Skip to content

Chương mười bảy

NHÀ HẬU TRẦN
(1407-1413)

 

      Trước khi gia đình nhà Hồ bị dẫn độ qua Kim Lăng, họ bị giam ở Đông Đô.  Lúc nầy họ gặp các quan tướng bị bắt trước đó. Các vị này là Hồ Đỗ, Nguyễn Phi Khanh, Phạm Lục Tài và Đoàn Bồng… Qua những người nầy, họ biết được Nguyễn Cẩn, Đỗ Mẫn, Phạm Thế Căng đã hàng quân Minh khi chúng chiếm Tây Đô. Hữu tướng quân Hồ Qúy Ty và con trai đã chiến đấu chống lại và bị giết chết. Trực trưởng Kiều Biểu và Hành khiển tham tri chính sự Ngô Miễn đã tự sát khi bị đuổi bắt ở sông Mã. Người vợ của vị hành khiển họ Ngô nầy cũng đã quyên sinh theo chồng. Có một ít quan lại triều đình chạy thoát trong đó có Nguyễn Trãi và Phạm Cự Luận. Không ai biết số phận của tôi thần nhà Hồ ở miền nam ra sao. Họ là những Nguyễn Phong, Hoàng Hối Khanh, Nguyễn Cảnh Chân, Đặng Tất, Chế Ma Nô Đà Nan…

      Nguyễn Phong là An phủ sứ Thuận Hóa biết được tin cha con nhà Hồ bị bắt thì vô cùng hoang  mang. Ông cho quân đội án binh chờ đợi. Ở Thăng Hoa, Hoàng Hối Khanh đã nhận khẩn thư của Hồ Qúy Ly, nhưng mọi thứ đều quá muộn. Tình hình ở đây biến chuyển rất nhanh. Vua Chiêm Thành Ba Đích Lại từ Đồ Bàn mang quân vượt sông Trà Khúc. Nhà vua nầy không những không cho Hoàng Hối Khanh lập cứ địa chống quân Minh, mà còn đánh quân nhà Hồ tan tác. Tri phủ Tư Nghĩa, Chế Ma Nô Đà Nan, đành chết dưới tay người đồng chủng của mình. Hoàng Hối Khanh, Nguyễn Cảnh Chân chạy đường bộ, Đặng Tất chạy đường thủy về Hóa Châu. Tại đây Nguyễn Phong không cho Đặng Tất vào đất liền. Họ có thù hiềm phe nhóm từ khi Đặng Tất còn làm địa tri châu Hóa Châu. Một cuộc chiến không đúng lúc xảy ra. Đặng Tất đánh bại Nguyễn Phong và giết chết vị an phủ sứ nầy. Ông đón Hoàng Hối Khanh và Nguyễn Cảnh Chân về sau.

      Lúc nầy tình hình ở Thuận Hóa vô cùng bấp bênh. Quân của vua Chàm Ba Đích Lại thừa thắng bắc tiến. Quyết lấy lại đất tổ Ô và Lí của trăm năm trước là một động lực vỡ bờ. Nó như con sóng thần tràn qua sông Cu Đê. Trong khi đó quân của Trương Phụ nhà Minh ồ ạt tiến qua sông Đại Uyên (Nhật Lệ) sắp bước vào cửa ngõ châu Thuận. Trương Phụ cho người đến gọi hàng các quan tướng nhà Hồ. Lúc nầy ý của ba vị thủ lãnh lại không giống nhau. Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân thấy lưỡng đầu thọ địch, muốn hàng quân Minh. Mọi việc khác đều tính sau, điều đầu tiên là cần phải sống. Họ nghĩ thế. Hoàng Hối Khanh không bằng lòng, vì vậy ông nghi ngại hai người đồng liêu của mình. Họ Hoàng bỏ trốn.

      Trong khi đưa thư chịu hàng nhà Minh, Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất tấn công quân Chiêm Thành vừa tràn qua sông Cu Đê. Vua Ba Đích Lại không chống nổi quân nhà Hồ phải rút về Thăng Hoa. Lúc nầy Đặng Tất cho người đi mời Hoàng Hối Khanh về tìm cách chống nhà Minh. Trên đường đi gặp Đặng Tất ông bị thổ binh hàng Minh bắt được giao cho Trương Phụ. Ông bị giết bêu đầu để làm khiếp sợ những người không chịu hàng nhà Minh. Khi nghe Hoàng Hối Khanh bị xử chết, họ Nguyễn và họ Đặng không dám vọng động. Hai ông ẩn nhẫn hợp tác với nhà Minh, và được Trương phụ cho làm quan ở Hóa Châu.

      Tháng 6 năm 1407, từ biên giới bắc đến nam đèo Hải Vân đã không còn quân đội nhà Hồ. Trương Phụ rút quân về Đông Đô, ông ta sai Liễu Thăng dẫn độ quân thần họ Hồ qua ải Phù Lũy về Kim Lăng. Không rõ số phận những tù binh nầy ra sao, chỉ được biết Hồ Nguyên Trừng còn sống sót. Nhờ có tài chế được thuốc súng và đạn pháo nên Chu Lệ Minh Thành Tổ dùng vị cựu tả tướng quân nầy.

      Trong lúc ấy Trương Phụ thừa lịnh đặt nền móng cai trị vùng chiếm đóng. Nền đô hộ bắt đầu mà sử gọi là bắc thuộc lần thứ 4. Đại Ngu vĩnh viễn mất tên, và chỉ còn được gọi là quận Giao Chỉ. Quận Giao Chỉ đặt quận trị tại Đông Đô, mà nay cũng đổi tên thành Đông Quan. Quận trị nầy thành lập 3 ty sở đại diện cho nền đô hộ nhà Minh. Ty Đô thống sứ hay gọi tắt là ty Đô. Ty nầy coi toàn bộ quân chánh các cấp ở 16 phủ của quận.  Phủ thứ 17 Thăng Hoa chỉ có tên trên giấy tờ, vì nhà Minh chưa đủ sức đi xa khi mà vua Chàm Ba Đích Lại đã lấy lại. Chức chưởng ty ty Đô nầy mang quan hàm nhị phẩm đang dành cho con cháu nhà Trần, nhưng đương thời chưa tìm thấy ai. Lữ Nghị, người phó tướng chinh nam tạm thời giữ chức chưởng ty. Ty Bố chánh coi về luật lệ, thuế khóa và tài chánh. Ty Án sát coi về an ninh và tư pháp.  Cả hai ty nầy do Hoàng Phúc đứng đầu. Ông nầy là người điềm đạm mềm dẻo mới từ Kim Lăng qua. Dưới hai vị chưởng ty nầy có quan Tàu và quan Việt phụ tá. Bọn Mạc Thúy, Lương Nhữ Hốt, Nguyễn Huân, Trần Phong, Nguyễn Duy Trung cọng tác với các ty sở vừa lập. Họ là những người đã hàng Minh khi đang còn chiến đấu dưới trướng nhà Hồ. Hệ thống quân chánh nầy đi theo ngành dọc xuống tận tới làng xã. Nó được bảo vệ bởi hàng loạt thành lũy đã chiếm giữ hoặc xây thêm. Các căn cứ Hạ Hồng ở sông Luộc, Lạc Tràng, Bô Cô, Cổ Lộng bên bờ sông Đáy được lập thành trong đợt nầy.

      Ngoài sự bóc lột sức lao động, tìm vật hiếm qúi và đàn áp dã man như các lần bắc thuộc trước, lần nầy có một việc làm quan trọng khác: đốt sách. Từ thời Ngô Quyền vương 938 đến vua Hồ Hán Thương 1407, nước Việt đã có gần 500 năm độc lập, đã tạo ra một nền văn hóa riêng. Trong hai triều đại nhà Lý và nhà Trần đã để lại rất nhiều sách vở đậm nét văn hóa đặc thù của người Việt. Đốt sách Việt để mong diệt văn hóa Việt là quốc sách của Chu Lệ Minh Thành Tổ. Từ các làng mạc đến thành đô, nơi nào có sách đều tập trung về để đốt. Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu, Trung Hưng Thực Lục của Trần Nhân Tông, Hoàng Triều Đại Điển của Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn, Tứ Thư Thuyết Ước của Chu Văn An, Minh Đạo của Hồ Qúy Ly…đều bị đốt sạch. Dân Nam im phăng phắc trong nô lệ.

      Trong ngoài đã yên, tháng 8 năm 1407 Trương Phụ và Mộc Thạnh được lịnh mang một nửa số quân xâm lăng trở về.  Quyền hành giao lại cho Lữ Nghị. Đây là cơ hội con cháu nhà Trần đứng dậy. Cái mồi làm chưởng ty ty Đô không dụ được họ. Ở Đông Triều có Trần Nguyệt Hồ khởi nghĩa. Ông tập trung trai tráng phá ngục cứu những người bị hàm oan. Họ thành hình một lực lượng chiến đấu ở vùng Phả Lại – Đông Triều, nhưng sớm bị dẹp tan.

      Cùng lúc ấy ở Mô Độ có người khởi nghĩa, xứ sở nầy thuộc châu Trường Yên, Sơn Nam (Ninh Bình). Trần Triệu Cơ là một hào trưởng đã tập họp dân đinh địa phương chống nhà Minh. Sử ghi rất vắn tắt về vị hào trưởng nầy, nhưng ông là một trong những người đầu tiên khởi binh chống quân xâm lăng của thời Hậu Trần. Để dễ bề kêu gọi lòng người hưởng ứng, Trần Triệu Cơ cho người đi tìm người tôn thất họ Trần. Trần Ngỗi tức Giản Định vương, con áp út của vua Trần Nghệ Tông được để ý tới. Ông là anh ruột của vua Trần Thuận Tông, và được Hồ Qúy Ly phong làm Nhật Nam quận vương trong thời nhà Hồ. Ông nầy vẫn ở Đông Đô đến khi chiến tranh xảy ra, ông lưu lạc về phương nam để lánh nạn. Trần Triệu Cơ đã tìm được ông và tôn ông lên làm Giản Định Đế. Đó là ngày 2 tháng 10 năm 1407.

      Trần Triệu Cơ chiêu tập chưa tới hai ngàn quân, nhưng cũng đặt niên hiệu cho vua Giản Định: Hưng Khánh. “Triều đại” Hưng Khánh ra đời đúng lúc dân Việt khát khao tự chủ. Người người sẵn sàng dấn thân. Chỉ mới qua một mùa đông năm trước, và chưa hết mùa xuân năm sau, mà quân khởi nghĩa đã lên tới 10 ngàn quân. Đó là mùa xuân mậu tý 1408. Họ từ Tam Điệp, Hoa Lư và các xứ miền nam Mô Độ kéo về. Lòng sôi sục cứu quốc vang vang cả một trời nam Sơn Nam – Thanh Hoa. Điều ấy đã đến tai chưởng ty đô thống soái Lữ Nghị và quan bố chính Hoàng Phúc ở Đông Quan. Lập tức một cuộc thảo trừ được diễn ra. Đầu tháng 4 năm 1408, thân chinh Lữ Nghị dẫn 20 ngàn quân đi chinh phạt. Với đạo quân đã từng rèn luyện trong chinh chiến, Lữ Nghị mau chóng dẹp tan quân Mô Độ. Trần Triệu Cơ phải bỏ cố thổ đưa vua Giản Định và đoàn binh còn lại đi xứ khác. Họ đến miền đồi núi tây Nghệ An. Ở một nơi xa Đông Quan và địa thế hiểm trở, quân tướng đều lấy lại tinh thần. Tại đây dân địa phương đã có một thời lạnh nhạt với họ Hồ kéo về. Hào khí diệt Minh phục Trần được thổi qua từng cư dân, mà ai cũng thấy như mình đương có sẵn. Dân chúng tây Nghệ An hãnh diện làm bước tiến tiếp nối Mô Độ của cuộc khởi nghĩa. Họ chỉnh đốn hàng ngũ. Trong tháng 5, họ đưa quân tấn công hai đồn binh nhà Minh của Trần Thúc Giao và Trần Nhật Chiêu ở đông Nghệ An. Đây là hai vị hoàng thân nhà Trần đã chống họ Hồ, và hàng quân Minh. Không ai để ý đến số phận hai người nầy như thế nào, lúc ấy người ta chỉ chú ý đến thanh thế lan rộng của vua Giản Định. Tin đưa tận đến Hóa Châu. Ở tại miền nam nầy, Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất đón nhận với sự vui mừng. Hai ông giết quan đô hộ sở tại kéo binh về đầu quân với Giản Định đế. Hai người nầy dẫn tới 5 ngàn quân, và có cả hai người con trai của họ. Đó là Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung.

      Thanh thế Giản Định đế càng lên cao khi có đạo quân Hóa Châu dưới trướng. Nhận thấy Đặng Tất có mưu lược và giỏi tài điều quân, nhà vua phong cho ông làm Trần triều quốc công. Nhà vua còn nhận một người con gái của họ Đặng làm phi. Bên cạnh đó Giản Định đế cũng phong cho Nguyễn Cảnh Chân làm Đồng tri khu mật tham mưu quân sự. Theo kế sách của quốc công Đặng Tất, quân của Giản Định đế phải đánh thẳng vào Thuận Hóa. Phải tạo một hậu phương an toàn trước khi đánh ra bắc. Vua Giản Định chuẩn thuận kế hoạch nầy. Tháng 8 năm 1408, một cuộc bình định phương nam được tiến hành. Chỉ duy nhất có một trận chiến ở Tân Bình với Phạm Thế Căng gây nhiều thương vong, hầu hết các nơi đều qui hàng đoàn quân chinh nam của Đặng Tất.

      Đến cuối mùa thu 1408 từ Nghệ An đến Thuận Hóa không còn lực lượng nhà Minh. Giản Định đế chuẩn bị bắc tiến. Quốc công Đặng Tất chuyển một phần các lộ quân Thuận Hóa, Tân Bình, Diễn Châu về Nghệ An. Cuối tháng 10 năm 1408, nhà vua ban lịnh khởi binh. Hai mươi ngàn quân bộ binh và thủy quân tiến ra Sơn Nam. Bộ binh băng qua Đông Sơn, Bím Sơn, Mô Độ, Hoa Lư, Tam Điệp về Ninh Sơn. Các thần dân trung thành nhà Trần ẩn nhẫn bấy lâu ở các nơi nầy vận động trai tráng tham gia đoàn quân khởi nghĩa. Càng lúc dân quân càng đông. Trên những cánh đồng dọc theo sông Lèn, sông Mã khí thế ngợp trời của quân kháng chiến. Thủy quân từ Diễn Châu đến Nga Sơn, qua sông Hoạt ngược dòng sông Đáy tiến về Ninh Sơn. Bây giờ đã sang tháng 12 năm 1408, chỉ còn hai tháng nữa là tết kỷ sửu 1409. Hứa hẹn một ngày xuân có mặt ở Đông Quan, Thăng Long cũ.

      Ngược lại, nhà Minh cũng không vừa. Từ khi hay tin Giản Định đế chiếm lại các châu phủ phía nam, Vĩnh Lạc đế ra lịnh Mộc Thạnh chinh nam lần thứ hai. Đầu tháng 11 năm mậu tý 1408, họ Mộc dẫn hai cánh kỵ và bộ binh đi theo con đường cũ. Lần nầy đi nhanh hơn. Chỉ chưa tới một tháng, vị tướng soái Vân Nam nầy đã đến Đông Quan. Sau khi hội với Lữ Nghị, lão Mộc nhanh chóng điều quân tiếp viện về tuyến phòng thủ phía nam bên bờ bắc sông Đáy. Tại đây có 3 đồn binh án ngữ mà Mộc Thạnh đã cho đào đắp trước khi về nước: Lạc Tràng, Bô Cô, Cổ Lộng. Trong lúc ấy, đại quân của Giản Định đế đã qua Gián Khẩu đang tràn lên bờ bắc sông Đáy. Họ đã gặp một đồn lính canh quân Minh ở đây, và đã hất đồn nầy ra ngoài như người ta hất bỏ một cọng rác. Mục tiêu chính là Bô Cô, chỉ cách Gián Khẩu chừng vài dặm đường. Từ đây chiếm  Lạc Tràng để tiến quân về Đông Quan bằng bộ binh.

      Một trận chiến mùa đông không thể tránh khỏi. Họ quyết định hơn thua giữa ban ngày. Bầu trời u ám của ngày 14 tháng 12 năm 1408 không làm người ta chùng bước. Đây không phải là bao vây, cũng không phải là phục kích. Mặt đối mặt, họ dàn trận với nhau. Trên bờ và dưới nước. Tướng nhà Minh có Mộc Thạnh, Lưu Tuấn, Lưu Dục, Lữ Nghị, Hoàng Trung. Bên nhà Trần có Giản Định Đế, Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân, Trần Triệu Cơ, Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung. Hai căn cứ Cổ Lộng và Lạc Tràng ở hai đầu đông tây yên tĩnh. Chúng chỉ bị phá rối, nhưng Bô Cô nổi sóng.

      Trời chưa trưa và nền trời nhàn nhạt những mạt mây. Không khí ấy không làm cho con người dậy máu mà hai bên đều tận sức ra tay. Tinh thần cứu nước làm cho quân nhà Trần vững chãi trên từng đường gươm. Xế chiều, quốc công Đặng Tất cùng hai tướng Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung đã chiếm được bộ chỉ huy của Mộc Thạnh. Giản Định Đế, Trần Triệu Cơ và Nguyễn Cảnh Chân tiến quân tiếp theo. Loạn quân nhà Minh bỏ chạy tan tác. Trên sông, trên bờ không còn ai chỉ huy. Họ chạy trên những xác chết để rồi chết theo cho người khác chạy lên. Chưởng ty đô thống sứ Lữ Nghị và phó tướng Lưu Tuấn đã chết như thế. Tuy nhiên, Mộc Thạnh, Lưu Dục và Hoàng Trung đã thoát được trong cơn nầy. Họ chạy về đồn Cổ Lộng ở hạ nguồn sông Đáy. Bên quân Nam tổn thất nhân mạng không đáng kể, nhưng rất tiếc tướng Trần Triệu Cơ hy sinh trong trận nầy.

      Thấy được sự toàn thắng và quân đội đang ở thế chẻ tre, Giản Định Đế ra lịnh tiến quân về Đông Quan. Đoạn đường khoảng 60 cây số nầy sẽ không gặp lực lượng kháng cự nào đáng kể. Chiếm lại kinh đô cũ một điều có thể đạt được, nhưng lệnh của nhà vua phải đình chỉ lại. Quốc công Đặng Tất và Bình đồng tham mưu quân sự Nguyễn Cảnh Chân có một đề nghị khác. Theo đó, tấn công đồn Cổ Lộng và tiêu diệt lực lượng địch còn sống sót trước khi về Đông Quan. Đồn Cổ Lộng chỉ cách khoảng 5 cây số về hướng đông, và chủ soái địch đương chạy về đó. Đây là cơ hội diệt một địch thủ đáng gờm. Ý kiến quân thần khác nhau. Điều nầy khó có thể xảy ra một điều tệ hại, nhưng một điều xấu hơn điều tệ hại lại xảy ra. Xảy ra đến độ sụp đổ hoàn toàn những dựng lập ban đầu.

      Vua Giản Định không có một quyết định nào đến mấy hôm sau. Quân tướng lo thu dọn chiến trường thay vì tiến đánh Cổ Lộng hoặc Đông Quan. Chừng ấy thời gian đủ để bọn Mộc Thạnh bình yên rút đi an toàn. Ông ta về Đông Quan cùng tân Chưởng ty đô thống sứ Lưu Dục sang bằng những lổ hổng quân sự. Các đơn vị trong thành và ven đô được tăng cường. Lúc nầy thì quân Trần muốn tiến về chiếm lại thủ đô cũng đã muộn. Vua Giản Định phải theo kế sách tiếp theo của Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Họ mở rộng tiến chiếm vùng đông và đông bắc Bô Cô. Họ chiếm đồn Cổ Lộng, tiến quân đến Bình Chương ven biển một cách dễ dàng. Tại đây Đặng Tất giao cho Đặng Dung thành lập những đội hải quân. Ông cùng Nguyễn Cảnh Chân mở rộng duyên hải băng qua tả ngạn sông Hồng. Chiếm Hải Muộn, một căn cứ hải quân có từ nhà Hồ, và giao cho Nguyễn Cảnh Dị trấn giữ. Hai vị kiệt tướng đương thời tiếp tục đưa quân vượt sông Trà Lý. Họ chiếm được Ngự Thiên và điểm xa nhất là căn cứ Hạ Hồng ở bên bờ sông Luộc.

      Trong khi ấy, tại tổng hành dinh Bô Cô, vua Giản Định được Trần Hy Cát, Nguyễn Qúy và Nguyễn Mộng Trang bảo vệ. Cát, Quý và Trang là những người trong đám hoài Trần ở Thiên Trường. Họ là những người có học và là cư dân nơi phát tích nhà Trần. Họ sớm trở thành thân cận của nhà vua, và họ tán đồng quyết định tấn công Đông Quan trước đây. Quyết định ấy không được thi hành làm họ nghi ngờ quyền hạn tối thượng của nhà vua. Họ khéo léo nhắc đến tình trạng của thượng hoàng Nghệ Tông và Đồng bình chương sự Lê Qúy Ly mấy mươi năm về trước. Tình hình nghi ngại như thế như gió mùa đông đang thổi qua. Lành lạnh.

      Trong những ngày cận tết ất sửu năm 1409, Đặng Tất ở ngoài điều quân đi các nơi để thích ứng với tình hình. Nhiều lần ông đưa quân tấn công các đơn vị địch, mà chưa kịp thông qua triều đình ở Bô Cô. Điều nầy đã châm mồi cho lòng hoài nghi của Giản Định đế. Nhà vua nhớ lại lúc Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân là đôi bạn thân từ ngày còn làm quan dưới thời hoàng đệ Trần Thuận Tông. Họ đều phản bội nhà Trần làm tay sai cho gian thần Hồ Qúy Ly. Họ đều được Hồ Qúy Ly cho làm quan ở Thuận Hóa từ những ngày ấy. Hồ chiếm đoạt nhà Trần, họ được trọng dụng. Hồ mất, họ hàng nhà Minh không giống như đồng liêu Hoàng Hối Khanh. Họ bỏ Minh đầu phục Hậu Trần. Làm sao biết có ngay thẳng hay không? Làm sao biết được hai con người nầy? Giản Định Đế nghĩ thế, và đề phòng từ sau lần cải lệnh tấn công Đông Quan. Ý tưởng đó lớn dần theo cách nhìn đồng điệu của bọn Trần Hy Cát. Nó đậm màu trong lòng nhà vua theo từng vùng đất mà hai vị đại thần Đặng – Nguyễn tiếp tục chiếm được. Ông đi đến một quyết định.

      Vua Trần Giản Định sai Nguyễn Qúy và Nguyễn Mộng Trang phối hợp với Trần Hy Cát thành lập đạo quân cẩm vệ. Hai người họ Nguyễn một lòng trung thành với nhà vua và rất khôn khéo. Họ đã cất dấu những tay sát thủ trong đạo quân nầy chờ giờ hành động. Thời tiết đã sang xuân. Tết kỷ sửu đang đến. Hai vị đại thần trung hưng Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân về Bô Cô chúc tết nhà vua. Đây là cơ hội cho bọn sát thủ thi hành, và chúng đã thành công. Đặng Tất đã chết lúc đang dùng ngự tiệc với nhà vua. Nguyễn Cảnh Chân chạy thoát được, nhưng cũng phải bỏ mạng ở bờ sông dưới những lưỡi kiếm chuyên nghiệp của bọn cẩm vệ. Đó là một ngày đầu tháng 2 năm 1409. Khúc sông Thanh Quyết của dòng sông Đáy im lặng nghe máu chảy qua lòng mình. Tin vẫn che dấu nhưng làm sao mà Hải Muộn và Bình Chương không nghe được. Lập tức Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung mang hai cánh quân thân tín bỏ trốn.

      Dĩ nhiên là miền nam yên ổn hơn. Đó là đất nhà. Hai người hậu duệ họ Đặng và họ Nguyễn không hẹn mà gặp nhau ở Thanh Hoa. Lòng oán hận giết cha không lấn áp được lòng thù nước. Họ quyết tâm vun đắp tinh thần cứu quốc từ đạo quân cơ hữu mang theo. Tuy nhiên lực lượng quá nhỏ, họ lần hồi di chuyển vào nam để tránh xa quân Minh và quân của Giản Định đế. Tại miền tây nam của châu Nghệ An họ gặp Nguyễn Súy. Ông nầy đang phò một cựu hoàng tử nhà Trần đến ẩn náu ở chân núi Ngàn Hống bên bờ sông Lam. Đó là Trần Qúy Khoách. Ông là con của Trang Định vương Trần Ngạc tức là cháu nội của vua Trần Nghệ Tông. Khi Trang Định vương bỏ trốn quyền thần Hồ Qúy Ly và bị đuổi giết năm 1393, thì Quý Khoách được mẹ dẫn đi lưu lạc.  Bảy năm cuối đời nhà Trần và bảy năm suốt đời nhà Hồ, đã đưa đẩy Trần Qúy Khoách về tới miền đất sông Lam nầy. Ông tiếp Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung qua Nguyễn Súy.

      Hai bên đều có một lực lượng rất nhỏ để phục hưng, nên họ gom làm một. Toàn quân đồng lòng tôn cựu hoàng tử Trần Qúy Khoách lên làm vua để hiệu triệu dân chúng. Ngày 17 tháng 3 năm 1409 vị hoàng tử nầy lên ngôi xưng hiệu là Trùng Quang Đế. Từ đây mảnh đất Đại Việt có hai vua. Họ gọi nhau bằng chú cháu ruột. Lễ đăng quang của vua Trùng Quang chỉ mang tính truyền thống tại làng Chi La bên bờ sông La miền đông nam Nghệ An. Không thấy sử ghi năm sinh của nhà vua, cũng không thấy ghi hoàng hậu và hậu duệ. Có lẽ nhà vua còn rất trẻ. Tuy nhiên dân chúng từ Thanh Hoa đến Thuận Hóa ủng hộ  mạnh hơn lần trước. Một phần vì chống giặc Minh, một phần vì họ thương tiếc Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Nguyễn Súy được phong làm thái phó, và nhà vua phái ông đi giao hảo với Giản Định Đế. Lúc ấy vua Giản Định đã mất Bô Cô, đã mất Cổ Lộng. Nhà vua chạy tới Ngự Thiên. Tình hình vô cùng bấp bênh.

      Chuyến đi của Nguyễn Súy không dễ dàng thành công. Rất yếu, nhưng Giản Định đế không thấy dễ chịu khi có một ông vua thứ hai trên lãnh thổ của mình. Những người trung thành với nhà vua như Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh mang quân chống Nguyễn Súy. Một cuộc chiến xảy ra, và bên Nguyễn Súy thắng. Đến ngày 20 tháng 4 năm 1409 họ Nguyễn “mời” được vua Giản Định về tới sông Lam. Vua Trùng Quang mặc thường phục qua đò đón người chú của mình. Ở Chi La, ông tôn vua Giản Định làm thượng hoàng. Ở ngoài bắc, những căn cứ còn lại của vua Giản Định chiến đấu trong đơn lẻ. Bình Chương, Hải Muộn, Ngự Thiên, Hạ Hồng rất khó liên kết được với nhau. Toàn vùng trở thành vùng da beo mà quân Nam chỉ còn những chấm trắng nhỏ trong lúc quân Minh bao trùm.

      Tuy nhiên cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn. Lúc nầy ai cũng biết người lãnh đạo chống xâm lăng là Trùng Quang đế chứ không còn là Giản Định đế. Tổng binh Mộc Thạnh ở Đông Quan cũng biết điều đó. Ông nầy nghe tin Trương Phụ sắp mang đại quân qua tiêu diệt binh lực nhà Trần, nên ông đi trước một bước. Ông không muốn Trương Phụ sẽ dành hết công lao, nên ông cho người đi chiêu hàng vua Trùng Quang. Nếu thành công vừa tránh đổ máu, vừa tỏ ra là người có mưu lược. Một ngày đầu tháng 6, năm 1409 tại căn cứ Nguyệt Viên bên bờ sông Mã có cuộc đàm phán. Sứ thần Chi La và sứ thần Đông Quan gặp nhau. Theo đó sứ thần của Mộc Thạnh cho biết thủy chung vua nhà Minh chỉ mong tìm cho được con cháu nhà Trần để đưa lên ngôi An Nam quốc vương. Nay đích thực vua Trùng Quang là người xứng đáng, nên khuyên nhà vua hãy thuận theo ý trời: không chống đối quân thiên triều để muôn dân an lạc. Để tăng sức mạnh cho yêu cầu của mình, sứ thần Đông Quan cũng báo cho nhà vua biết  đại quân của Trương phụ sắp kéo qua. Nếu chống lại, chiến tranh lúc ấy không thể nào lường được.

      Sức thuyết phục rất hay, nhưng cuộc đàm phán Nguyệt Viên thất bại. Không để cho Mộc Thạnh an bài, qua Nguyễn Biểu, vua Trùng Quang quyết định tấn công. Ông Biểu người huyện Chi La, đã đỗ thái học sinh từ thời Trần Đế Hiện (1377-1388) và về ở ẩn tại quê nhà. Ông được Nguyễn Súy mời ra giúp sức, và được vua Trùng Quang tin dùng. Nguyễn Biểu cho thấy sự nhũn nhượng lúc nầy không mang lại kết quả, mà phải nhanh chóng tiến quân. Trùng Quang đế đuổi sứ giả trở về, và lập tức sai Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung mang 5 ngàn quân vượt sông Đáy. Điểm được nhắm tới là thành Cổ Lộng ở bên kia bờ. Đó là một đêm về sáng mà mặt trăng chỉ còn là một vành khuyết ở một góc trời. Dù quân Minh có đề phòng, nhưng Đông Quan không đủ quân trang trải khi Trương Phụ chưa đến nơi. Quân phòng vệ Cổ Lộng chỉ còn đủ thời gian bắn tên lửa báo động cho Bô Cô và Lạc Tràng. Trong lòng đoạn sông Thanh Quyết mờ ảo, quân Minh thấy vô số thuyền binh quân Nam tràn qua. Đây là trận chiến không cân sức. Các lực lượng quân Minh tiếp viện kéo về thành chưa tới một ngàn người. Họ cùng quân binh cơ hữu ở đây tận sức chiến đấu, nhưng vẫn ở thế yếu.  Khi trời vừa sáng đủ thấy mặt người, cánh quân Đặng Dung đã phá cửa thành tiến vào bộ chỉ huy. Lúc nầy cung tên không còn dùng nữa, mà người ta đã xử dụng đoản kiếm hoặc tay không. Hai bên cận chiến, tha hồ chém giết nhau. Máu thành dòng chảy ra bờ sông. Đây là trận Cổ Lộng kinh thiên mà dấu tích để lại đến đời sau. Vô số người Trần – Chu đã chết chồng lên nhau mà gươm giáo của họ bị vùi ở chính giữa. Trời sáng. Quân Minh hoàn toàn bị tiêu diệt.

      Thắng áp đảo Cổ Lộng. Theo kế hoạch của Nguyễn Biểu, họ chiếm lại Bình Chương, tràn qua Thiên Trường. Chỉ trong một tuần lễ họ đã làm chủ trở lại mặt đông nam sông Hồng. Lúc nầy dân quân các nơi đồng loạt hưởng ứng. Từ Phủ Lý, Ý Yên, Thiên Bản, Thiên Trường và ngay cả Đông Quan cũng có những đội quân tự phát đứng dậy. Giáo mác lên đường, những đơn vị nầy đã giết được các lãnh quản nhà Minh như Tả Địch, Vương Đán và cha con Lư Vượng. Hai đạo quân tiên phong của Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị tiếp tục đưa đại quân qua tả ngạn hạ nguồn sông Hồng. Các căn cứ Hải Muộn, Ngự Thiên, Hạ Hồng đều được chiếm lại.

      Vua Trùng Quang còn đi xa hơn. Giữa tháng 8, ông ra lịnh Đặng Dung mang 10 ngàn quân tấn công Hàm Tử, cửa đông Đông Quan. Thượng hoàng Giản Định có tướng Trần Hy Cát đi theo mang 10 ngàn quân tiến đánh Liễu Lâm (Thuận Thành) để chia quân Mộc Thạnh. Bản thân nhà vua cùng ba tướng Nguyễn Suý, Nguyễn Cảnh Dị và Nguyễn Biểu đến Bình Than. Một vạn quân ở đây có nhiệm vụ chận đứng thủy quân của Trương Phụ từ sông Lục Nam kéo về thủ đô qua ngả sông Đuống. Nếu lực lượng của vua và thượng hoàng Giản Định thành công, nó sẽ giúp rất nhiều cho đạo quân của Đặng Dung ở Hàm Tử.

      Với số binh sĩ ở Bình Than chỉ bằng một nửa số quân của Trương Phụ sẽ kéo đến, nhưng vua Trùng Quang không có chọn lựa nào khác. Nhà vua cho bố trí các nơi, cổ vũ tinh thần quân lính và thường xuyên có mặt với họ. Bên bờ sông Đuống, và xa xa bên kia là sông Thái bình, mà ông không biết đích xác hội nghị Bình Than năm xưa ở đâu. Mới hơn 100 năm mà bao dâu biển đã qua, đã xóa đi bao dấu tích cũ. Đôi lúc, miên man trong tiếng sóng thì thầm nhà vua lại lạc về một hoàng tộc, về  một kinh đô. Ông không còn rõ nét về Thăng Long mà nhà Minh đương đổi thành Đông Quan, nhưng ông yêu quí nó biết bao. Tuổi ấu thơ của ông đã sớm lưu lạc theo mẹ khi không biết tin tức của cha mình như thế nào. Ông không nhớ người ông nội thượng hoàng Trần Nghệ Tông vì hình như ông chưa bao giờ được gặp tận mặt. Ông cũng không nhớ Hồ Qúy Ly, một kẻ đáng ghét, nhưng ông nhớ người chú Trần Ngỗi. Người chú nầy không lớn hơn ông bao nhiêu, và ông đã gặp nhiều lần trước khi theo mẹ rời kinh thành. Đó là hai đứa bé vô tư, chưa hề biết về cuộc đời. Nếu lấy lại được giang sơn, ông sẽ không tranh giành với người chú cũng chịu bất hạnh mất nước như ông. Nhưng điều đó thật xa vời, trước mắt còn quá nhiều gian nguy phải đối phó.

      Bảy ngày sau, quân Trương Phụ mới đến. Không chờ ban đêm, ngay ban ngày Trương Phụ cho quân tràn xuống cả thủy quân và bộ binh. Chúng dùng khiên để che tên và nã súng đá vào thủy quân của vua Trùng Quang. Quân số của chúng trên thuyền và trên bộ quá nhiều. Không phải 20 ngàn như tin báo, mà nhiều hơn thế nữa. Chúng tràn lên bờ Bình Than như nhiều tổ ong cùng vỡ một lúc, quân Trùng Quang không thể nào cản chúng tiến về thủ đô. Cùng lúc ấy, tin tức ở Hàm Tử cũng không khả quan. Mộc Thạnh đã dùng quân số gấp 3 lần áp đảo Đặng Dung. Lực lượng quá chênh lệch. Nhân một tờ mờ sáng có sương mù đậm đặc, Nguyễn Biểu xin nhà vua rút lui để bảo toàn lực lượng. Nhà vua đành thông báo cho thượng hoàng Giản Định và tướng Đặng Dung. Cuộc thoái binh về bờ nam sông Hồng không gây nhiều tổn thương, nhưng có một điều đáng tiếc. Địch đuổi rất gắt phía sau, khi đến Thiên Trường thì quân Nam bị chia ra làm nhiều toán. Một cánh quân của Trương Phụ đã bắt kịp toán quân của thượng hoàng Giản Định ở trấn Thiên Quan. Gần 50 người đều bị bắt, thượng hoàng và tướng Trần Hy Cát bị giải về Kim Lăng. Họ bị xử chết ở những ngày sau đó. Ở trận tuyến Bô Cô, Cổ Lộng, Bình Chương đều bị chận đánh, nhưng cuối vua Trùng Quang và binh tướng rút về tới được Chi La, và đại quân của Trương Phụ cũng rút về Đông Quan.

      Từ đây đến 2 năm sau, hai bên chỉ giằng co ở Thanh Hoa, không có đánh lớn. Điều này có được vì vua Vĩnh Lạc nhà Minh bận tâm chinh phục Mông Cổ, đã rút bớt quân từ Giao Chỉ trở về . Trương Phụ được lịnh khai thác tài nguyên miền bắc Giao Chỉ. Họ Trương lập đồn điền ở Thái Nguyên, Tuyên Quang và Tam Giang. Đó là kế hoạch tằm ăn dâu về các châu phủ phía nam để thâu thóc lúa, vật thực. Trong chương trình nầy chúng ưu đãi cho những thổ quan người Việt để làm tay sai cai trị. Từ đây dân chúng miền Bắc bị vắt kiệt sức lao động một cách có kế hoạch. Lúc nầy chúng tiến hành phá huỷ hoặc lấy cắp 4 đại tứ khí của Đại Việt. Tượng phật Di Lặc bằng đồng ở chùa Quỳnh Lâm là đại khí đầu tiên bị mất.

      Trong khi đó, ở Chi La Nghệ An vua Trùng Quang cử Hồ Ngạn Thần làm sứ giả đi Kim Lăng để cầu hòa. Nhà vua muốn có một thời gian hòa bình để củng cố quân đội. Đến Kim Lăng, Ngạn Thần không đạt được một kết qủa nào. Minh Thành Tổ không hứa hẹn điều gì. Nhà vua nầy chỉ sai Hồ Nguyên Trừng, người đã bị bắt và làm quan cho nhà Minh, đến chia sẻ tình cố cựu. Từ chỗ lạnh nhạt nầy, vua Trùng Quang không ngạc nhiên khi có cuộc xâm lăng miền nam sau đó. Tháng 6 năm 1412 Trương Phụ và Mộc Thạnh dẫn 20 ngàn quân từ Đông Quan tấn công Chi La. Chưa tới hành dinh nầy, mới chỉ tới Mô Độ đã bị quân nhà Trần chặn lại. Hồ Bối, người anh rể của vua,  cùng các tướng Nguyễn Súy, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung phục binh ở đó. Tuy không thắng, nhưng đã cầm chân quân địch tiến về Chi La. Trương Phụ có thể đẩy mạnh thêm cuộc tiến công, nhưng ông ta lại kéo quân về. Có lẽ đây là trận thăm dò sau gần hai năm lắng dịu. Sau trận nầy 2 bên đều chuẩn bị.

      Đầu tháng 4 năm 1413 Trương Phụ mang 40 ngàn quân trên 200 chiến thuyền trực chỉ Nghệ An. Chúng đến cửa Hội lúc tờ mờ sáng, và lập tức đổ quân lên bờ. Chúng tràn qua những đơn vị phòng thủ ở đây như một đàn voi tràn qua một đám cỏ dại. Chiến trận chớp nhoáng xảy ra khi quân nhà Trần vừa đốt được những cây đuốc báo động. Bên dòng sông Lam êm đềm, bỗng nổi sóng. Những làng chài, những thửa ruộng dâu, những xóm nhà trên đường về Chi La thức dậy. Người ta bồng bế nhau tản cư. Lúc nầy quân nhà Minh đã qua khỏi kẻ Vang, và quân nhà Trần khởi binh từ bản doanh Chi La. Một cuộc chiến không tránh được đang xảy ra. Họ gặp nhau ở ngả ba sông Lam và sông La. Đây là trận quyết chiến để sống còn. Địch muốn tiến tới hành dinh Chi La tận diệt nhà Trần. Đi theo Trương Phụ có Mộc Thạnh và Hoàng Tùng. Phía nhà Trần có vua Trùng Quang, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy, Nguyễn Biểu. Quân thần nhà Trần tận lòng giữ nước, nhưng quân số quá chênh lệch đã không chìu được lòng người. Họ chỉ có 10 ngàn quân chiến đấu. Chỉ được một ngày cầm cự, vua Trùng Quang đành bỏ vùng đất đã cưu mang hành dinh cuối cùng này.

      Trong đêm tối, vua tôi nhà Trần tìm về phương nam. Quân số mang đi chỉ đếm được số ngàn. Sự thiệt hại ở kẻ Vang, sông Lam và sông La đã làm quân Trần khánh kiệt. Đoàn tòng vong đến được Hóa Châu vào một ngày đầu tháng 6 năm 1413. Chưa yên ở miền đất mới, vua Trùng Quang cử Nguyễn Biểu về Chi La để điều đình với Trương Phụ. Đây là lần đầu tiên nhà vua ủy thác một trọng trách ngoại giao cho họ Nguyễn. Theo đó, tuỳ theo tình hình mà yêu cầu vua Minh công nhận vua nhà Trần như đã hứa. Mục đích cầm chân Trương Phụ không đuổi theo. Trương Phụ không nghe lời trần tình của Nguyễn Biểu mà còn nặng lời khinh miệt vua tôi nhà Trần. Nguyễn Biểu mắng trả lại họ Trương kể cả vua nhà Minh. Ông chỉ ra rằng, vua quan nhà Minh là bọn thất tín và bạo ngược. Trương Phụ tức giận cột sống ông dưới chân cầu sông La chờ thủy triều dâng lên. Người ta nói vị tướng gan dạ nầy đã dùng móng tay ghi lại ngày chết của mình trên chân cầu: “Thất nguyệt, thập nhất nhật Nguyễn Biểu tử” Đó là ngày 11 tháng 7 âm lịch quí tị, tức là một ngày cuối tháng 8 năm 1413. Hàng chữ viết ngang nầy có thể là không có thật, nhưng nó không trôi ra khỏi lòng dân Chi La qua từng thế kỷ.

      Dìm chết một sứ giả không đủ hả giận cho Trương Phụ. Ông ta lập tức lên kế hoạch tấn công Hóa Châu. Mộc Thạnh thấy đường xa hiểm trở cản lại, nhưng họ Trương không nghe theo. Ông ta đòi hàng tướng Phan Liêu báo cáo tình hình và địa thế vùng địa đầu nầy. Vừa sang tháng 10, Trương Phụ cho quân lên thuyền truy kích đoàn tòng vong họ Trần. Một tháng sau hai bên gặp nhau ở kênh Sái Già. Địa thế ghềnh dốc và xa lạ nên quân Trương Phụ không thể thắng dù quân số đông hơn rất nhiều lần. Tướng Nguyễn Súy dùng lối đánh du kích tiêu diệt từng cánh quân địch. Họ Trương tức tối cho bao vây toàn khu vực. Điều nầy làm quân Minh trải mỏng ra, lại càng bị chết. Thuộc tướng Hoàng Trung của Trương Phụ phản đối cách bao vây nầy, liền bị mang ra chém. Họ Trương đã điên tiết, không ai dám cãi lịnh bao vây. Sự thiệt hại càng nhiều hơn nữa. Cái chiến thuật theo đúng sách vở (địch ít bao vây, địch nhiều đột kích) của Trương Phụ so ra không áp dụng được ở đây. Ông ta thấm mệt và neo thuyền ở lòng sông Sái Già chờ đợi. Biết được tình hình nầy, những đơn vị cuối cùng nhà Hậu Trần đột kích bộ chỉ huy của địch. Vua Trùng Quang, Nguyễn Súy cùng tất cả gần 500 quân binh tướng đều trở thành những chiến sĩ đột kích cảm tử.  Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị đã vào được thuyền của Trương Phụ. Trời tối đen và hai bên cận chiến trong những khoang thuyền tròng trành. Có lẽ vận nhà Trần không thể nào đứng dậy được nữa, Trương Phụ thoát trong đường tơ. Ở một trại binh gần đó, Mộc Thạnh kịp điều quân vây bắt. Dĩ nhiên đội cảm tử không thể nào chống lại cả vạn quân. Công việc đem hết số tiền ra để đặt cược nầy, làm quân đội của vua Trùng Quang chỉ còn đếm được ở số hàng chục. Thất Bại. Con đường duy nhất là chạy vào rừng. Vua tôi chẳng còn lại mấy người. Họ bị bắt rất sớm. Trên đường dẫn về Sái Già, Nguyễn Cảnh Dị đã bị giết dã man vì dám mắng Trương Phụ. Vua Trùng Quang, Đặng Dung, Nguyễn Súy và quân lính còn lại đều bị đưa lên thuyền giải về Đông Quan. Trên con đường thăm thẳm biển khơi nầy,  vua Trùng Quang và hai kiệt tướng đồng một ý nghĩ. Họ trầm mình xuống lòng biển quê hương. Đó là một đêm đầu tháng một năm 1414, rơi vào đêm thượng tuần tháng 11năm qúy tỵ 1413. Dưới vành trăng nghiêng những binh sĩ tù nhân đã chứng kiến những cái chết anh hùng. Họ không đủ dũng lược làm như thế. Ở họ chỉ còn lòng kính phục và thương cảm. Không biết có ai trong bọn họ, chợt nhớ đến tâm sự của Đặng Dung qua “ Thuật Hoài”* trong lúc nầy hay không:

“ Thế sự du du nại lão hà nại lão hà?
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chủ hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma. 

      Đầu năm 1414, quận Giao Chỉ lại hoàn như cũ. Từ đèo Hải Vân đến ải Phù Lũy đều bị xiềng xích như nhau. Tổng binh  Trương Phụ trở thành quan đô hộ, và cai trị cõi bờ chiếm đóng hà khắc hơn. Sách cổ Việt tiếp tục bị tìm kiếm và đốt sạch. Ba tứ đại khí còn lại tiếp tục bị phá hủy. Mỏ vàng, mỏ bạc trên rừng được khai thác, nhân công lấy từ trại tù. Ở đồng bằng trồng dâu nuôi tằm dệt lụa, nhưng dân Việt chỉ được rờ tới lụa mà thôi. Miền duyên hải, dân làm muối chỉ đủ muối để ăn. Gạo và vải phải đổi bằng số lượng lụa và muối nộp cho sở Hà Bạc, một sở mới thành lập trong ty Bố chánh. Ty nầy phối hợp với ty Đô sứ và ty Án sát kiểm soát dân chúng không chừa một người nào. Chúng phân ra từng hạng người để quy định mức xâu thuế phải nộp, và lương thực được hưởng. Bọn việt gian hàng Minh phụ giúp đắc lực trong việc nầy. Quân đội của Trương Phụ tiếp tay với chúng kiểm soát chặc chẽ. Người dân phải qua nhiều từng áp bức. Không có cuộc kháng chiến nào nổi dậy, mãi đến ba năm sau.

Mười bảy phủ bắc nam quận trị
Đông Đô xưa đổi lại Đông Quan
Ai gom sách Việt đem đi đốt
Mà khói bay lên rợp gió ngàn

Đất Mô Độ, Trường Yên gió bạt
Trần Triệu Cơ khởi tập binh quân
Xa xa Tam Điệp, Hoa Lư cũ
Ngọn sóng triều dâng sóng sóng từng

Lòng đã hẹn Triệu Cơ mời gọi
Hoàng tử xưa Trần Ngỗi lên ngôi
Giản Định đế chiêu quân Mô Độ
Tiếng reo vang khắp cả lũng đồi

Chí quả lớn mà quân chưa đủ
Bị nhà Minh Lữ Nghị bao vây
Hành dinh Mô Độ không giữ nổi
Tan tác về đâu thế cuộc nầy

Tây Nghệ An đất đồi sỏi đá
Chí không sờn tấc dạ phục quang
Trần triều dựng lại thù phương bắc
Réo gọi phương nam chống bạo tàn

Nguyễn Cảnh Chân trá hàng giặc bắc
Địa tri châu Đặng Tất một lòng
Đại Ngu còn lại hai danh tướng
Qua đò ai biết đục hay trong

Mặc nước sóng là trong là đục
Nguyễn Cảnh Chân, Đặng Tất phù Trần
Giúp cho Giản Định tăng thanh thế
Nào ngờ son sắt hóa phù vân

Trận Bô Cô cuối năm mậu tý (12/1408)
Đọ Chu – Trần quyết chiếm Đông Đô
Tướng Minh, Lữ Nghị thân danh liệt
Mộc Thạnh thu quân chạy hướng nào

Thành Cổ Lộng trăng soi soi rõ
Đâu tàn quân đâu trận Bô Cô
Ai đem xương máu trêu nghi kỵ
Mà để thiên thu hận cơ đồ

Tự xưa cổ gian trung khó biết
Huống hồ chi dâu biển tang thương
Từ khi Trần mất năm xưa ấy
Đặng – Nguyễn đi qua đã mấy đường

Giết Đặng Tất mất dần cơ nghiệp
Diệt Cảnh Chân muôn việc không còn
Nhân tâm tán loạn như bọt vỡ
Đông Đô mờ mịt giữa nước non

Chiếm không được Đông Đô mùa cũ
Mà Đặng Dung, Cảnh Dị phương nào
Hai chàng hậu duệ về đất Nghệ
Ai người hiểu được dạ trăng sao

Trần Qúy Khoách đón chào Nguyễn – Đặng
Đưa nước non qua buổi tai nàn
Hỏi trăng tròn khuyết treo Ngàn Hống
Thời gian nào lấy lại giang san?

Trần Qúy Khoách xưng vương chiêu tướng
Chốn Ngự Thiên, Giản Định lung lay
Hai đàng thúc điệt không tranh thắng
Mà để trùng quang vận hội này
Nhà Hậu Trần xua quân bắc tiến
Từ sông Lam một sớm hừng đông
Quân đi trở lại bờ sông Đáy
Tiếng sóng bên sông tiếng sóng hồng

Thành Cổ Lộng kinh thiên một độ
Bao kiếm cung đã gãy bao giờ
Xác người xác kiếm vun thành đống
Thiên thu còi kiếm hóa thành thơ**

Nhớ buổi trước ai từng chinh chiến
Đâu Ninh Giang đâu những Hạ Hồng
Đâu hồn binh biến tìm cố quốc
Đâu những đầu xanh thức núi sông

Quan Hàm Tử ngày xưa chiến thắng
Thắng quân Nguyên, nay bại quân Minh
Trăng tàn ngó xuống đầu nghiêng bạc
Tướng Đặng mài gươm nhạt bóng mình

Sớm Bình Than vua Trần di tản
Tiếng sương rơi nghe nặng cõi lòng
Thái Bình sông Đuống mờ sương phủ
Che dặm đường xa trong nước trong

Hạ Hồng nối gót sương rơi trắng
Sông Luộc buồn hiu đón giặc thù
Ruổi gót người đi về xa thẳm
Thiên Quan ngàn dặm đến thiên thu

Cửa sông Hồng quân ta chiến bại
Lạnh đông phong giọt máu còn tươi
Bình Chương lại chẳng cầm chân giặc
Đất cũng nằm im đến ngậm ngùi

Đất đã mất mà hồn chưa mỏi
Lập Bô Cô để giữ lằn ranh
Đã từng thua thắng lòng đâu sá
Còn miếng gan trơn cũng giữ thành

Bỏ Bô Cô lui về Mô Độ
Dạ kiên gan Nguyễn Súy, Đặng Dung
Nguyễn Cảnh Dị, Trùng Quang kiệt hiệt
Hồn non sông quyết chiến đến cùng

Bỗng thế giặc trùng trùng bao phủ
Đâu Chi La đâu những kẻ Vang
Đâu Trương Phụ đâu người họ Đặng
Đâu Trần – Chu đâu độ kinh hoàng

Quân cũng vỡ mà thành cũng vỡ
Nước sông La rưng mắt xuân về
Trùng Quang đế lui binh Thuận Hóa
Điểm cuối cùng mây nước sơn khê

Về đất cũ bước chân Nguyễn Biểu
Đến hang hùm tấc dạ non sông
Đấu nhau một trận cười khinh bạc
Cột gỗ sông La nước bềnh bồng

Giết Nguyễn Biểu máu không nhỏ xuống
Mà Chi La đau thắt kinh hoàng
Nửa đêm nước lớn qua cầu nhỏ
Sáng dậy khung thành mấy chữ ngang

Tràn thủy bộ nhà Chu nam tiến
Ở nơi đâu trận địa cuối cùng
Sái Già cô phụ lòng non nước
Tưởng được khinh thù, kiết hóa hung

Đùng đùng đánh úp thuyền Trương Phụ
Giặc thoát đường tơ lúc gặp nàn
Kiếm sĩ đau lòng cơn thất bại
Từ đây quân tướng biệt giang san

Nguyễn Cảnh Dị không hàng mắng giặc
Tiết tháo nầy như thể trao tay
Khi xưa Bình Trọng, Hy Chu thác
Nay tiếc chi thân, thế cuộc này

Vua Trùng Quang, Đặng Dung, Nguyễn Súy
Nửa đường về đất bắc Đông Quan
Ai người tuẫn tiết không bia đá
Chỉ có trăng soi dạ đá vàng

Người đã chết xa trông tổ quốc
Cuộc điêu tàn bò lấn sang đâu
Ngàn xưa nô lệ chưa đi hẳn
Lặp lại hai vai nặng cơ cầu

Sở Hà Bạc kinh thu đất muối
Mỏ vàng cao đãi nhặt thu đi
Lụa là tơ dệt đo không hết
Mà hỏi ra thân chẳng có gì

Ty bố chính vua Minh sai sử
Hoàng đế nầy khôn khéo hơn xưa
Vỗ về mấy bọn gian thần ấy
Ủy lạo an dân khéo lọc lừa

Thu sử sách còn đâu hoàng điển
Đại Việt thiên sử ký Văn Hưu
Lý Trần mất hết từng thư tịch
Xóa bỏ, bôi son vạn oán cừu

Tứ đại khí lần hồi mất biệt
Phu đốt đồng ngơ ngẩn trời mây
Đốt cho hồn Việt tan như khói
So ra Vĩnh Lạc nặng nợ nầy

Minh Thành Tổ nhân thân phiên bá
Con Nguyên Chương phiên trấn bắc thành
Cướp ngôi người cháu Minh Huệ Đế
Bình Nguyên thù Việt sử còn xanh
________________________________________

*Thuật Hoài của Đặng Dung được tìm thấy trong Toàn Việt Thi Lục của học giả Lê Qúi Đôn. Bài thơ mang mang hào khí Đông A của một thời hậu duệ. Có chí lớn, có lòng kiên nhẫn, nhưng thời không có. Tâm phò vua tìm độc lập cho nước nhà mạnh như xoay được trái đất mà không thành. Ước muốn có một ngày thanh bình để bỏ kiếm cung chưa đạt được, mà đầu đã điểm sương. Nhiều vị tiền bối đã dịch từ nguyên tác chữ Hán ra Quốc Ngữ. Bản dịch của nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là một ví dụ:

Việc đời man mác tuổi gìa thôi
Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi
Gặp gỡ thời cơ may những kẻ
Tan tành sự nghiệp luống cay ai
Phò vua bụng những mong xoay đất
Gột giáp sông kia khó vạch trời
Đầu bạc giang sơn thù chưa trả
Long Tuyền mấy độ bóng trăng soi.

Ngay trong thời đương đại của chúng ta cũng có một số thi nhân dịch hoặc cảm tác bài thơ nầy. Chúng tôi không liên lạc được với qúi tác giả, nên không dám tự ý ghi vào đây. Chúng tôi chỉ ghi lại phần Cảm Tác Thuật Hoài Đặng Dung của mình:

Mang mang thế sự đầu sương điểm
Thiên địa ai người cuộc rượu say
Nhớ xưa thường khách thành cơ nghiệp
Nay bước anh hùng lại khó thay
Cứu nước ôm lòng xoay cuộc đất
Rửa gươm khó vạch dải ngân dày
Đầu bạc chưa xong cơn nợ nước
Gươm mài trăng khuyết rọi ngàn sau.

**Bốn trăm năm sau thời Hậu Trần, Lê Qúy Đôn có dịp đi ngang qua vùng Sơn Nam Hạ. Ông dừng lại bên bờ sông Đáy, nơi ngày xưa có thành Cổ Lộng. Dâu biển đi qua, nơi nầy đã thành vùng thổ canh thổ cư trồng đậu trồng mè. Ở đó, những nông phu đã chỉ cho ông thấy những còi kiếm rỉ sét mà họ tình cờ bới dưới lòng đất. Cảm khái cảnh vật trước mắt, nhà thơ họ Lê nhớ về trận đánh thành Cổ Lộng xưa, mà thời gian vẫn chưa làm mòn hết những bi tráng của nó. Bên cạnh nỗi u hoài về một Hậu Trần mai một, tác giả cũng muốn nhắn gởi đời sau đừng quên rằng tổ tiên quân xâm lăng chỉ có 9 châu huyện bên trời đất bắc.

Trong Quế Đường Thi Tập, nhà thơ họ Lê đã viết bài Cổ Lộng Thành như sau:

Vạn vật suy di tứ bách thu
Qua đằng đậu mạn phóng xuân thu
Bích ba dĩ tẩy Trần vương hận
Thanh thảo nan già Mộc Thạnh tu
Hoàng độc vũ dư canh cổ kiếm
Hàn cầm nguyệt hạ táo tàn lâu
Phong cương hàn sự cân khai thác?
Nghiêu Thuấn đương niên chỉ cửu châu.     (Ký, Duyện, Thanh, Từ, Dương, Kinh, Dự, Lương, Ung)

Nhân Phủ dịch:

Hơn bốn trăm năm cuộc bể dâu
Đậu, dưa tươi tốt lấn bên nhau
Sóng tràn lâng sạch hờn Trần đế
Cỏ rậm khôn che thẹn Mộc hầu!
Trâu kéo ruộng mưa tròi cổ kiếm
Chim run bóng nguyệt nép tàn lâu
Ai về nhắn lũ xâm lăng nọ
Tiếng dậy Đường Ngu chỉ chín châu.


<<  |  >>