Skip to content

Chương mười một

MƯỜI HAI SỨ QUÂN, VÀ ĐINH BỘ LĨNH

(965-968)

      Bước qua đầu năm 966 thì hoàng thành Cổ Loa càng rối loạn hơn. Trong nội thành đã bị quân của Kiều Công Hãn và quân của Dương Huy tràn vào. Dù được hai cựu thần Đỗ Cảnh Thạc và Phạm Bạch Hổ tôn lên làm vua, nhưng “vua” Ngô Xương Xí không làm chủ được tình hình. Ông là một thanh niên quá hiền và không hề chuẩn bị làm vua, nên lời nói của ông không ai nghe theo. Nhiều người tự ý chiêu binh lập vùng cát cứ. Trong đó có thân vương Ngô Nhật Khánh cất quân từ Đằng Lâm kéo về Cổ Loa, trở thành lực lượng thứ tư trong hoàng thành. Giữa lúc như thế, thì hai tướng nòng cốt của nhà vua bất đắc dĩ nầy lại bất đồng. Tướng Đỗ Cảnh Thạc muốn liên kết với một trong hai nhóm của Kiều Công Tiễn hoặc Dương Duy, trong khi tướng Phạm Bạch Hổ cho kế sách ấy là nguy hiểm. Điều nầy làm ông Phạm rút quân bản bộ về trở lại Đằng Châu, và một số quân hoàng thành ngã về Ngô Nhật Khánh. Những diễn tiến nầy làm “vua” Ngô Xương Xí nghi ngờ tướng Đỗ Cảnh Thạc. Ông cảm thấy mình bị bỏ rơi, và có thể bị người ta giết chết. Nỗi bơ vơ và nỗi sợ hãi bỗng lớn, vị chuẩn vương họ Ngô quyết tránh xa vùng máu lửa hoàng thành. Cùng một số quân thân tín, ông chạy về Bình Kiều, châu Ái. Khi hay tin nầy, tướng Đỗ Cảnh Thạc ngậm ngùi cho triều đại nhà Ngô. Ông không còn thiết tha đến việc phải chống trả nhiều lực lượng cùng xâu xé thủ đô. Ông quyết định bỏ Cổ Loa về trấn giữ thành Đỗ Động mà sinh thời Ngô vương đã sai ông xây cất.

     Tĩnh Hải quân trở thành vô chính phủ. Nạn cướp bóc và giết người chưa từng có đã xảy ra. Từ đầu năm 966, người chết từng ngày trên mỗi thước vuông ở những khu đô thị. Sứ quân đánh nhau với sứ quân, sứ quân đánh nhau với quân triều đình mà ai cũng tự nhận. Tháng 4 năm 966, họ xé thủ đô ra từng mảnh, và cắt sông Nhị Hà ra thành từng đoạn. Trong lúc tranh giành như thế, những sứ quân yếu đã bị sát nhập hoặc bị tiêu diệt. Đến mùa hè, những ngày nóng bức nhất của cuộc chiến, thì không còn ai đủ sức giết thêm những nhóm quân khác nữa. Họ chỉ còn lại 12 sứ quân mà phần lớn chiếm cứ dọc theo hạ nguồn sông Hồng và sông Đuống. Nếu tính từ tây bắc xuống đông nam lần lược sẽ có:

      1) Kiều Thuận: Theo Kiều Công Tiễn chống lại Ngô Quyền năm 938 ở thành Đại La. Kìều Công Tiễn bị giết, nhưng ông chạy thoát. Vua Ngô Quyền không truy cứu vì ông là em ruột của Kiều Công Hãn, một bộ tướng của nhà vua. Ông chạy lên Hồi Hồ ở mạn ngược sông Thao, lâu ngày trở thành hào trưởng ở đó. Cát cứ địa phương nầy từ thời Dương Tam Kha.

      2) Kiều Công Hãn: Bộ tướng của Ngô Quyền. Thứ sử Phong Châu dưới thời Hậu Ngô. Tiến quân về kinh thành, nhưng không thành công, chạy trở lại Bạch Hạc. Ông thành cát cứ ở đây từ tháng 6 năm 966.

      3) Nguyễn Khoan: gốc người Tàu di cư đến Tam Đái từ thời họ Khúc. Sau trở thành hào trưởng thế lực, và trở thành cát cứ từ khi Nam Tấn vương mất.

      4) Nguyễn Thủ Tiệp: Em ruột Nguyễn Khoan. Đại hào trưởng ở Tiên Du (Bắc Ninh). Trở thành sứ quân sau khi Nam Tấn vương mất.

      5) Ngô Nhật Khánh: Hoàng tộc, rút về nơi sinh quán Đằng Lâm (Sơn Tây) sau khi không chịu nổi sự tranh giành ở hoàng thành vào tháng 5/966.

      6) Nguyễn Siêu: Em ruột Nguyễn Khoan và Nguyễn Thủ Tiệp. Đại hào trưởng Tây Phù Liệt, phía nam thành Đại La (Thanh Trì). Thành sứ quân khi nhà Ngô mất.

      7) Đỗ Cảnh Thạc, tướng lãnh trung thành từ thời Ngô vương. Cố gắng đưa Ngô Xương Xí lên làm vua nhưng không thành công. Ông đưa quân ra Đỗ Động giang (Thanh Oai) sau khi Ngô Xương Xí bỏ hoàng thành vào mùa xuân năm 966. Địa bàn nầy nằm phía đông nam thành Đại La.

      8) Lý Khuê: Gốc người Dương Xá, di cư lâu đời đến vùng đất tam giác hạ nguồn sông Hồng và sông Đuống. Ông đặt tên cho vùng đất màu mỡ nầy là Siêu Loại và trở thành đại hào trưởng lâu đời. Trở thành cát cứ khi Nam Tấn vương mất.

      9) Phạm Bạch Hổ: Cựu thần, tướng của Nam Tấn vương. Ông chiếm Đằng Châu (Hưng Yên) sau khi phản đối Đỗ Cảnh Thạc muốn bắt tay với Kiều Công Hãn hoặc và Dương Huy. Không rõ Dương Huy chết thế nào trong cuộc chiến giành thành Cổ Loa, nhưng lực lượng lớn họ Dương nầy không thành 1 trong 12 sứ quân.

      10) Lã Đường: Hào trưởng Tế Giang (Hưng Yên). Làm chủ vùng nầy từ lúc Dương Tam Kha khai hoang vùng đất Chương Dương, Cổ Lễ. Cả một vùng rộng lớn bị Phạm Bạch Hổ chiếm hết một phần phải rút vào vùng phù sa sình lầy.

      11) Trần Lãm: Đại hào trưởng, cát cứ vùng biển Bố Hải khẩu từ thời  Dương Tam Kha. Nguồn hải sản đã đưa ông trở thành  hào trưởng giàu có và có thế lực nhất. Họ Trần không đưa quân về tranh giành lãnh địa ở thủ đô, nhưng không có sứ quân nào dám xuống sâu hạ nguồn sông Hồng đến gần Bố Hải khẩu của ông.

      12) Ngô Xương Xí: Hoàng tử. Được tướng Đỗ Cảnh Thạc, Phạm Bạch Hổ, và nhóm bảo hoàng cố đưa lên ngôi, nhưng không thành công. Ông mang một số quân thân tín chạy về Bình Kiều, châu Ái khi ngờ lòng trung thành của tướng Đỗ Cảnh Thạc.

      Tình hình chiến tranh và cát cứ như thế, mà Đinh Bộ Lĩnh đang ở đâu? Xin nhắc qua một chút về con người nầy. Ông đến với 12 sứ quân như một duyên nợ.

      Đinh Bộ Lĩnh sinh năm 924 tại Đại Hữu, nhưng nguyên quán ở động (sách, làng) Hoa Lư thuộc huyện Hoa Lư. Cha ông là Đinh Công Trứ là bộ tướng của Dương Diên Nghệ. Khi Đinh Bộ Lĩnh lên 6 thì cha chết, phải cùng mẹ là bà Đàm Thị Diễn về nguyên quán sinh sống. Mẹ ông hay đau yếu nên ông phải đi giữ trâu cho những bá hộ trong làng để phụ giúp mẹ. Trong thời gian nầy ông thường cùng bạn chơi đánh giặc giả, và đã sớm biểu lộ tính trượng nghi của một kẻ cầm quân. Trong nhóm bạn có 4 người thân nhất có cùng ý muốn vừa học võ mà vừa học chữ. Đó là Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Lưu Cơ và Trịnh Tú. Khi lớn đến tuổi thành niên, nhóm bạn nầy vẫn chơi thân với nhau, và họ đều trở thành sách trưởng để bảo vệ xóm làng.

      Năm 944 Dương Tam Kha soán vị nhà Ngô làm nhiều người không phục tòng, trong đó có các sách đội Hoa Lư. Họ bầu Đinh Bộ Lĩnh làn liên sách trưởng, và chiêu mộ nghĩa binh. Triều đình Dương Bình vương biết sự có mặt của Hoa Lư, nhưng muốn dụ hàng hơn là tiêu diệt. Đối với Dương Tam Kha, Đinh Bộ Lĩnh thuộc hàng hậu bối con của một người huynh đệ. Lúc dưới quyền Dương Diên Nghệ thì Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền, Dương Tam Kha, Đinh Công Trứ đều là những bạn hữu tốt. Vì lý do đó các sách đội Hoa Lư vẫn tiếp tục phát triển, và không gặp sự truy quét nào.

      Năm 950 khi Ngô Xương Văn đánh úp Dương Tam Kha lấy lại triều đình thì tình hình đổi khác. Năm 951 Ngô Xương Văn tức Nam Tấn vương mang quân tấn công Hoa Lư. Quân Hoa Lư không chống nổi quân triều đình, Đinh Bộ Lĩnh buộc phải khuất phục. Theo đó, họ Đinh phải đến nơi cư trú chỉ định ở Thái Bình, và giao đứa con trai duy nhất 6 tuổi Đinh Liễn về Cổ Loa để làm con tin. Suốt trong thời gian tiếp theo Đinh Bộ Lĩnh không thể gánh vác các đạo quân mà mình đã vun xới. Ông giao cho Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ và Trịnh Tú đảm trách.

      Trong cái không may phải lưu xứ, Đinh Bộ Lĩnh gặp một cái may khác: gặp Trần Lãm ở Bố Hải khẩu. Nhờ tài năng của mình, Đinh Bộ Lĩnh được Trần Lãm tin dùng để bàn bạc những kế hoạch chiến lược. Ông trở thành người phụ tá đắc lực cho họ Trần, và tạo cho Bố Hải khẩu và Hoa Lư trở thành thế liên minh. Vào đầu những năm của thập niên 60 (960) thì hai lực lượng nầy đã khắn khít, lúc mà Dương Tam Kha muốn bắt tay với Đinh Bộ Lĩnh như một đồng minh.

      Vốn Dương Tam Kha bị đi an trí ở Chương Dương năm 950 với lòng thù hận. Không những mất ngôi, mà ông còn bị đứa cháu gọi bằng cậu ruột, gọi bằng cha nuôi làm nhục. Trước linh vị của Ngô Quyền vương, đứa con nầy đã bắt ông qùy lạy nói lời thống hối. Đã vài ba lần Dương Tam Kha cho người đến gặp Đinh Bộ Lĩnh, nhưng họ Đinh vẫn giữ chừng mực với vị phế vương nầy. Tình hình như thế kéo dài đến năm 965 khi Nam Tấn vương bất ngờ tử nạn.

      Ở Hoa Lư, Đinh Bộ Lĩnh theo dõi đầy đủ những diễn tiến ở thủ đô và mạn bắc. Lúc nầy Trần Lãm đã qua đời, và họ Đinh thực sự là người có tài nên quân Bố Hải khẩu một lòng tuân phục. Lệnh bắc tiến được ban ra. Liên quân Bố Hải khẩu – Hoa Lư tiến về thủ đô vào mùa hè năm 966. Tổng quân số liên quân lên tới 10 ngàn người. Ngoài các tướng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ và Trịnh Tú, đạo quân nầy đã có thêm Đinh Liễn và Lê Hoàn.

      Lê Hoàn có duyên với nhà Đinh qua Đinh Liễn. Khi triều Ngô tan rã vào năm trước, năm 965, con tin Đinh Liễn trở về quê hương. Lúc nầy ông đã hai mươi tuổi, được cha cử về Ái Châu để chiêu dụ anh hùng phương nam. Ở đây Đinh Liễn gặp Lê Hoàn, một người nho nhã và tài ba. Lê Hoàn sinh năm 941, chỉ lớn hơn Đinh Liễn 3 tuổi nhưng những nhận định, những ý kiến của họ Lê vừa khiêm cung vừa sâu sắc. Từ lúc mới về Hoa Lư, người thanh niên Lê Hoàn đã được Đinh Bộ Lĩnh trọng dụng. Sự chờ đợi không vội ra quân trong một năm qua cũng là ý kiến của Lê Hoàn.

      Đầu tháng 6 năm 966 quân đội Hoa Lư đến miền bắc. Máu xương còn tanh tưởi khắp nơi. Đinh Bộ Lĩnh quyết định chiêu hàng các sứ quân, nhưng các tướng tỏ ra không đồng tình ngoại trừ Lê Hoàn và Lưu Cơ. Đó là chút trở ngại ban đầu, nhưng sau đó mọi người đều tuân theo kế hoạch của thủ lãnh họ Đinh. Kết quả là sứ quân Phạm Bạch Hổ ở Đằng Châu về quy phục và hai anh em nhà họ Phạm ở Trà Hương là Phạm Hạp và Phạm Cự Lạng mang quân về giúp sức. Được tăng quân và có thêm 3 tướng giỏi, Đinh Bộ Lĩnh quyết định tấn công. Ông đặt bản doanh bên bờ bắc sông Đáy, và chia hai ngã đông bắc, tây bắc tiến quân.

      Đầu tiên Đinh Bộ Lĩnh cử Nguyễn Bặc làm tướng soái, Lê Hoàn làm phó soái và Phạm Cự Lạng làm tiên phong tấn công Tây Phù Liệt. Sứ quân Nguyễn Siêu ở đây vốn là người Tàu đến thành Đại La trước khi Ngô Quyền xưng vương năm 939. Ông đã là đại hào chủ, nhưng vì chiến tranh phải dẫn thuộc hạ đến Tây Phù Liệt. Ông trở thành sứ quân có nhiều tướng tài bảo vệ một khối tài sản lớn. Điều nầy đã làm trận chiến kéo dài nhiều ngày, mà Nguyễn Bặc không thắng nổi. Đinh Bộ Lĩnh phải mang quân tiếp viện và thân chinh chỉ huy trận đánh. Lúc ấy Nguyễn Siêu mới chịu khuất phục, và Tây Phù Liệt trở thành địa danh đầu tiên trong cuộc chinh phạt sứ quân. Nó vốn nằm phía nam của thành Đại La sầm uất mà vua Ngô Quyền đã nghi ngại không chọn làm thủ đô. Do đó, số thương lên cao không hề ít.

      Cùng lúc ấy, cánh quân mặt tây do Đinh Điền chỉ huy bắt đầu khởi chiến. Ông tấn công Tam Đái ở bờ bắc sông Hồng của sứ quân Nguyễn Khoan, anh ruột Nguyễn Siêu. Đinh Điền và phó tướng Phạm Hạp mang toàn bộ quân cơ hữu Trà Hương và quân Bố Hải khẩu đi theo cánh quân nầy. Nguyễn Khoan đã gầy dựng ở đây thành trì kiên cố và một lực lượng rất trung kiên. Cuộc chiến phải đổ máu nhiều ngày như Tây Phù Liệt để cuối cùng Nguyễn Khoan phải đầu hàng.

      Tây Phù Liệt và Tam Đái là hai trận đánh vừa thăm dò vừa ra oai. Đinh Bộ Lĩnh muốn các sứ quân khác thấy sức mạnh của Hoa Lư mà không kháng cự. Ông cho quân đội án binh tại chỗ và cho người đi thuyết phục các sứ quân còn lại. Rất tiếc không có một tin vui nào từ các sứ quân, mà ông có một tin từ nơi khác. Người của Dương Tam Kha ở Chương Dương mang thư đến. Trong thư nhắc đến tình hai nhà Đinh – Dương từ trước, lúc mà Đinh Công Trứ và Dương Tam Kha đang là huynh đệ chống quân Đông Ngô. Trong thư họ Dưong còn nói rõ, tuy Ngô Xương Xí là kẻ bất tài nhưng rất cần phải diệt đi để tránh nạn “phù chúa diệt gian” của bọn đầu cơ chiến tranh. Đó như là lời khuyên của kẻ trưởng thượng.  Phần cuối lá thư, họ Dương có nhã ý gả người con gái duy nhất cho Đinh Bộ Lĩnh. Họ Đinh miên man nghĩ về hai đề nghị nầy rồi trả lời thư với sự khiêm cung biết ơn của kẻ hậu bối. Trước mắt, Đinh Bộ Lĩnh còn phải lo diệt trừ những sứ quân miền bắc.

      Sau khi chờ đợi không thấy thiện ý từ các sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh quyết định tấn công một cát cứ mạnh nhất. Vị lãnh đạo của cát cứ nầy đã làm họ Đinh có ít nhiều cảm tình và nể trọng. Đó là Đỗ Cảnh Thạc. Đỗ Cảnh Thạc là một vị tướng tài dưới thời Tiền Ngô vương. Có thời gian ông được Ngô vương cho trấn thủ ở Đỗ Động giang, và tại đây ông xây dựng thành Đỗ Động mà thường gọi thành Quèn. Khi Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, ông ẩn nhẫn phục vụ Dương triều nhưng vẫn một lòng hoài Ngô. Chính vì điều nầy mà ba lần ông được lịnh đi truy giết Ngô Xương Ngập đều về tay không. Và, trong lần theo Ngô Xương Văn đi dẹp loạn Đường – Nguyễn ở Thái Bình ông đã giúp vị hoàng tử nầy đắc lực để lật đổ Dương Tam Kha. Ông là vị lão tướng qua ba triều vua với những thăng trầm. Thời thế đưa đẩy ông trở về thành Quèn lần thứ hai đầy bi tráng, khi phò Ngô Xương Xí lên làm vua nhưng gặp sự nghi ngại của chính vị hoàng tử nầy. Ở thành Quèn quân lính một lòng trung thành với nhà Ngô tạo nên một căn cứ rất mạnh. Thật ra trong lòng Đinh Bộ Lĩnh không hề thù hằn Đỗ Cảnh Thạc, nhưng họ Đinh quyết định tấn công với một lực luợng hùng hậu nhất. Ông dùng toàn bộ thủy quân Bố Hải Khẩu và quân thiện chiến Hoa Lư để tấn công. Ông chia quân tiến đánh bốn mặt và hầu như đầy đủ các tướng tham dự: Nguyễn Bặc, Lê Hoàn, Trịnh Tú, Lưu Cơ, Phạm Hạp và Đinh Liễn. Quân thành Quèn chiến đấu rất anh dũng nhưng đành thất thủ dưới liên quân Hoa Lư – Bố Hải Khẩu. Đỗ Cảnh Thạc đã chết trong đám loạn quân lúc trời hừng đông của một ngày tháng tám năm 967.

      Vừa chấm dứt cuộc chiến ở thành Quèn thì được tin sứ quân Kiều Thuận ở Hồi Hồ kéo quân về tập trung ở thành Bạch Hạc. Kiều Thuận sẽ liên minh với quân đội của người anh Kiều Công Hãn. Dường như họ muốn chủ động tình hình chứ không chờ bị tấn công. Đinh Bộ Lĩnh giao mặt trận miền đông cho Nguyễn Bặc, tự ông dẫn quân về miền giao thủy của hai dòng sông Lô và sông Hồng nầy. Đoạn đường hơn 30 dặm không là một trở ngại cho đoàn quân thiện chiến. Họ đến đó vào 3 ngày sau. Lúc nầy đạo quân của Đinh Điền từ Tam Đái kéo lên đã có mặt. Một cuộc đụng độ giữa quân Hoa Lư và liên quân Hồi Hồ – Bạch Hạc xảy ra. Đó là ngày đầu tiên khi Đinh Bộ Lĩnh vừa đến. Một số quân của Kiều Công Hãn đã quen trận mạc từ thời Bạch Đằng 938, trở thành những vị chỉ huy giỏi. Họ ra sức điều động tấn công. Tuy nhiên hầu hết quân đội của hai nhà họ Kiều chưa từng cầm gươm giáo để chiến đấu mất còn, nên đã sớm bị yếu thế. Đích thân Kiều Công Hãn và Kiều Thuận ra ngoài thành xông pha. Quân sĩ của họ thêm vững lòng tin nhưng vẫn không cứu vãn tình hình. Hai vị sứ quân Bạch Hạc và Hồi Hồ đều phải thu tàn quân chạy đi hai nơi. Kiều Thuận chạy về hướng bắc đến thành Mè và chịu chết dưới sự truy kích Đinh Điền. Kiều Công Hãn chạy về hướng nam đến làng Vạn Diệp thì bị thương và qua đời. Rất tiếc một anh hùng của Bạch Đằng 938, mà phải chết thầm ở một làng quê hẻo lánh.

       Đinh Bộ Lĩnh cho tất cả hàng quân về nhà hay theo Hoa Lư nếu họ muốn. Để lại 3 lộ quân, ông cử Đinh Điền và Phạm Hạp ở lại trông coi vùng độn từ Hồi Hồ đến Phong Châu. Lúc nầy trời chớm sang đông. Xứ sở của hoàng thành ngàn năm xưa đã có những cơn gió lạnh tây bắc thổi về. Đại quân theo Đinh Bộ Lĩnh xuôi sông Hồng, về sông Đuống. Mục tiêu được chọn là Tiên Du bên bờ tả ngạn của dòng sông vắt ngang nầy. Khi đại quân đến nơi thì thành Tiên Du đã trống không. Nguyễn Thủ Tiệp đã đưa quân qua đò Lo đi về bên hữu ngạn. Vị hào trưởng nầy vốn không phải là tướng quân, nhưng trai tráng theo ông rất đông và được tập luyện kỹ càng thành một đạo quân hùng mạnh. Tuy nhiên, đứng trước một thực tại là cả hai người anh và em của ông là Nguyễn Siêu, Nguyễn Khoan đều là bại tướng của Đinh Bộ Lĩnh, nên ông rút lui trước. Đó cũng là cách chọn lựa khôn ngoan. Tình hình như thế, nên Tiên Du như không hề có chiến tranh. Đinh Bộ Lĩnh một mặt cho ủy lạo dân chúng và mặt khác cử Lưu Cơ mang đại quân qua bờ hữu ngạn. Lúc này họ Đinh chiếm luôn thành Cổ Loa. Trong cái thành hình chữ nhật hơn một cây số vuông nầy chẳng còn gì. Cung điện, quân lương và con người đều mất sạch từ khi người ta giành giựt đẫm máu và Ngô Xương Xí phải bỏ đi.

      Lưu Cơ tiến quân sang hữu ngạn sông Đuống. Đó là một vùng phù sa màu mỡ được gọi là Siêu Loại. Ở đây Lý Khuê cũng là một hào trưởng tăm tiếng và giàu có. Từ khi Nam Tấn vương bị giết, nạn cướp bóc nổi lên, Lý Khuê tập họp trai tráng trong vùng để tự bảo vệ miền đất thóc lúa nầy. Ông thực sự đủ lực lượng để gọi là sứ quân, nhưng khi nghe Lưu Cơ mang đại quân sang ông và tùy tùng đã bỏ chạy. Trong chính sách an dân là chính, Lưu Cơ không đuổi theo. Vị tướng nầy ủy lạo dân chúng trước khi đại quân Đinh Bộ Lĩnh kéo sang. Chiếm được Siêu Loại, tình hình khó khăn như đã giảm đi một phần rất lớn. Lương thực ở đây có thể nuôi được quân đội trong một thời gian dài. Đinh Bộ Lĩnh cho dừng quân nghỉ ngơi.

      Trong lúc nầy Đinh Bộ Lĩnh nghĩ đến nhã ý của Dương Tam Kha trước đây, ông nghĩ đến người con gái ông chưa hề gặp mặt. Chưa biết hoa dung thế nào, nhưng tuổi nàng chưa bằng nửa số tuổi của ông làm ông ngần ngại. Tuy nhiên đây là mối lương duyên chính trị mà cả hai bên đều cần nhau. Dương Tam Kha tuy là một phế vương nhưng uy thế của ông ở Chương Dương bây giờ trở nên lớn mạnh. Cần cân nhắc bạn thù. Đinh Bộ Lĩnh quyết định cử người đi Chương Dương. Trịnh Tú và Lê Hoàn được chọn vì cả hai đều là những người ăn nói văn vẻ, hơn nữa Trịnh Tú còn là một đại tướng của Hoa Lư nên cũng xứng hợp với việc đại diện đàng trai. Lễ vật được sắm và hai tướng lên đường với một đoàn quân ít người. Như thế là sự thành hôn đã định. Đinh Bộ Lĩnh cho người về Hoa Lư báo tin sẽ có một cô dâu mới về trước, và ông sẽ về sau vì tình hình chiến sự đang tiếp diễn.

      Chỉ dừng quân vài ngày, Đinh Bộ Lĩnh hạ lịnh tiến quân. Từ Siêu Loại băng qua những cánh đồng mênh mông về hướng đông nam rất dễ, nhưng tấn công Tế Giang của Lã Đường là chuyện vô cùng khó khăn. Họ Lã là một sứ quân ít tăm tiếng, cai quản vùng đất trũng thấp từ nam Siêu Loại đến bắc sông Hồng. Bấy giờ đã cuối mùa xuân mà ảnh hưởng của mùa đông năm trước vẫn còn đầy. Nước và sình lầy quanh co giữa lau sậy và cây xanh như một trận đồ. Có lẽ do biến thiên của trời đất mà đầm Dạ Trạch của gần 400 năm trước không còn, nó đã được xô ngược về đây chăng?

      Nguyễn Bặc được lịnh dẫn hai ngàn quân tấn công Tế Giang có Đinh Liễn phụ giúp. Đường tiến quân luôn bị chậm và lạc lối. Họ không gặp quân cuả Lã Đường ở đâu, chỉ gặp loài vắt xanh và đĩa rừng. Thỉnh thoảng từng toán quân nhỏ bị chận đánh và bị tiêu diệt hoàn toàn. Lối đánh du kích làm quân của Nguyễn Bặc và Đinh Liễn cứ bị hao hụt đáng kể. Tin đưa về Siêu Loại, Đinh Bộ Lĩnh cũng không có cách khả thi, lịnh được rút ra khỏi Tế Giang và chờ mùa khô. Đến 4 tháng sau, tháng 8 năm 968, Nguyễn Bặc được viện binh từ các nơi đông gấp 3 lần lực lượng ban đầu. Họ phát quang lau sậy theo cách vết dầu loang, dồn quân Lã Đường về một phía. Bị đói nhiều ngày đã có những đợt quân ra đầu hàng, nhưng Lã Đường và quân trung thành vẫn tiếp tục co cụm chiến đấu. Ông đã chết bên cạnh những người lính cuối cùng của ông sau hai tháng cầm cự.

      Diệt quân của Lã Đường như bỏ hẳn một gánh nặng. Trong vòng gần ba năm đã liên tiếp chiến thắng 9 sứ quân, ít ra cũng mang lại bình yên cho xứ sở. Ngay tại bên bờ sình lầy Tế Giang, quân sĩ đã vui mừng tôn Đinh Bộ Lĩnh là Vạn Thắng vương. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn hai sứ quân hoàng tộc họ Ngô chưa giải quyết. Ngô Xương Xí thì ở Bình Kiều quá xa, trước mắt cần phải thu thập Ngô Nhật Khánh ở Đường Lâm. Sử không ghi Ngô Nhật Khánh sinh năm nào, nhưng chắc chắn ông còn rất trẻ. Người mẹ đi theo chăm sóc cho ông trong thời loạn lạc vẫn còn xuân sắc. Bà chỉ độ trên 30, bà đủ sức đánh bại Dương Vân Nga để dành sự ưu ái của vua Đinh sau này có thể cho biết bà đẹp đến thế nào.

      Vẻ đẹp của người thiếu phụ ba mươi sinh ra mối lương duyên giữa hai đàng thù địch. Trên căn bản là sự dàn xếp chính trị hơn là tình yêu. Qua sự dàn xếp của Lưu Cơ, mẹ của Ngô Nhật Khánh bằng lòng gá nghĩa với Đinh Bộ Lĩnh. Bên cạnh đó, họ Đinh đồng ý gả đứa con gái Đinh Phất Kim của mình cho vị thân vương họ Ngô. Đường Lâm và Hoa Lư không còn thù địch từ đó. Sự thành công nầy không thể nào có được nếu không có Lưu Cơ. Họ Lưu thật là người tài giỏi. Sau khi khuất phục Ngô Nhật Khánh ông còn đi Bình Kiều thuyết phục Ngô Xương Xí. Cuộc chiêu hàng vị “cựu hoàng” diễn ra trong hòa bình. Hoàng tử Ngô Xương Xí nặng lòng với nước non, nhưng không có lòng tranh thắng và không có tài chiến chinh. Ông là một kẻ sĩ thất thời hơn là một nhà vua. Không biết số phận của ông sau nầy ra sao, chỉ biết ông bằng lòng bỏ vũ khí. Đây là thời điểm hoàn toàn chấm dứt thời loạn lạc 12 sứ quân. Đó là một ngày cuối thu năm 968.

Ngô Xương Xí vốn người thuần hậu
Bỏ ngôi vua chạy đến Bình Kiều
Nhìn trời thiên hạ tranh cát cứ
Mà tiếc sơn hà dạ hắt hiu

Thân quân còn lại bao nhiêu lắm
Xóa sạch cơ đồ phải tại ta
Tranh hùng một xứ nghe sa lệ
Nợ nước không xong cả nợ nhà

Nơi nầy gió cát miền châu Ái
Hỏi nước sông Chu có muộn phiền
Chở hết giùm ta ngàn thương nhớ
Gởi về đất bắc khúc truân chuyên

Nào Tam Đái, Tiên Du, Phù Liệt
Nào Phong Châu, Bạch Hạc, Tế Giang
Tranh nhau vuông đất thành vuông máu
Hồ chỉ nhân gian mới bàng hoàng

Loạn đã khắp trông chờ hào kiệt
Những ai đi sông Đuống sông Hồng
Nghe đâu từ xứ Hoa Lư ấy
Đã có quân về cứu non sông

Tướng Nguyễn Bặc được phong tướng soái
Cùng Lê Hoàn phó soái xung phong
Đường quân bắc tiến mờ cát bụi
Chở nắng mênh mang chở tiếng lòng

Quân tiến thẳng thành Tây Phù Liệt
Trận đầu tiên mùa hạ bên đông
Nguyễn Siêu từ những La Thành cũ
Cân lượng ngang nhau máu thấm đồng

Nhiều ngày không thắng quân dừng lại
Bộ Lĩnh thân chinh diệt Nguyễn Siêu
Siêu là sứ mạnh trong các sứ
Khuất phục nhà Đinh một cuối chiều

Cùng lúc ấy bên trời Tam Đái
Cánh miền tây Điền tướng điều binh
Cùng quân Phạm Hạp, quân Bố Khẩu
Đổi mất bao nhiêu một thái bình

Đinh Bộ Lĩnh dừng quân chờ đợi
Bỗng nhận tin từ sứ Chương Dương
Chương Dương thực ấp hay đất trích
Mà để Bình Vương oán hận trường

Tiếc buổi trước vương xưa thời cũ
Đem con thơ gả kẻ tài ba
Sử xanh ghi lại bao dâu biển
Ai trách ai không chuyện thù nhà?

Cuộc binh lửa can qua đâu dễ
Đường phải đi còn dốc thành Quèn
Ở đây nghe nặng hồn cung kiếm
Tướng Đỗ vì Ngô có biết chăng?

Đỗ Cảnh Thạc vốn dòng võ tướng
Theo Ngô Quyền chinh chiến xưa xa
Chí khí, trung quân, thờ Nam Tấn
Lão tướng nhà Ngô nợ nước nhà

Thành Quèn ba mặt có hào vây
Mùa nước lên cao nước phủ đầy
Nguyễn Bặc điều quân chuyên Bố Khẩu
Đang đêm phá trận cổng thành tây

Cửa thành nam, Lê Hoàn, Trịnh Tú
Lưu Cơ, Cự Lượng cửa thành đông
Hậu quân tiếp ứng quân Đinh Lìễn
Máu chảy trong đêm máu cũng hồng

Thù nhau không phải thù nhau thật
Mà loạn anh hùng gươm giáo đau
Số phận phải chăng ngày kết thúc
Đỗ Cảnh Công phải chết trận này!

Say chiến thắng quân về Bạch Hạc
Ở nơi đây ai chết một ngày
Phong Châu hiu hắt trên tầng thấp
Ngọn gió lùa qua lớp cỏ may

Rồi những bước sông Hồng sông Đuống
Bến đò Lo ai kịp qua sông
Tiên Du đã mất người lập ấp
Đi xa có nhớ thuở tang bồng?

Lý Lãng Công bên bờ Siêu Loại
Cách Tiên Du nào mấy dặm ngàn
Lưu Cơ nhận lịnh đi chinh phạt
Người chưa đi mà gió đã sang

Duyên hay nợ Lê Hoàn buổi ấy
Thay Đinh công mà đến Chương Dương
Trúc mành thấp thoáng ai khuê cát
Ai biết về sau đoạn hý trường

Ở Siêu Loại nhà Đinh yên lặng
Nhìn xa xăm mấy nẻo quan san
Đường Lâm hòa hợp Ngô Nhật Khánh
Đất Ái Châu, Xương Xí chiêu hàng?

Để yên hai sứ không công phá
Mà đánh Tế Giang của Lã Đường
Đinh Liễn cất quân cùng Nguyễn Bặc
Xuôi nước sông Hồng một sớm sương

Tế Giang sông nước nhiều lau sậy
Một xứ đầm lầy mấy ai hay
Lã Đường quân yếu mà khó thắng
Nguyễn Bặc dụng quân suốt tháng ngày

Hai bên không đụng quân trực diện
Mà cứ kéo dài nhử kích quân
Nếu giả mùa khô không kéo tới
Chiến trận nào đâu có dễ dừng

Viện binh Bộ Lĩnh thân chinh đến
Chiến thắng đi cùng nỗi khó khăn
Lã Đường bị chết nơi cuối bãi
Nguyễn Bặc rơi đi một gánh quằn

Diệt Lã Đường quân reo chiến thắng
Vạn Thắng vương tên được quân xưng
Vương lên kế sách chiêu hàng Khánh
Cát cứ Đường Lâm xứ đất rừng

Ngô Nhật Khánh vốn người hoàng tộc
Tuổi thanh xuân mà đã sứ quân
Ra đi cát cứ mang theo mẹ
Ai biết về đâu một bến dừng

Đương độ ba mươi đẹp dịu dàng
Nỗi buồn u uẩn mỗi chiều sang
Vương phi đã mấy thời gian cũ
Mà vẫn xuân xanh đến ngỡ ngàng

Vẻ đẹp ba mươi lụy anh hùng
Dễ hồ hai việc dễ cọng chung
Chiêu hàng Nhật Khánh, thương người mẹ
Ý kiến Lưu Cơ quả lạ lùng

Từ ấy máu không loang chinh chiến
Đường Lâm qui thuận đất Hoa Lư
Ai đi một bước thêm bước nữa
Lòng có bâng khuâng khúc tạ từ?

Sứ quân còn lại mình Xương Xí
Chốn Bình Kiều nương náu bãi bưng
Lẽ thường tranh bá truy tận diệt
Mà khéo nhà Đinh đã kịp dừng

Lưu Cơ được cử đi thuyết khách
Hơn thiệt sơn hà nếu chiến chinh
Xương Xí vốn người không tranh thắng
Chấm dứt nhà Ngô rất hòa bình

_________________________________

*Thái Bình : Trong đoạn nầy “thái bình” được nhắc tới nhiều lần nằm trong ba trường hợp. 1- loạn ở Thái Bình mà Nam Tấn vương cất quân đi đánh là một địa danh cũ ở Sơn Tây nay thuộc Hà Nội. 2- Bố Hải khẩu của Trần Lãm là một cửa biển xưa nằm trong tỉnh Thái Bình hiện nay. 3- Thái Bình tức Nguyễn Thái Bình, một tên khác của sứ quân Nguyễn Khoan.


<<  |  >>