Skip to content

Chương mười ba

NHÀ TIỀN LÊ: BÌNH TỐNG DẸP CHIÊM

(980-1009)

      Sau khi diệt quân “phản tặc” Nguyễn Bặc, Đinh Điền và Phạm Hạp, thì ấu vương Đinh Toàn phải đối mặt với một cường địch phương bắc: nhà Tống. Xin nhắc qua một chút lịch sử của nước láng giềng nầy để thấy nhà Tống không phải dễ dàng đối phó. Năm 907 Chu Ôn cướp ngôi nhà Đường lập ra Hậu Lương. Năm 923 Hậu Lương mất bởi Hậu Đường. Năm 936 Hậu Đường mất bởi Hậu Tấn. Năm 947 Hậu Tấn mất bởi Hậu Hán. Năm 951 Hậu Hán mất bởi Hậu Chu. Năm triều đại vừa nêu gọi gọi là Ngũ Đại. Họ lần lược làm chủ một lãnh thổ đầy bất ổn với nhiều phiên thần không chịu tuân phục. Đó là 10 nước nhỏ xung quanh luôn luôn đánh phá lẫn nhau gọi là Thập Quốc. Trong thời Ngũ Đại Thập Quốc nầy quân Nam Hán (là một nước trong thập quốc) đã xâm lăng nước ta và bị đánh bại trên sông Bạch Đằng năm 938.

      Nhà Hậu Chu là đại thứ 5 truyền đến đời vua thứ 3 thì có biến. Đó là tháng giêng năm 960, tổng chỉ huy quân đội  Triệu Khuông Dẫn tạo binh biến ở làng Trần Kiều mà cướp ngôi nhà Hậu Chu. Hậu Chu Cung Đế mới có 6 tuổi vừa làm vua được 6 tháng bị ép phải nhường ngôi. Triệu Khuông Dẫn lập ra nhà Tống và lên ngôi tức Tống Thái Tổ. Là nhà chính trị giỏi, trong 16 năm làm vua, Tống Thái Tổ đã dần dần  thống nhất đất nước. Đến năm 976 khi ông qua đời, thì ở phía nam chỉ còn nước Ngô Việt (nước nầy là lãnh thổ nước Việt cũ và một phần lãnh thổ nước Ngô cũ thời Chiến Quốc) là chưa thu thập được. Ở phía bắc còn lại nước Bắc Hán đương liên kết với nhà Liêu để chống nhà Tống. Đó là lúc người em là Triệu Khuông Nghĩa lên thay tức Tống Thái Tông. Vị vua thứ hai nầy diệt Ngô Việt năm 978 và diệt Bắc Hán 979. Thập quốc đã hoàn toàn bị thu thập.

      Bấy giờ lãnh thổ của nhà Tống đã rất lớn, nhưng vẫn muốn bành trướng. Khi nghe tin vua Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát hại, liền mượn cớ đưa quân qua can thiệp. Triệu Khuông Nghĩa đã sai sứ mang thư chiêu dụ, nhưng Hoa Lư không nghe. Sau đó với lời lẽ trịch thượng, vị vua Tống nầy ra chỉ dụ đầy đe dọa, làm Dương thái hậu và triều thần Hoa Lư vô cùng lo sợ. Tin đưa về cho thấy không phải nhà Tống chỉ dọa suông, chúng đang sẵn sàng ở biên giới. Đứng trước tình thế ấy, Phạm Cự Lượng thỉnh cầu Lê Hoàn lên ngôi thiên tử vì nhà vua họ Đinh còn nhỏ quá không thể lãnh đạo đất nước trước tình hình. Như đã chuẩn bị từ trước, thái hậu Dương Vân Nga đã mau chóng bằng lòng, khác với thường tình của một thái hậu trong thời phong kiến.

      Nhà Đinh chấm dứt. Lê Hoàn lên làm vua tức vua Lê Đại Hành. Đầu tiên ông lấy niên hiệu Thiên Phúc, và vẫn giữa quốc hiệu Đại Cồ Việt. Ông là một nhà quân sự lỗi lạc. Ông cho rèn luyện binh sĩ, chuẩn bị lương thực, và kêu gọi cả nước chống xâm lăng. Trong lúc quân Tống chuẩn bị tấn công, ông cho quân tiến ra bắc, tăng cường các cứ điểm trọng yếu. Quân Hoa Lư ngược dòng sông Đáy, sông Nhuệ, băng qua sông Hồng. Tại đây ông để Trần Công Tích trấn giữ Nghĩa Đô, Lữ Lang trấn thành Bình Lỗ, Hoàng Vĩnh Chu và Đào Trực ở Tây Kết. Ba cứ điểm nầy cốt yếu bảo vệ  mặt bắc Nhị Hà có ba cổ thành Cổ Loa, Luy Lâu và Long Biên. Thân chinh nhà vua cùng các tướng Phạm Cự Lạng, Phạm Quảng, Nguyễn Triệt, Vũ Uy theo dòng sông Đuống đến sông Lục Đầu. Tại đây họ lập một hậu cứ tiếp tế. Đại quân ngược dòng sông Thương kéo đến Chi Lăng đón địch.

      Tháng 2 năm 981, Tống Thái Tông Triệu Khuông Nghĩa cử tiết độ sứ Ung Châu là Hầu Nhân Bảo thống lãnh quân nam chinh. Quân số lên tới bốn vạn người gồm cả thủy bộ. Trong đó hai cánh quân bộ là lực lượng chính. Cánh thứ nhất do vị thống lãnh họ Hầu trực tiếp chỉ huy khởi binh từ Ung Châu tiến đến Lạng Sơn. Đi theo cánh nầy có các tướng Quách Quân Biện và Giả Thực. Cánh thứ hai do Tôn Toàn Hưng chỉ huy từ Hiệp Phố tiến về tây nam gặp quân Hầu Nhân Bảo ở Lạng Sơn. Còn hai cánh quân thủy, một ở Bạch Đằng do Lưu Trừng điều động, cánh thứ hai chạy về Tây Kết do Trần Khâm Tộ chỉ huy. Hai cánh quân thủy nầy nằm chờ phối hợp với đại quân từ Lạng Sơn kéo xuống. Nhưng, họ đã không gặp được nhau. Chủ lực quân đã bị sa lầy ở Lạng Sơn. Tống – Việt đã để lại một trận thư hùng lịch sử. Đó là trận Chi Lăng 981.

      Mùa xuân, tháng hai. Khi mà bóng dáng tết nguyên đán tân tỵ năm 981 chưa đi khỏi, thì quân xâm lăng đã qua biên giới. Mặt trời còn đứng bóng mà người ngựa quân Tống băng qua triền núi Kai Kinh. Đoàn di hành nầy phải đi qua đoạn đường rừng rậm quanh co để tiến về đông nam. Không biết ai đặt tên đoạn đường nầy là Ải Qủy, nhưng nó chỉ là một phần đầu của ải Chi Lăng. Bờ vực, ngoằn ngoèo và nhiều cây cổ thụ. Hết phần âm u nầy, đường bớt quanh co và không bị cây che dày đặt. Ở nhánh Ngõ Thề trên núi Bảo Đài phía đông nam, quân Đại Cồ Việt có thể nhìn thấy những bóng ngựa đang tiến tới. Khi toán quân Tống cuối cùng vừa qua nửa ải Chi Lăng thì bị tấn công.

      Chiến trận đến không tình cờ, và mặt trời còn ở trên đầu. Quân Tống bị phục kích. Cắt đoạn. Hai bên cận chiến. Họ chìm trong vùng chiến địa mấy ngày đêm. Từ ải Chi Lăng trải dài về về hướng đông tới dãy Đông Triều là trùng trùng rừng già mờ mịt. Quân nhà Tống như lạc vào mê đồ giữa rừng cây và đồi đá. Người và ngựa chạy một hồi lại bị phục kích như lần phục kích cũ. Bộ binh và kỵ binh xen lẫn nhau không còn định được phương hướng. Lòng chiến đấu vốn đã thấp, bây gìờ càng thấp hơn (đoàn bộ binh nầy một phần lớn lấy từ Ung Châu và Khâm Châu, họ là con cháu những thế hệ ông cha đã bị phương bắc xâm lăng). Họ chia thành từng nhóm chạy tan tác. Đến ngày thứ ba, quân Tống không còn ai có thể kiểm điểm được quân số. Các tướng nhà Tống lạc nhau. Hầu Nhân Bảo ngồi trên mình ngựa chưa định được lối đi, đã bị tên quân Nam bắn chết. Khi biết người bị chết là thống soái của đoàn quân xâm lăng, quân Nam reo hò và kêu gọi bên kia đầu hàng. Tướng Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân đành khuất phục, tướng Tôn Toàn Trung và Giả Thực chạy thoát. Trận Chi Lăng kết thúc. Quân chiến thắng thu quân về với cả ngàn tù binh, trong đó có hai tướng họ Quách và họ Triệu. Tất cả được giải về Hoa Lư. Thủy quân ở Bạch Đằng và Tây Kết hay tin chủ lực quân đại bại, Lưu Trừng và Tô Khâm Tộ kéo quân về Tàu. Chiến tranh Việt Tống chấm dứt.

      Phá được giặc Tống, vua Lê Đại Hành dùng chính sách ngoại giao mềm dẻo với lân bang. Năm 982, Ông phóng thích tất cả tù binh, tạo một giao hảo bình thường với phương bắc. Ở phưong nam, ông cho hai sứ giả Ngô Tử Cảnh và Từ Mục sang Chiêm Thành để tìm một quan hệ tốt đẹp hơn giữa hai nước. Chiêm Thành là hậu thân của Lâm Ấp và Hoàn Vương đã qua nhiều triều đại và nhiều kinh đô. Trong năm 982 nầy thủ đô Chiêm Thành đương là Indrapura (Thăng Bình, Quảng Nam), chỉ cách cố đô Simhapura (Trà Kiệu Quảng Nam), chừng 30 dặm về phía nam. Không rõ thế nào, nhưng vua nước nầy là Paramesvaravarman I (Bê Mị Thuế) bắt giết hai sứ giả họ Ngô và họ Từ. Điều nầy làm vua Lê Đại Hành khởi binh. Ông tự mình dẫn quân thủy bộ tiến đánh thành Indrapura. Tại đây vua Lê giết vua Chăm và phá hủy thành trì rồi rút quân về, sau khi để một đạo quân ở lại.

      Về Hoa Lư, vua Lê Đại Hành trọng dụng những người có công trong lần bình Tống phạt Chiêm. Đặc biệt ba vị quan của triều nhà Đinh là Lưu Cơ, Trịnh Tú, và Nguyễn Đệ con của Nguyễn Bặc cũng được ông tin dùng. Bên cạnh đó ông lập cựu Thắng Minh hoàng hậu làm hoàng hậu. Không thấy tôn hiệu của vị hoàng hậu hai vua nầy, nhưng hai người sinh được một công chúa tên là Lê Thị Phất Ngân. Đó là người công chúa duy nhất, và không cùng một mẹ với 11 hoàng tử con của vua Lê Đại Hành. Nhà vua họ Lê cũng có tới 5 vị hoàng hậu không phân biệt chánh thứ cung như vua Đinh Tiên Hoàng.

      Năm 989 vua Lê Đại Hành phong người con cả, từng tham gia chiến tranh Việt Tống là Lê Long Thâu làm thái tử. Ông lần lược phong vương cho các con trai còn lại. Rất tiếc đến năm 1000 thì thái tử Thâu bị bệnh chết để từ đó sinh ra những rối ren tiếp theo. Người được chọn thay thế là Lê Long Việt, vị hoàng tử thứ ba chứ không phải hoàng tử thứ hai Lê Ngân Tích. Từ việc bỏ lớn lập nhỏ nầy sinh ra những xích mích ngầm giữa các hoàng tử. Và, nó đã bồng phát khi vua Lê Đại Hành qua đời vào 5 năm sau.

      Đó là những ngày đầu của tháng 3 năm 1005. Khi tang lễ vua cha vừa xong, thái tử Lê Long Việt lên ngôi tức vua Lê Trung Tông. Ông chưa thực sự ngồi nóng trên ngai vàng, thì có biến. Huynh đệ lập tức chia làm hai phe: Lê Ngân Tích kéo được Lê Long Đĩnh, người cùng mẹ và là em kế vua Trung Tông, về phe mình. Các hoàng tử nhỏ theo phò vua Lê Trung Tông. Nhà vua còn được sự ủng hộ của đạo quân bảo vệ hoàng thành Hoa Lư của điện tiền chỉ huy Nguyễn Đệ, và quân cấm thành của Lý Công Uẩn (người đã trở thành anh rể nhà vua, chồng của Phất Ngân công chúa). Cuộc chiến không đẫm máu, nhưng không phải là một xô xát bình thường. Quân của hai hoàng tử Ngân Tích và Long Đĩnh kéo về thành gặp sự kháng cự áp đảo của hai đạo quân họ Nguyễn và họ Lý. Lê Ngân Tích và tùy tùng bỏ chạy về Ái Châu. Lê Long Đỉnh vì là cùng mẹ với nhà vua nên được tha tội, và được ở lại trong cung.

      Vua Lê Trung Tông là người hiền đức đã bị chết vì tấm lòng nhân hậu của mình. Chỉ ba ngày sau ở lại hoàng cung, Lê Long Đỉnh đã thừa cơ giết vua anh để đoạt ngôi. Lê Long Đỉnh vốn là người tài cán hơn tất cả các hoàng tử khác, tự tin nơi chính mình. Ông tự xưng Đại Thắng Minh Quang hiếu hoàng đế, và vẫn giữ niên hiệu Ứng Thiên của vua cha. Tại hoàng thành Hoa Lư, nhà vua thứ ba nầy nặng tay dẹp yên những mầm phản kháng. Mọi người đều sợ hãi. Ở ngoài thành, ông tiêu diệt các hoàng tử khác đương chiêu quân phản kháng ông. Hoàng tử thứ sáu Lê Long Cân và hoàng tử thứ chín Lê Long Kính bị diệt tại căn cứ Phù Lan. Hoàng tử thứ tư Lê Long Đính bị chết ở châu Phong. Hai lực lượng phản kháng nầy, tới tháng 10 năm 1005 thì ông diệt xong.

      Tình hình xáo trộn hoàng tộc đã yên, nhưng để lại trong lòng người một mối ly tán và kinh hoàng. Trong vòng bảy tháng vua Lê Long Đỉnh đã giết bốn người anh em ruột để đoạt ngôi và giữ ngôi. Lòng người run sợ, nhưng giặc cướp lại nổi lên. Cuối năm 1005 giặc Cử Long phía nam lại kéo đến cửa biển Thầu Đầu cướp phá, nhà vua thân chinh cầm quân đi dẹp (giặc Cử Long đã từng khuấy rối thời vua Lê Đại Hành, và vị phế vương Đinh Toàn đã bị chết bởi giặc nầy khi đi vào một thế yếu không thể kháng cự). Năm 1008, vua Lê Long Đỉnh tự mang quân dẹp giặc người Man ở Đô Lương và Vị Long. Cùng trong năm nầy ông dẫn quân đi dẹp giặc ở châu Hoan và châu Thiên Liêu. Qua năm sau 1009, giặc từ châu Hoan liên kết với giặc ở bờ đông châu Ái để cướp phá, nhà vua lại một lần nữa thân chinh đi tiêu diệt. Như vậy, trong 4 năm, từ năm 1005 đến 1009, nhà vua nầy thân chinh đi dẹp giặc 4 lần.

      Vua Long Đĩnh còn giữ niên hiệu Ứng Thiên của vua cha đến 3 năm sau, năm 1008, mới đổi là Cảnh Thụy. Năm Ứng Thiên thứ 14 tức năm 1007, nhà vua sai em là Minh Xưởng và chưởng thư ký Hoàng Thành Nhã đi sứ qua Tàu. Họ dâng tê ngưu trắng để xin Đại Tạng Kinh của Phật giáo, và vua Tống Chân Tông đã thuận cho. Cả hai mặt ác và thiện đều có trong con người Lê Long Đĩnh, nhưng chắc một điều ông là vị vua biết chăm lo việc nước. Ngoài việc dẹp giặc nêu trên, năm 1009 vua Long Đỉnh điều đình với vua Tống cho đặt một trạm trao đổi hàng hóa ở Ung Châu nhưng vua Tống chỉ bằng lòng đặt ở châu Liêm và trấn Như Hồng. Trong cùng năm 1009 nầy, nhân một lần đi Ái Châu, ông cho lập nhiều bến đò ở sông Vũ Lũng để dân qua lại. Trước đó thì không ai dám đi qua, vì tin là có thủy quái hoặc hà bá rình để bắt người. Ông đã làm con sông trở nên sáng sủa có những chuyến đò ngang dọc. Sau lần đi Ái Châu về, ông bị bệnh nặng không thể tham triều được nữa.

      Trong lúc nhà vua chờ chết không thấy ai nhắc tới vị thái tử nhỏ tuổi Lê Long Sạ, mà nhắc đến những tin khác. Đâu đó người ta nhắc tới một ông vua hiếu sát vả đam mê sắc dục đến phải ngọa triều. Đâu đó người ta nói tới lời sấm truyền từ cây đa bị sét đánh ở làng Cổ Pháp. Đâu đó người ta nói đến loạn lạc khắp nơi báo hiệu một triều đại sắp bị diệt vong. Mất tiệt hoàng tử bé thơ Lê Long Sạ. Do đó, quan chi hậu nhà Lê Đào Cam Mộc tôn Lý Công Uẩn lên làm vua không phải là chuyện tình cờ.

Ngược dòng lịch sử về phương bắc
Từ lúc Lưu triều khóc Hoằng Thao
Ở đây còn loạn thời Ngũ Đại
Mười nước xô nhau đổ máu đào

Ngũ Đại bước qua thời Chu hậu
Đầu Hậu Chu hưng thịnh hai vua
Cuối cùng Tông Huấn vua thơ ấu
Biến loạn mà như giống chuyện đùa

Trần Kiều binh biến không đổ máu
Hậu Chu thiện nhượng bỏ giang san
Khuông Dẫn lên ngôi thu Thập Quốc
Bức cả muôn phương phải phục hàng

Rồi một buổi sang đông bính tý (10/976)
Tống Thái Tông thay nghiệp vua anh
Đem quân chinh phạt nhà Bắc Hán
Liên quân Liêu-Hán vỡ tan tành

Tân Tống đế vốn tên Khuông Nghĩa
Bình trung nguyên muốn lấn nam phương
Bá quyền mộng cũ ngàn năm trước
Chọn tướng nam chinh định sa trường

Hầu Nhân Bảo vốn dòng võ tướng
Người Lạc Dương tri nhậm Ung Châu
Được vua họ Triệu ban ấn soái
Mượn gót nam chinh định công hầu

Quân nhà Tống chia hai quân bộ
Từ Ung Châu, Nhân Bảo khởi binh
Toàn Hưng phó soái bên đông ngạn
Hẹn gặp Lạng Sơn dấy gió kình

Quân chưa tới quân Nam đã sẵn
Tống Thái Tông kiêu mạn bá vương
Dễ hồ dụ phục mà cho được
Chiến trận đôi bên đọ chiến trường

Trở lại nam phương thời ấu chúa
Quyền trong tay thái hậu – Lê Hoàn
Đem tình riêng cọng với giang san
Thế giặc Tống, hoàng bào đổi chác

Vốn tài giỏi Lê Hoàn trận mạc
Nước ngửa nghiêng rõ mặt anh tài
Chuyện phế quân không luận đúng sai
Vì nước cỏ cây còn hợp lại

Phạm Cự Lạng nhân danh tướng sĩ
Cầu Lê Hoàn tức vị xưng vương
Từ đây khởi nghiệp Tiền Lê tộc
Đại Hành hoàng đế một minh vương

Thân chinh hoàng đế đi đánh giặc
Từ Hoa Lư bắc tiến không dừng
Ngược dòng sông Đáy qua sông Nhuệ
Quân tiến sông Hồng quân với quân

Đường sông Đuống thuyền quân quân tiến
Bến Lục Đầu sóng biếc sông nao
Quân đi theo sóng về xứ bắc
Ghềnh đá non cao đến xứ nào

Đâu nước sông Thương bờ núi đá
Đâu Kai Kinh vọng gió quan hà
Chi Lăng ngờm ngợp trời non nước
Nửa hồn quân địch nửa hồn ta

Quân phương bắc tràn qua ải Qủy
Quân phương nam phục nhánh Ngõ Thề
Đôi bên hò hẹn chưa từng hỏi
Nếu chết quê người xa lắc quê

Quân phương bắc không lòng chiến đấu
Quân phương nam nặng nợ non sông
Đôi ngày quần thảo dài truông ải
Đá sạn còn in máu ngựa hồng

Ngựa hồng buông lỏng chốn xa xôi
Chi Lăng nhuộm thắm núi xanh rồi
Chiều qua lại nối chiều qua nữa
Máu thấm vơi đầy đất nước tôi

Ngựa hí đường xa chậm bước chân
Quay nhìn tứ phía núi xoay vần
Soái quân phương bắc Hầu Nhân Bảo
Đón mũi tên bay bỏ cuộc trần

Tướng Tống đã lìa xa chiến cuộc
Cả binh Nam cũng dạ bất ngờ
Tiếng reo núi đá vang rền đá
Sinh tử đôi bờ một kẻ tơ

Buông gươm quá nửa quân binh giặc
Máu bớt loang đi đất cũng mừng
Lưu Trừng, Giả Thực về đâu đó
Có gặp nơi nào tướng Toàn Hưng?

Ở đây còn có thêm Quân Biện
Vũ tướng tiên phong đã buộc hàng
Đại Hành hoàng đế tha quân giặc
Mong máu oan thù bớt vết loang

Ngoại giao mềm dẻo trong quốc sách
Oán thù không cột để an quân
Lưu Cơ, Trịnh Tú đều trọng dụng
Triều Tống lân bang biết tiến dừng

Tiếc thay Chiêm quốc dùng vũ lực
Mà bắt sứ thần phải động binh
Vua Lê thần tốc đi chinh phạt
Mất dấu thần kinh mất thái bình

Tại triều na ná Đinh triều trước
Hoàng hậu năm người giống vua Đinh
Tiếc thay hương sắc ân tình cũ
Lịch sử đời sau lắm bất bình

Thắng Minh hoàng hậu nay hoàng hậu
Cung chủ hai đời cả Đinh Lê
Sử xanh không thấy ghi tôn hiệu
Mà thấy Sĩ Liên trách chốn về

Nhà Lê còn giống bao điều nữa
Có kẻ tranh quyền có máu pha
Bình Chiêm đánh Tống như từng đã
Mà giặc anh em mất cả nhà

Ai người thái tử không thọ mạng
Ai kẻ ngôi vua chỉ mấy ngày
Ai lạc đường xa về châu Ái
Ai chết nơi nào ai có hay?

Bàn tay Long Đỉnh máu Trung Tông
Cùng cha cùng mẹ dạ không đồng
Treo chi ngôi báu lên huynh đệ
Để mất sơn hà mất núi sông

Lê Long Đỉnh lên ngôi cửu ngũ
Chỉ bốn năm năm trận thân chinh
Đặt đò Vũ Lũng cho dân sống
Thiện ác đi qua lắm ẩn tình*

Tiếc thay nhân thế là như thế
Sai quấy đôi phen hóa mất lòng
Ác thiện vô cùng không tại tánh
Tiếng đời để lại có hờn vong?

Ai người dỡ lại trang sử cũ
Có thấy nơi nào đứa bé thơ
Long Đỉnh chết đi còn thái tử
Long Sạ tăm hơi biệt bao giờ!

_____________________________________

 * Vua Lê Long Đĩnh: Lịch sử Việt Nam khi nói đến một ông vua tàn ác và dâm dật đến nỗi không ngồi mà thiết triều được, người ta nghĩ ngay đó là vua Ngọa Triều Lê Long Đỉnh.  Sử gia Ngô Sĩ Liên viết ở phần cuối của bản kỷ toàn thư quyển 1b trong ĐVSKTT như sau:  “Vua tính hiếu sát, phàm người bị hành hình, hoặc sai lấy cỏ gianh quấn vào người mà đốt, để cho lửa cháy gần chết, hoặc sai kép hát người Tống là Liêu Thủ Tâm lấy dao ngắn dao cùn xẻo từng mảnh để không được chết chóng. Người ấy đau đớn kêu gào thì Thủ Tâm nói đùa rằng: ‘Nó không chịu chết’. Vua cả cười. Đi đánh giặc mà bắt được tù thì giải đến bờ sông, khi nước triều rút, sai người làm lao dưới nước, đến khi nước triều lên, ngập nước mà chết; hoặc bắt trèo lên ngọn cây cao rồi chặt gốc cho đổ, người rơi xuống chết. Vua thân đến xem lấy làm vui. Có lần vua đến sông Ninh, sông ấy nhiều rắn, vua sai trói người vào mạn thuyền, đi lại giữa dòng muốn cho rắn cắn chết. Phàm bò lợn muốn làm thịt thì tự tay vua cầm dao chọc tiết trước, rồi mới đưa vào nhà bếp sau. Có lần vua róc mía trên đầu sư Quách Ngang, giả vờ lỡ tay lên đầu sư bị thương chảy máu rồi cả cười. Hoặc nhân yến tiệc, giết mèo cho các vương ăn, ăn xong lấy đầu mèo giơ lên cho xem, các vương đều sợ, vua lấy làm thích. Mỗi khi ra chầu, tất sai bọn khôi hài hầu hai bên; vua có nói câu gì thì bọn ấy nhao nhao pha trò cười để cho loạn lời tâu của quan chấp chính. Lại lấy thạch sùng làm gỏi, bắt bọn khôi hài tranh nhau ăn. Mùa đông, tháng 10, ngày tân hợi vua băng ở tẩm điện được gọi là ngọa triều, vì vua mắc bệnh trĩ phải nằm coi chầu.”

      Tuy nhiên, Chúng ta thử tìm hiểu về thời gian bản lề giữa hai triều Lê – Lý lúc đó. Lê Long Đỉnh giết anh em để đoạt và giữ ngôi là có thật. Chính vì điều nầy đã tạo ra khuynh hướng lật đổ nhà vua để thay đổi một triều đại mới. Cây gạo tại làng Cổ Pháp bị sét đánh, nhựa cây chảy ra mà đọc được một bài sấm có ngụ ý là một chứng minh. Những người thân cận của điện tiền hữu sứ Lý Công Uẩn đã chuẩn bị. Sự chuẩn bị nầy sẽ không thành công nếu vua Long Đỉnh không là một ông vua xấu ác. Do đó nhà Lý cố tình nhân rộng sự xấu ác của vua Lê Long Đỉnh thành sự giết người dã man bịnh hoạn đầy thú tính. Chưa hết, họ còn tạo ra một ông vua rượu chè dâm dật đến suy nhược mất khả năng lãnh đạo.

      Đời nhà Lý chưa có bộ sử lớn, nhưng dĩ nhiên trong triều phải ghi lại những diễn biến khởi nghiệp. Trong đó cái ác và cái xấu của kẻ bị gạt bỏ phải được nhân lên để thấy cái chính nghĩa của mình. Những văn bản đó phải có, và đến đời Trần, sử gia Lê Văn Hưu lấy đó chép làm sử. Qua ĐVSKTT của sử gia Ngô Sĩ Liên cũng ghi như thế. Qua Khâm Định Thông giám Cương Mục của các sử quan triều Nguyễn đều dựa vào đó mà ghi như thế. Tuy nhiên, ở các bộ sử nầy còn nói đến cái thiện ở một số trường hợp của vua Lê Long Đỉnh.

      Nhưng gần đây nhất, năm 1919, sử gia Trần Trọng Kim vì viết quá gọn đã không dành một chữ thiện nào cho vị vua nầy. Đây là bộ Việt Sử đầu tiên được viết bằng Quốc Ngữ, và được đưa vào sách giáo khoa của hai bậc tiểu và trung học. Nó rất phổ cập, làm mất biệt những điều tốt mà vua Lê Long Đĩnh đã làm.

      Vì thế, chúng ta thử lục lại những bộ sử cũ nêu trên, may ra có tìm thấy cái nhân bản, cái công lao, cái thiệt thòi nào của vua Lê Long Đỉnh hay chăng? Vua Lê Long Đỉnh làm vua 4 năm từ năm 1005 đến 1009. Theo thứ tự thời gian, ĐVSKTT đã ghi lại những sự như sau:

     “ Mùa xuân tháng hai năm bính ngọ 1006 vua phong con trưởng là Sạ làm Khai Phong vương”. Điều nầy chứng tỏ vua có con, nhưng đến khi vua chết thì không thay cha làm vua như thời phong kiến. Đến tháng 10 năm 1009 chỉ nói con vua còn nhỏ nên tôn Lý Công Uẩn lên làm vua. Đây là một thiệt thòi của vua Lê Long Đỉnh, nếu không muốn nói là bị soán đoạt ngôi vua. Phải có ai đó đã giết hoặc giam cầm thái tử Sạ.

      “Mùa xuân năm đinh mùi 1007, vua sai em là Minh Xưởng và chưởng thư ký là Hoàng Thành Nhã dâng tê ngưu trắng cho nhà Tống để xin kinh Đại Tạng”. Điều này ít ra cũng cho thấy nhà vua có tấm lòng cầu thiện. Nếu bảo thỉnh kinh Phật là mỵ dân? Cũng có thể, nhưng kẻ mỵ dân thì không làm việc tàn bạo mà để cho người khác thấy.

      “Mậu thân 1008, niên hiệu Cảnh Thụy năm thứ nhất, vua thân chinh đi dẹp giặc ở hai châu Đô Lương và Vị Long”. Ở đây cho thấy đến hơn hai năm sau khi lên ngôi, vua mới dùng niên Cảnh Thụy thay cho niên hiệu Ứng Thiên của vua cha. Điều nầy cho thấy ông là người không tranh cường quá đáng. Mình làm vua thì niên hiệu phải là của mình dù một ngày. Đặc biệt, việc thân chinh đi dẹp giặc 2 lần trong một năm, có thể cho chúng ta hình ảnh một ông không bịnh hoạn và biết lo cho dân.

      “Kỷ dậu 1009, Cảnh Thụy thứ hai, vua thưong lượng đặt trạm trao đổi hàng hóa tại chợ ở Ung Châu, nhưng vua Tống chỉ bằng lòng ở Liêm Châu và trấn Như Hồng.” Đây là cái nhìn về ngoại giao mang lợi về cho đất nước mà trước đó chưa có ai làm. Sử không ghi việc làm ngoài biên cương nầy sinh lợi thế nào, nhưng đây việc làm của một ông vua biết lo xa cho dân. Ông không thể là người bịnh họan đùa nghịch trên cái chết của người khác làm vui.

      “Cùng trong năm 1009 nầy Ngô đô đốc và Kiều hành khiển dâng biểu xin đào kênh, đắp đường, dựng cột bia ở Ái Châu. Vua xuống chiếu cho lấy quân và dân ở châu ấy đào đắp từ Vân Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lũng. Một lần vua đến một khúc sông của sông Vũ Lung nầy theo tin đồn là một khúc sông dữ, nhiều người lội qua bị hại. Vua cho quân lính lội qua lại nhiều lần và không có chuyện gì xảy ra. Vua xuống chiếu đóng thuyền ở các cửa sông Vũ Lung, Bạt Cừ, Động Lung để dân chúng qua lại. Từ đây mọi sinh hoạt đều bình yên không còn những tin đồn ma quái”. Qua hai việc làm ở châu Ái nầy, càng chứng tỏ vua là người biết cải cách và sáng suốt lo cho đất nước.

      “Trong tháng 7 năm 1009 nầy vua thân chinh đi dẹp loạn ở châu Hoan Đường và Thạch Hà. Vua sai Hồ Thủ Ích sửa đường sông để ra cửa biển, nhưng khi chiến thuyền ra ngoài biển thì trời trở giông gió, vua cho tấp thuyền vào bờ trở về không đi nữa”. Đây là hình ảnh một ông vua sẵn sàng đi dẹp giặc, nhưng biết liệu tình hình. Không vì cái cái lợi nầy mà vướng vào cái hại khác. Nhà vua là người tính toán cân nhắc trước khi làm.

      Từ đó, nhà vua trở về và bị bịnh. Ông băng hà vào ngày 19 tháng 11 năm 1009. Với 4 tháng cuối đời có thể ông không tham chầu được, nhưng không thể vẽ ông trở thành ông vua vì rượu và đàn bà để đến nỗi gọi là vua ngọa triều.

      Với tất cả những tốt và xấu mà vua Lê Long Đỉnh đã làm, nếu trách ông đã giết anh em để đoạt ngôi, thì cũng nên nhìn nhận công lao của ông. Và, có lẽ chúng ta nên cảm được ông đã gánh chịu một oan sai mà lịch sử đã đi qua.

      Thái tử Lê Nguyên Sạ chắc chết ở một nơi nào đó. Cậu bé nầy không làm vua được để phong cho cha mình một thụy hiệu tốt hơn và đặt ông một miếu hiệu cũng là một oan sai. Trước hào quang nhà Lý, lịch sử đà chà lên vị thái tử cuối cùng nhà Tiền Lê như chà lên một hạt bụi.

 


<<  |  >>