và từ đó có tên là Lê Liêm.  Hồ Qúy Ly là cháu 4 đời của Lê Liêm, và ông vẫn ở Thanh Hoa. Tuy nhiên trong hàng cụ cố của ông có một nhánh chạy ra Giáp Sơn (Bắc Giang). Nhánh nầy sinh ra Anh Tư nguyên phi và Sung Viên nguyên phi, vợ của vua Trần Minh Tông. Họ là vai cô họ của Hồ Qúy Ly.

      Khi chính thức lấy trở lại họ gốc, Hồ Qúy Ly tin rằng tổ tiên nhà Hồ là con cháu của Ngu Thuấn, thời thịnh trị thượng cổ bên Tàu. Ông đổi tên nước thành Đại Ngu, và đặt niên hiệu là Thánh Nguyên. Ông phế đứa cháu ngoại Trần Thiếu Đế thành Bảo Ninh đại vương, và cho về sống với mẹ. Cướp được giang sơn nhà Trần cũng đà thấm mệt. Lúc nầy Hồ Qúy Ly đã 64 tuổi, ông quyết định sửa soạn để nhường ngôi cho con. Tháng 3 năm 1401, tức sau 12 tháng làm vua, ông truyền ngôi cho người con thứ là Hồ Hán Thương. Vị vua trẻ tuổi nầy đặt niên hiệu Đại Khai, và phong người anh đáng ra giữ ngôi vị của mình làm Tả tướng quân. Người con cả Hồ Nguyên Trừng không phù hợp với chính trị, và không có chút dính líu đến họ Trần nên không được chọn.  Người con gái út Hồ Thánh Ngâu mang nỗi đau âm thầm trong vòng xoáy quyền lực mà bà không thể tách ra. Bà là hoàng thái hậu sau cùng, và là hoàng thái hậu trẻ tuổi nhất của nhà Trần. Bà lặng lẽ nuôi con trong nỗi lo sợ một điều bất tường. Không rõ số phận của bà và người con phế đế lưu lạc về đâu trong thời chiến tranh sau đó. Trong triều đại Hồ Hán Thương, người ta thấy hai nhân vật mới toanh giữ hai chức vụ quan trọng. Hồ Qúy Ty là chú của nhà vua giữ chức Hữu tướng quân. Một người thân cận trong gia tộc khác là Hồ Đỗ giữ chức tham văn triều chính. Hai vị đại quan nầy không có gì nổi bậc, nhưng họ chia sẻ bớt quyền hạn của những người thân tín từ trước. Phạm Cự Luận và Nguyễn Cẩn vẫn giữ khu mật viện, nhưng dần dần trở thành hai bóng mờ.

      Trong lúc Đại Việt sang trang thành Đại Ngu, thì ở bên Tàu cũng có những chuyển biến để dẫn đến chiến tranh giữa hai nước. Nhớ lại Chu Nguyên Chương đánh bại các đối thủ phương nam và đánh ra bắc năm 1368 và thành lập nhà Minh. Chu Nguyên Chương tức Minh Thái Tổ chọn Kim Lăng (Nam Kinh) làm thủ đô. Ông cho các con thứ làm phiên trấn vương các vùng, và lập con trưởng Chu Tiêu làm thái tử. Chu Tiêu chết trước vua cha, nên ngôi vua được truyền cho cháu nội là Chu Doãn Văn tức Minh Huệ Đế. Đó là năm 1398, khi Minh Thái Tổ chết. Minh Huệ Đế sợ rằng các phiên trấn vương làm loạn, nên phế bỏ hoặc tiêu diệt. Người chú giữ trấn bắc gồm cả Đại Đô (Bắc Kinh) là Yên vương Chu Lệ biết thâm ý của đứa cháu, nên ra tay trước. Chiến tranh xảy ra giữa triều đình Minh Huệ Đế và Chu Lệ gần 4 năm. Tháng 7 năm 1402,  Chu Lệ mang quân tấn công thủ đô Nam Kinh. Chiến cuộc thành đô đầy khói lửa, và Minh Huệ Đế thất bại bị chết cháy trong kinh thành. Chu Lệ lên ngôi tức Minh Thành Tổ, và ông đặt niên hiệu là Vĩnh Lạc. Vị vua thứ 3 của triều nhà Minh nầy đã nhiều lần muốn chiếm Đại Ngu, nhưng chưa có cớ nên vẫn chờ.

      Trong khi đó, vua Đại Ngu Hồ Hán Thương tấn công Chiêm Thành. Ai cũng biết đó là quyết định của thượng hoàng Hồ Qúy Ly. Nhớ lại: thời thịnh trị của Chế Bồng Nga, vị Chiêm vương nầy luôn luôn là tảng đá đè lên lưng họ Hồ. Khi Chế Bồng Nga chết ở trận Đại Hoàng năm 1390 không những áp lực ấy không còn, mà Hồ Qúy Ly còn muốn mở mang bờ cõi. Tháng 12 năm 1400, một cuộc nam tiến được thực hiện. Lúc này vua Chiêm La Ngai đã chết, con là Ba Đích Lại lên thay. Mười lăm ngàn quân nhà Hồ tiến theo hai đường thủy bộ, nhưng không thành công. Thời tiết là lý do chính để bộ binh của hai tướng Hồ Tùng và Đinh Đại Trung không vượt qua rừng núi miền tây Chiêm Động. Lương thực cạn phải rút về Hóa Châu.

      Đó là lần thứ nhất như một thử nghiệm, và tiến quân lần thứ hai vào đầu xuân năm 1402. Trên 20 ngàn quân bất ngờ đổ bộ vào vịnh Kim Liên, phía nam chân đèo Hải Vân. Họ vượt sông Cu Đê, trực chỉ miền duyên hải Chiêm Động. Tổng chỉ huy cuộc nam tiến là tướng Đỗ Mẫn. Ông ta có hai tướng phụ tá Nguyễn Bằng Cử, Nguyễn Vị, và tướng tiên phong Đinh Đại Trung. Cái giá lạnh mùa đông tân tỵ 1401 còn kéo dài, nhưng không làm nản lòng quân binh Đại Ngu. Từng đoàn binh tiến qua sông Cu Đê. Trong 3 ngày đầu không có một lực lượng Chiêm Thành nào kháng cự. Đến ngày thứ tư, trận chiến Túy Loan là trận chiến đầu tiên giữa Đại Ngu và Chiêm Thành. Kết quả hai tướng đối địch Đinh Đại Trung và Chế Tra Nan đều tử thương, nhưng quân Việt đại thắng. Toàn miền duyên hải vùng hạ nguồn sông Vu Gia là những nhánh Yên, Túy Loan và sông Hàn đã thuộc về Đại Ngu. Ở phía nam những nhánh sông nầy có những cuộc kháng cự lẻ tẻ, nên quân Việt tiếp tục chinh phục. Chưa đến 10 ngày, quân Đại Ngu đã tràn qua vùng hạ nguồn sông Thu Bồn. Những cuộc chạm trán bên bờ Câu Lâu, Bà Rén, Trừng Giang không gây nhiều thương vong, nhưng cuộc chiến đẫm máu ở cố đô Simhapura (Trà Kiệu) đã làm quân Chiêm tan tác. Chiếm được cổ thành hoang xưa từ thời Lâm Ấp nầy, không phải là điểm dừng của tướng Đỗ Mẫn. Trên 10 ngàn quân còn lại tiếp tục nam tiến. Cố đô Indrapura (Thăng Bình) bị tấn công. Nó chỉ cách Simhapura 40 cây số về hướng nam. Trong ba ngày, quân Đại Ngu đã đánh bật quân Chiêm ra khỏi cố đô Chiêm quốc của thời Hoàn Vương. Đó là một buổi chiều vàng mùa xuân năm 1402. Dân Chiêm Thành gồng gánh tản cư khi mặt trời còn đậu trên lưng hòn Kẽm. Quân Đại Ngu được nghiêm lệnh không được sách nhiễu dân chúng, nên cuộc di tản như hề không có thương vong.

      Vua Chiêm Ba Đích Lại sợ rằng quân Đại Ngu tiến sâu hơn về phía nam, bèn xin cầu hòa. Từ Đồ Bàn người cậu ruột của nhà vua được lịnh tức tốc đến cố đô Indrapura. Nhượng bộ được đưa ra là nhường hết phần đất Chiêm Động để đổi lấy hòa bình. Phần đất nầy từ phía nam đèo Hải Vân đến phía bắc cổ thành Indrapura. Tướng Đỗ Mẫn cho bình định toàn khu vực đã chiếm, và trình sự nhượng bộ của vua Chiêm về Tây Đô. Đích thân thượng hoàng Hồ Qúy Ly vào thị sát địa thế. Vị thượng hoàng Đại Ngu vẫn không bằng lòng, ông buộc vua Ba Đích Lại giao thêm vùng Cổ Lũy động. Nó là vùng đất chạy dài 70 cây số từ Indrapura đến bờ bắc sông Trà Khúc. Nơi nầy có một ngọn núi thấp mang hình cái ấn của nhà vua, và một hải cảng mà năm 1353 quân Đại Việt bị đánh tan tác. Đó là lúc tướng Trần Thế Hưng đưa vị vua tị nạn Chế Mộ về nước dưới thời vua Trần Dụ Tông. Vua Ba Đích Lại buộc lòng nhường thêm một phần đất nữa. Do đó, từ năm 1402  phía nam của Đại Ngu có cả phần Chiêm Động và Cổ Lũy. Chiêm Động được chia thành hai phủ Thăng và Hoa. Cổ Lũy được chia thành hai phủ Tư và Nghĩa. Cả 4 phủ nầy gọi là lộ Thăng Hoa do một vị tướng ngả theo Hồ Qúy Ly từ thời nhà Trần là Nguyễn Cảnh Chân làm An phủ sứ. Một người bạn của Nguyễn Cảnh Chân tên Đặng Tất nguyên là tri phủ Hóa Châu thời nhà Trần cũng được chỉ định trông coi hai phủ Thăng và Hoa.  Riêng hai phủ Tư và Nghĩa do Chế Ma Nô Đà Nan làm tri phủ. Ma Nô Đà Nan là con của Chế Bồng Nga bị thất thế khi La Ngai chiếm ngôi vua Chàm. Ông bị truy đuổi phải chạy qua Đại Việt.  Ông ta trở thành tướng của nhà Trần, rồi nhà Hồ.

      Thượng hoàng Hồ Qúy Ly vẫn chưa chịu dừng ở bờ bắc sông Trà Khúc. Năm sau, tháng 6 năm 1403, thượng hoàng sai tướng Phạm Trọng Khôi mang 20 ngàn quân tấn công Đồ Bàn. Trước sự ăn hiếp quá đáng của nhà Hồ, vua Chiêm cố gắng cầm cự và xin viện binh nhà Minh. Trong tháng 9 cùng năm, với sự tiếp tay của quân Minh, quân Đại Ngu phải rút về. Vua Hồ Hán Thương thấy có quân Tàu đỡ lưng cho Chiêm Thành, nên chỉ lo củng cố 4 phủ Thăng Hoa Tư Nghĩa vừa chiếm được. Ông lập những cơ sở hành chánh mà do quân đội đảm trách. Một tuyến truyền thư cũng được lập trong lúc nầy. Từ Thăng Hoa về  Tây Đô, cứ khoảng mỗi 50 dặm có một kỵ mã thay đổi. Bên cạnh đó, nhà Hồ cho đổi tất cả họ Chàm sang họ Việt. Thượng hoàng Hồ Quý Ly không bắt buộc bằng bạo lực, ông cho họ ưu tiên về đất đai và quyền lợi. Chỉ một năm sau, trong sổ hộ tịch của 4 xứ nầy còn lại rất ít người mang họ Ô, Ma, Trà, Chế. Hầu hết dân Chàm chịu sự đồng hóa mềm dẻo của nhà Hồ từ những đợt di cư gốc bắc.

      Tuy nhiên sự chiếm đóng của Đại Ngu không kéo dài được lâu. Nhà Minh của Tàu thấy nhà Hồ lấn Chiêm Thành, bèn động lòng bành trướng đang sẵn có. Tháng 12 năm 1404, Minh Thành Tổ ra chỉ dụ các tri phủ biên giới báo cáo đường biên giới Việt – Tàu. Hoàng Quảng Thành tri phủ châu Tư Minh chỉ ra rằng, một phần lớn lãnh thổ của châu nầy bị mất về Đại Việt ở thời gian trước. Phần đất nầy hiện nằm ở châu Lộc của Đại Ngu. Họ Hoàng thỉnh cầu hoàng đế của mình đòi lại. Dĩ nhiên đây chỉ là cái cớ của bọn xâm lăng. Hoàng Quảng Thành cho sứ mang thư của Minh Thành Tổ đến Tây Đô. Đứng trước một tình hình ở Thăng Hoa chưa hẳn ổn định, Hồ Qúy Ly không muốn gây rối ở mặt bắc.  Họ Hồ sai Hoàng Hối Khanh, an phủ sứ Thuận Hóa, đến châu Tư Minh để tìm cách giải quyết. Hoàng Hối Khanh đã từng làm Đồng tri khu mật sứ và có tài ngoại giao nên được gởi đi. Ông nổi tiếng là người khôn khéo đã từng giúp Hồ Qúy Ly phủ dụ dân Chiêm Thành từ thời nhà Trần. Rất tiếc khi đến Tư Minh,  kết quả không hề được như ông mong muốn. Ông buộc lòng phải ký một hiệp ước với một con số kỳ kèo thấp nhất: 59 động ở phía bắc châu Lộc phải bị mất về đất Tàu. Sau thất bại nầy, Hoàng Hối Khanh bị đưa vào Thăng Hoa giữ chức Tuyên úy sứ. Trên danh nghĩa chức vụ nầy còn cao hơn cả An phủ sứ của Nguyễn Cảnh Chân tại đây, nhưng không có thực quyền. Tuy vậy, họ Hoàng luôn trung thành với nhà Hồ.

      Sau khi bị mất một phần biên cương miền bắc, vua Hồ Hán Thương tăng cường các đơn vị bao quanh Đông Đô. Hai mươi ngàn quân được gởi thêm đến thành Đa Bang ở Ba Vì. Căn cứ nầy bảo vệ mặt tây do tướng Hồ Xá trấn giữ, gồm các đơn vị ở sông Đà, sông Thao và sông Lô. Ở mặt bắc, thành Lãnh Kinh đóng ở sông Như Nguyệt cũng được tăng cường do tướng Phạm Nguyên Khôi chỉ huy. Dưới trướng của vị tướng họ Phạm có tướng Trần Thái Bộc, và các quản lĩnh Trần Đỉnh, Chu Bỉnh Trung, và Trần Nguyên Huyên. Họ chịu trách nhiệm từ sông Cầu về biên giới bắc. Ở mặt đông, căn cứ Bình Than,  đơn vị của tướng Hồ Vấn chịu trách nhiệm. Tả tướng quân Hồ Nguyên Trừng đặt bản doanh ở Đông Đô tổng chỉ huy 3 vùng nầy. Hồ Qúy Ly tin tưởng người con trai trưởng của mình và các vị tướng lãnh thuộc quyền. Tuy nhiên quân số ít là điều làm ông lo ngại. Ông nới rộng tuổi trưng binh. Đàn ông từ 15 đến 60 đều phải nhập ngũ, thay vì trước đó, từ 17 đến 55. Ông muốn tăng cường đủ 300 ngàn quân ở mặt bắc để đủ sức chống chọi với quân Minh. Nhưng, điều đó không thành.

      Tháng 4 năm 1406 quân Minh xâm lăng. Chu Lệ Minh Thành Tổ mượn cớ đưa Trần Thiêm Bình về khôi phục nhà Trần. Trần Thiêm Bình tức Nguyễn Khang còn sống sót sau lần bị tiểu trừ của mười năm về trước ở biên giới bắc. Đây là cuộc xâm lăng đầu tiên của quân Minh.  Chinh nam tướng quân Hàn Quan và hai tả hữu phó tướng Hoàng Trung và Lữ Nghị được lịnh xua 50 ngàn quân tràn qua biên giới ở ải Phả Lũy. Quân nhà Hồ không giữ nổi mạn trung du miền bắc. Quản lĩnh Trần Đĩnh tháo chạy với đơn vị của ông ở ải Chi Lăng. Quản lĩnh Chu Bỉnh Trung và Trần Nguyên Huyên tử thương trên đường cố chặn quân Minh tiến từ Lạng Sơn đến sông Cầu. Chỉ còn cánh quân của tướng Trần Thái Bộc rút lui về  được đến Lãnh Kinh. Tại đây cuộc chiến xảy ra kịch liệt. Tướng Phạm Nguyên Khôi điều động quân cơ hữu và các lộ quân mới chạy về, nhưng vẫn không giữ được thành. Quân Minh luôn ở thế thượng phong vì quân số đông hơn nhiều lần. Tướng Phạm Nguyên Khôi tử trận và tướng Trần Thái Bộc thay thế. Quân nhà Hồ tiếp tục chống địch.  Họ chờ tiếp viện. Đến ngày thứ hai đại quân của tả tướng Hồ Nguyên Trừng mới kịp kéo tới. Lúc nầy tướng Trần Thái Bộc đã bị thương và chết sau đó, nhưng cuộc diện lập tức thay đổi. Tả tướng Hồ Nguyên Trừng mang 25 ngàn quân từ Đông Đô, Hồ Xá mang 10 ngàn quân từ Ba Vì, và Hồ Vấn mang 5 ngàn quân từ Bình Than. Sự phản công của 3 đoàn quân tiếp viện nầy đã đẩy lùi hơn 40 ngàn quân họ Hàn. Quân Minh phải bỏ lại binh sĩ tử vong lên tới một nửa quân số để bỏ chạy. Chúng tơi tả chạy về Chi Lăng. Tại đây Hồ Xá bắt liên lạc được cánh quân của Trần Đĩnh đã được khôi phục lại. Quân Minh bị bao vây gọng kèm. Liệu thế không thể thoát, Hàn Quan cho người đưa thư cầu hòa đến tướng Hồ Xá, lúc ấy đang trực tiếp chỉ huy. Trong thư có đoạn: “Vì lầm lỡ tin Trần Thiêm Bình là con của An Nam quốc vương nên hoàng đế bản quốc mới đưa quân qua tìm một sự công bằng. Nhưng nay đã thấy trăm họ xứ nầy đều không phục. Muốn trở về mà bị nghẽn lối, bỉ tướng xin giao Trần Thiêm Bình để cầu hòa đặng về bản quốc trình lại hoàng đế”. Hồ Xá trình hòa thư cho Tả tướng quân Hồ Nguyên Trừng. Vị tướng soái đất bắc nầy nhận thấy tình hình hiện tại đang có lợi, nhưng vẫn nhiều bất trắc. Đông Đô đương gần như bỏ trống, Tây Đô thì quá xa. Quân đội sẽ không có tiếp viện, nếu quân Minh kéo quân từ biên giới qua Chi Lăng. Hơn nữa nếu cuộc chiến ở đây giằng co, quân Minh sẽ kéo quân từ Vân Nam tiến chiếm Đông Đô, lúc đó sẽ không cứu kịp. Ông cho Hồ Xá chấp nhận yêu cầu của Hàn Quan. Một cuộc bãi binh ở Chi Lăng của cả hai bên diễn ra vào một ngày tháng tư năm bính tuất 1406. Chấm dứt lần xâm lăng thứ nhất của Minh Thành Tổ đối với nhà Hồ. Dĩ nhiên số phận của Trần Thiêm Bình bị khép vào tội phản quốc.

      Đuổi được quân Minh về nước, nhà Hồ tiếp tục phòng bị. Vua Đại Ngu Hồ Hán Thương một mặt cho sứ giả đến hòa thân với nhà Minh, một mặt lo tăng cường quân đội. Người chú của nhà vua là Hữu tướng quân Hồ Qúy Ty và Thiêm văn triều chính Hồ Đỗ mang quân từ Tây Đô ra giúp tả tướng Hồ Nguyên Trừng. Trần Cung Túc, Mai Tú Phu được lịnh đi sứ đến triều đình Minh Thành Tổ. Vị vua Tàu nầy không cần che dấu lòng ham muốn xâm lăng. Ông ta bắt giữ hai vị sứ giả nhà Hồ vừa đến Nam Kinh tháng 7 năm 1406. Hai tháng sau, tháng 9 cùng năm, Minh Thành Tổ cử hoàng thân quốc công Chu Năng lãnh ấn chinh nam tướng quân với tổng quân số lên trên 200 ngàn quân. Chu Năng thảo hịch diệt Hồ với nhiều tội trạng. Tội diệt nhà Trần được để đầu tiên để phủ dụ dân chúng. Dưới quyền Chu Năng có hai vị tướng: Trương Phụ là Hữu tướng quân. Ông nầy là một danh tướng, đã từng giúp Minh Thành Tổ khi còn khi còn là Yên vương ở Đại Đô. Người thứ hai là Tả tướng quân Mộc Thạnh, một vị tướng soái ở Vân Nam. Khi chuẩn bị lên đường thì Chu Năng đột tử. Hữu tướng quân Trương Phụ được thay thế làm chủ soái, và Mộc Thạnh làm tán quân. Với khả năng rành thổ nhưỡng vùng tây bắc Đại Việt của Mộc Thạnh, quân nhà Minh chọn hướng nầy để tiến quân. Dưới trướng của hai vị chánh phó Trương và Mộc còn cả những tướng Liễu Thăng, Lỗ Lân, Hoàng Trung, Lý Bân và Trần Húc đi theo. Với trên hai trăm ngàn quân, họ tràn qua cửa ải Phú Lệnh. Khi đến châu Ninh Viễn, Mộc Thạnh chiêu dụ được Đèo Cát Hãn mang quân tòng chinh. Ông nầy vốn là thủ lãnh dân tộc Thái Trắng bất mãn với nhà Hồ.

      Tuy Mộc Thạnh có biết về địa thế, nhưng quân Minh đã đi qua nhiều vùng rừng núi có cả thú dữ. Họ làm kinh động cả vùng tây bắc, mà không gặp một lộ quân nào của nhà Hồ. Những tiền đồn heo hút đã sớm bỏ chạy. Qua gần hai tháng băng rừng đoàn quân viễn chinh nhà Minh đến gần cuối nguồn sông Lô. Tại đây bọn Trương Phụ sớm có những chiến thắng vì quân số hai bên quá chênh lệch. Chúng lập doanh trại như chỗ không người. Sức mạnh của quân Minh và lòng bất mãn nhà Hồ, đã làm nhiều quản lĩnh đi theo bước chân của Đèo Cát Hãn: Mạc Thúy, Mạc Địch, Mạc Viễn, Nguyễn Huân là những kẻ bất đắc chí đón hàng quân Minh đầu tiên. Điều nầy tả tướng quân Hồ Nguyên Trừng đã thấy từ lâu. Trước khi được lệnh về trấn thủ Đông Đô có bàn nhiều về kế sách chống giặc Minh, người anh đa mang lòng trắc ẩn với quê hương nầy đã nói với vị vua em: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo thôi”.  Nhớ câu nói nầy, nên vua Hồ Hán Thương không mấy tin tưởng vào lòng quyết chiến của người anh. Trong trận vây quân địch ở Chi Lăng vừa qua, vua Hán Thương biết chính Hồ Nguyên Trừng chịu hòa chứ không phải Hồ Xá, nhưng nhà vua chỉ trách Hồ Xá mà thôi. Hồ Nguyên Trừng cũng biết điều đó, nên ông không ngạc nhiên khi nhà vua cử Thiêm văn triều chính Hồ Đỗ ra mạn bắc. Ông nầy còn được lệnh làm tiết chế khu vực Bình Than, sông Đuống và hạ nguồn sông Hồng. Tả tướng quân Hồ Nguyên Trừng chỉ còn chịu trách nhiệm Đông Đô, Bạch Hạc và đồn Đa Bang của Hồ Xá ở Ba Vì.

      Đồn Đa Bang chưa động tịnh gì, nhưng ở Bạch Hạc đã có nhiều cuộc chiến xảy ra. Ngày 2 tháng 12 năm 1406, tức là còn ở tháng 10 năm bính tuất, quân Minh từ sông Lô đánh chiếm Việt Trì. Chúng uy hiếp các đơn vị ở sông Mộc Hoàn, một đoạn cuối sông Lô đổ vào sông Hồng. Đêm mồng 9 khu bãi Mộc Hoàn bị mất, tướng trấn thủ Nguyễn Công Khôi bị chết. Những tiền đồn bảo vệ thành Đa Bang phải thụt lùi về phía nam. Sang ngày 12, Trương Phụ, Hoàng Trung xua quân qua sông Hồng tấn công mặt tây bắc thành Đa Bang. Mộc Thạnh, Trần Húc tấn công mặt đông nam của thành nầy.  Các tướng Tàu còn lại cầm chân quân Việt ở Đông Đô. Ba ngàn quân cơ hữu Đa Bang do Hồ Xá và Nguyễn Tông Đỗ chỉ huy ra sức cầm cự. Thành dày và kiên cố, làm quân Minh không phá nổi, dù quân số đông hơn gấp 5 lần. Chúng dùng biển người làm cầu đất tiến lên mặt thành. Kế hoạch nầy làm quân Minh chết như từng lớp rạ chồng lên nhau. Quả Trương Phụ là người lỳ lợm. Hết lớp nầy đến lớp khác chết dưới vô số mưa tên từ trong thành bắn ra, nhưng cuối cùng Trương Phụ phá vỡ mặt tây thành. Những thớt voi chiến của đạo quân Thiên Trường do Nguyễn Tông Đỗ chỉ huy không làm chùng bước chân của đoàn quân Tàu say máu. Tướng họ Nguyễn hy sinh. Tướng Hồ Xá phải thu tàn quân chạy về Đông Đô. Tại đây, áp lực địch bắt đầu mạnh hơn. Tả tướng Hồ Nguyên Trừng và tướng Hồ Xá đành bỏ cố đô nầy trước một tình thế sẽ tồi tệ hơn.

      Đó là những ngày tết năm đinh hợi 1407. Tình hình miền bắc Đại Ngu vô cùng bi thảm. Đông Đô bị quân Minh chiếm đóng. Không còn tìm thấy một người đàn ông Việt, tất cả đều bị bắt. Kinh thành chỉ còn phụ nữ, và họ bị làm nhục giữa ban ngày. Kinh sách được tập trung đem đốt để sưởi ấm. Tết đinh hợi nầy lạnh chưa từng thấy. Những cành bạch mai ủ rủ ở trước sân, không ai mang vào nhà để đón xuân.

      Quân lực miền bắc của Đại Ngu đang tập trung về bình nguyên hạ nguồn sông Hồng.  Con đường thủy từ sông Đại Hoàng về cửa biển Hải Muộn là nơi đặt những bộ chỉ huy các đơn vị. Người ta ước chừng khoảng còn 50 ngàn quân tập trung khu vực hạ nguồn nầy. Tả tướng quân Hồ Nguyên Trừng, hữu tướng quân Hồ Qúy Ty, Thiêm văn triều chính Hồ Đỗ, tướng Hồ Xá, Nguyễn Hy Chu, Trần Đĩnh… đều có mặt tại chiến trường. Để lấy lại sĩ khí quân đội, thượng hoàng Hồ Quý Ly và vua Hồ Hán Thương đã đến căn cứ Hải Muộn trong cái tết lạnh giá nầy. Ba ngàn quân từ Tây đô đi theo. Họ tập trung với quân tham chiến củng cố đơn vị. Tả tướng Hồ Nguyên Trừng cho đắp lũy, sửa chữa lại chiến thuyền. Ông sáng chế ra thuốc súng và ngòi nổ trong thời gian nầy. Nếu có được thời gian dài hơn, vũ khí của Tả tướng Hồ Nguyên Trừng sáng chế sẽ giúp lật ngược lại tình thế. Nhưng, điều đó không xảy ra. Áp lực của Trương Phụ từ Đông Đô đưa tới quá nhanh. Trận Giao Thủy bên bờ sông Luộc đã làm quân nhà Hồ mất thêm lộ quân Thần Đinh. Trên 2000 người chết và vị tướng của đơn vị nầy là Ngô Thành đã hy sinh.

      Tuy thiệt hại, nhưng quân nhà Hồ tiếp tục đắp thành lũy phòng ngự. Quân Trương Phụ không tiến thêm được nữa. Cuộc chiến giằng co qua hết nửa mùa xuân. Lúc nầy quân Trương Phụ không chịu được thổ nhưỡng khác biệt và khí hậu miền nam. Những đợt cảm cúm trở thành dịch bệnh. Toàn bộ đạo quân hùng mạnh như thế đã trở thành từng đám người ho hen. Họ phải rút lui về căn cứ Hàm Tử.

      Nhân cơ hội nầy, thượng hoàng Hồ Qúy Ly cho lịnh tấn công. Đó là ngày 13 tháng 3 năm 1407. Trận Hàm Tử bắt đầu. Gần 70 ngàn quân dưới quyền tổng chỉ huy của tả tướng Hồ Nguyên Trừng có Thiêm văn triều đình Hồ Đỗ làm phó tướng. Bộ binh mặt nam do Hồ Xá và Trần Đỉnh. Bộ binh mặt bắc do Đỗ Nhân Giám và Nguyễn Hy Chu. Hơn 100 chiến thuyền do Hồ Vấn và Nguyễn Công Chửng chỉ huy đến từ mặt đông. Đây là trận chiến mà thượng hoàng Qúy Ly tin là sẽ làm đà để tái chiếm Đông Đô. Ông cùng vua Hán Thương ở căn cứ Hải Muộn theo dõi tình hình. Rất tiếc điều kỳ vọng của phụ tử nhà Hồ không thành. Trương Phụ đã tương kế tựu kế nhân mùa dịch cúm lan ra. Ông ta rút quân về Hàm Tử và chờ quân nhà Hồ tiến đánh. Một trận phục kích cả trên sông và trên bộ được lập thành. Khi tướng quân Hồ Xá biết thì đã quá muộn. Ông muốn lui binh ở mặt nam, nhưng lịnh của phó tướng Hồ Đỗ là phải tiến tới. Một lần thất trận ở thành Đa Bang, Hồ Xá không muốn cãi lệnh vị Thiêm văn triều đình nầy. Ông đưa cánh bộ binh phía nam tiến xa hơn nữa. Kết quả cánh quân nầy lọt ổ phục kích, hoàn toàn bị tiêu diệt. Tướng Hồ Xá đã chết trong đám loạn quân của mình. Cánh bộ binh phía bắc có số phận khá hơn, nhưng tướng Nguyễn Hy Chu đã bị bắt. Vị tướng nguyên là An phủ sứ Bắc Giang nầy đã chửi vào mặt Trương Phụ, và can đảm chịu những đòn thù dã man. Ông chết thê thảm trước khi tướng Hồ Nguyên Trừng thu binh về Hải Muộn. Một cuộc tháo lui vội vã kéo về Tây Đô, mà phía sau là quân của Trương Phụ ồ ạt đuổi theo.

      Những trận chống trả lẻ tẻ trên đường rút lui, càng làm cho quân nhà Hồ hao hụt. Khi Hồ Qúy Ly về tới Tây Đô, số quân sĩ bị thương ngang ngửa với số quân sĩ đã chết. Đạo quân bất khiển dụng nầy lên tới 40 ngàn người. Dĩ nhiên là có người lợi dụng để bỏ ngũ. Điều nầy làm vua Hồ Hán Thương không biết tìm đâu ra đủ quân số để bảo vệ thủ đô và trấn đóng những cứ điểm quan trọng. Tình hình sôi bỏng như thế thì ngày 23 tháng 4, căn cứ Lỗi Giang ở hạ nguồn sông Mã xảy ra một cuộc ác chiến. Đó là trận đầu tiên quân xâm lăng nhà Minh tấn công miền nam của Đại Ngu. Sáu ngày sau, ngày 29, chúng tấn công vào căn cứ Điển Canh. Với sức công vũ bão, hai căn cứ tiền đồn nầy bị hủy diệt. Đoàn quân Trương Phụ – Mộc Thạnh rầm rộ tiến về Tây Đô. Chúng phá nát mọi chướng ngại trên đường đi. Chúng mong gặp có người kháng cự để ra tay, nhưng không tìm ra đâu một quân lính của Đại Ngu chống lại. Chúng lạm sát hàng binh, dân chúng và tiếp tục hành hạ phụ nữ. Chúng tràn tới Tây Đô, phá nát đền đài và miếu mộ đương bỏ trống. Đó là một nỗi nhục mà ở bên bờ Thẩm Giang, tuốt tận miền nam Nghệ An, thượng hoàng Hồ Qúy Ly đã được nghe. Ông và nhà vua cùng triều thần đã bỏ trốn đến đó từ ba ngày trước. Từ Thẩm Giang, triều thần nhà Hồ tiếp tục đưa nhau về hướng nam. Đoàn tòng vong nầy nhận được sự lạnh nhạt của dân chúng, đến nỗi Hồ Qúy Ly đã hai lần giết người vì cảm thấy bị xúc phạm. Một hy vọng còn sót lại của vị thượng hoàng cùng đường nầy là bắt liên lạc được với Hoàng Hối Khanh. Người tôi thần trung thành nầy đang là Tuyên úy sứ ở Thăng Hoa. Nguyễn Lỗ, một thuộc hạ thân tín, được giao nhiệm vụ vào tìm gặp họ Hoàng.

      Chưa biết Hoàng Hối Khanh có kịp chuẩn bị để cứu giá hay chưa, thì trên đường chạy nạn, quân Minh đã đuổi gần kề. Gia đình Hồ hoàng tộc và những bộ hạ thân tín bỏ hết những của nả cồng kềnh để chạy về Tân Bình. Con đường chông chênh trước mặt dài thăm thẳm. Đoàn người ngựa đã gọn gàng đến mức không thể gọn gàng hơn, nhưng chưa biết đâu là điểm dừng. Ở vào ngày thứ ba, tính từ lúc rời Thẩm Giang, họ mới đến chân núi Cao Vọng. Đây là một ngọn núi thấp tiếp giáp Hoành Sơn hùng vĩ  phía nam. Từ chân núi nầy người ta thấy được biển cả mênh mông. Từng cơn sóng vỗ vào làng chài Chỉ Chi ven biển. Ở đó, những ngọn phi lao lấp lánh dưới nắng chiều vàng au. Chúng không hề biết có một đoàn binh mệt mỏi ở phía sau lưng mình.

      Lả người. Đoàn tòng vong nhà Hồ không còn ai đủ sức vượt qua đèo. Đó là lúc đoàn kỵ binh tinh nhuệ của Trương Phụ kịp đến. Một trận chiến đấu không cân sức xảy ra. Dân làng ở bãi Chỉ Chi chứng kiến triều đình nhà Hồ ở phút cuối cùng. Tất cả họ đều bị bắt. Lúc ấy mặt trời vàng quạnh, hoàng hôn xuống thấp. Đó là chiều ngày 11 tháng 5 năm 1407.

Sang trang sử ai buồn hiu hắt
Hồ Thánh Ngâu nay lại về đâu
Khóc chồng oan khuất nơi Đạm Thủy
Thương trẻ trên tay mấy tuổi đầu

Trần Thiếu Đế nhường ngôi ngoại tổ
Phải bao phen vương thất van nài
Ai lên núi Đốn lên Đại Lại
Hỏi hồn non nước chuyện trần ai

Truất ngôi vua ngài Chương hoàng đế
Lập Đại Ngu cũng một họ Hồ
Gian thần? minh đế? ngàn năm sử
Thành quách buồn hiu giấc Tây Đô

Ai về có hỏi dòng sông Mã
Có thấy gì không ở chốn nầy
Bình nam như thể du sơn thủy
Thù bắc không tròn thẹn cỏ cây

Đâu đất tháp mấy mùa xứ tháp
Đâu Thăng Hoa, Tư Nghĩa bình nam
Thu Bồn thấp thoáng hồn Chiêm Động
Cổ Lũy mang mang giấc ngủ Chàm

Đất không giữ vong thân phương bắc
Bước xâm lăng lại gặp xâm lăng
Hồ – Chu đối mặt buồn sử sách
Ải bắc xa xăm nặng vết hằn

Con sếu ngóng trông con cá nhỏ
Con diều hăm hở đến bờ sông
Ngàn năm như thế ai không biết
Lịch sử đi qua những máu hồng

Không gây hấn mà thù cứ đến
Trách Trần Khang vô tích mà chi
Con diều Vĩnh Lạc giương cánh lớn
Vờn Đại Khai chưa độ xuân thì

Năm chín động vùng biên phải bỏ
Hoàng Hối Khanh ngậm đắng dâng trao
Nhưng mà Chu Lệ chưa vừa ý
Quyết nam chinh tận diệt họ Hồ

Quân thủy bộ nhà Hồ phòng thủ
Thành Đa Bang yếu điểm Ba Vì
Đi lên xứ bắc đi lên nữa
Đồn Lãnh Kinh thấp thoáng uy nghi

Đâu mây nước Bình Than, Hàm Tử
Đâu Đông Đô vằng vặc trăng soi
Nguyên Trừng tấc dạ chiều cõi bắc
Hồ Xạ trung kiên sớm xứ đoài

Thế giặc mạnh mấy thành tan vỡ
Qúi thượng hoàng hoàng thượng nơi nao
Thu quân mà giữ bờ sông cái
Máu chảy thành Đông đẫm chiến bào

Ai đã chết tâm can hào khí
Nguyễn Hy Chu, Hồ Xạ tướng Hồ
Bên bờ Hàm Tử đành thất trận
Sẽ về đâu, giữ được Tây Đô?

Đất Thanh Hóa một chiều cố thủ
Ở nơi nao đối địch ngư kình
Điển Canh tan vỡ như bọt biển
Tây Đô phải bỏ trước bình minh

Bỏ Tây Đô trông về châu Hóa
Đất phương nam còn lại Thăng Hoa
Núi Cao Vọng sa cơ thất thế
Bãi Chỉ Chi hiu hắt chiều tà

Nhà Hồ cúi mặt ra quan ải
Lệ thuộc Minh triều mất Đại Ngu
Giao Chỉ ngàn năm đà xa ngái
Trở lại trên vai một vết thù!


<<  |  >>