Skip to content

Chương một

NHÀ HỒNG BÀNG LẬP QUỐC

(2879-258 TCN)

      Trời đất uyên nguyên, dòng luân lưu của muôn loài vẫn chảy từ vô thỉ. Từ lúc hoang xưa, khi xã hội chưa thành lập, thần tiên và người thường có duyên gặp nhau. Trước công nguyên khoảng trăm ngàn năm, thế giới còn hoang hóa. Đôi bên bờ sông mà sau nầy gọi là Trường Giang hay Dương Tử chưa hình thành một quốc gia nào. Cuối miền hữu ngạn của dòng sông, gần biển Thái Bình có dãy núi Ngũ Lĩnh. Tại đây có một mối tình rất nên thơ giữa thần và tiên. Chàng tên Hồng Lạc, con của Thần Long vương vị chủ quản vì sao Xích Hỏa ở ngoài thái dương hệ mặt trời. Nàng tên Vụ Tiên, con của tiên chúa núi Ngũ Lĩnh. Hồng Lạc có sức mạnh như rồng và lòng nhân ái, thường vân du khắp ba cõi để cứu người. Nhân gian gọi chàng Thần Long.

Cứ vào độ tháng ba, khi khí trời ấm áp, muôn hoa đua nở, thì người ta thấy họ gặp nhau. Thần Long bằng đôi cánh chim màu hồng to lớn bay về từ cõi vô tận và ngừng lại trên bờ đông biển Thái Bình. Vụ Tiên bao giờ cũng thướt tha tà áo trắng, bay cao trên nền trời để đón người yêu. Họ thường dạo chơi trên Ngũ Lĩnh, Hoàng Liên Sơn và các hải đảo ngoài khơi.

Trải qua vô số mùa xuân nhân gian như thế, hai người quyết định trở thành vợ chồng. Họ sinh một trai đặt tên là Lộc Tục. Lộc Tục lớn khôn trở thành một chàng trai vô cùng dũng cảm và thông minh. Lộc Tục thường giúp đỡ mọi người chống trả với thiên nhiên và mãnh thú. Cả một vùng mênh mông từ núi Ngũ Lĩnh phương bắc đến nước Hồ Tôn phương nam, các sắc tộc cư dân đều biết chàng. Hồ Tôn là nước phía nam dãy Hoành Sơn, ở đó có những dân tộc đến từ vùng tây vực lâu đời. Khoảng ba ngàn năm TCN dân chúng từ núi Ngũ Lĩnh đến Hoành Sơn tôn Lộc Tục lên làm vua.

Vua xưng hiệu Kinh Dương vương*. Để nhớ về cội nguồn, vua đặt tên nước là Xích Qũy. Xích Qũy là một vùng đất mênh mông: Bắc giáp sông Trường Giang. Nam giáp Hoành Sơn. Tây giáp nước Ba, nước Thục và dãy núi Pu Lai Leng. Đông giáp biển Thái Bình.  Ngũ Lĩnh được chọn làm kinh đô.  Đến tuổi lập gia thất, vua xin cưới con gái của Động Đình quân ở Động Đình hồ vợ. Hai người sinh được một trai đặt tên là Sùng Lãm. Sùng Lãm lớn khôn được vua cha truyền ngôi, xưng hiệu là Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân xin cưới con gái của vị vua phía bắc sông Trường Giang làm vợ. Nàng tên Âu Cơ, rất đẹp và rất giỏi về y thuật. Âu Cơ thường tìm hoa hoàng liên trên núi Hoàng Liên ở phía nam núi Ngũ Lĩnh về cứu người.  Hai người sinh hạ được nhiều con, và theo thời gian các con lớn dần. Tuy nhiên, cũng theo thời gian ấy, Lạc Long Quân chạnh nhớ về cội nguồn. Ông quyết định về thăm quê cha. Người vợ Âu Cơ ở lại, không theo chồng. Lạc Long Quân bịn rịn trong phút chia tay rồi bay về sao Xích Hỏa. Thời gian ở sao Xích Hỏa khác với thời gian ở nhân gian, nên khi các con đã khôn lớn mà Lạc Long Quân vẫn chưa về.

Bấy giờ cư dân Xích Qũy tăng dần, nên mẹ Âu Cơ chia lãnh thổ ra từng vùng và giao cho các con cai quản. Ở phía bắc trở thành các dòng Đông Việt, Mân Việt, Sơn Việt, Tây Âu, Âu Việt… Phần đất còn lại từ sông Quây Sơn có thác Bản Giốc đến biên giới Hồ Tôn, mẹ giao cho người con trưởng tên Hùng Lân. Hùng Lân lên ngôi xưng hiệu là Hùng Vương, và là vua của dòng Lạc Việt. Vua đặt tên nước là Văn Lang và đóng đô ở Phong Châu. Thủ đô Phong Châu dựa lưng vào núi Nghĩa Lĩnh, nhìn về phù sa sông Lô và sông Hồng. Đó là  thủ đô đầu tiên của dòng giống Lạc Việt.

Vua chia nước ra làm 15 xứ: Việt Thường, Ninh Hải, Cửu Đức, Vũ Định, Giao Chỉ, Chu Diên, Dương Tuyền, Hoài Hoan, Bình Văn, Cửu Chân, Lục Hải, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Tần Hưng và Văn Lang. Mỗi xứ có lạc hầu thay vua chăm sóc dân, và có quan lạc tướng phụ giúp. Dưới nữa có quan bố chính ở miền xuôi, và các vị tù trưởng ở miền núi. Cha truyền con nối, tính từ Kinh Dương vương (Lộc Tục) lên ngôi năm 2879 trước công nguyên (không tính thần long Hồng Lạc vì ngài trở về sao Xích Hỏa để làm vua) đến vua Hùng Vương cuối cùng mất ngôi năm 258 trước tây lịch gồm 18 kỷ vua**. Mỗi kỷ vua có ít nhất hai đời vua. Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân là kỷ thứ nhất, kỷ tối thượng cổ, hay gọi là kỷ thần tiên.

Sau kỷ thần tiên nầy, còn mười bảy kỷ vua nữa kéo dài đến năm 208 TCN. Đó là lúc vị vua Hùng cuối cùng của kỷ thứ 18 bị rơi vào tay nhà Thục. Suốt thời gian dài hơn hai ngàn năm đó, tổ tiên chúng ta đã có một nền văn hóa trải dài, mà thời kỳ văn hóa Đông Sơn*** là một ví dụ. Trống đồng, và những di vật khác của thời kỳ nầy đã được tìm thấy. Bên cạnh những thực tế đó thì trong dân gian truyền miệng những Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Sơn Tinh Thủy Tinh và chuyện trầu cau… Tất cả đã nói lên văn hóa Việt đã có thời thời Hồng Bàng.

Đất trời thổi mãi về vô lượng
Nòi giống từ đâu bước khởi nguyên
Kinh Dương vương khai sinh Xích Qũy
Lạc Long Quân kế tiếp dựng truyền

Dòng giống ngàn năm muôn thuở trước
Lạc Hồng lập quốc dựng Văn Lang
Bắc từ Thủy Quảng giăng giăng tuyết
Nam tận Hoành Sơn nắng rợp vàng

Ta gọi Văn Lang hồn xưa cũ
Đâu non mây đâu biển sóng về
Đâu đường chân đất lên Nghĩa Lĩnh
Đâu mỗi vô cùng tấc dạ quê

Ta ở Việt Thường về Ninh Hải
Gặp người năm trước buổi chiều thu
Ai đi Cửu Đức ai Vũ Định
Cách biệt sơn khê khói tỏa mù

Ta nhớ ngày vui bên Giao Chỉ
Sông Hồng còn gợn sóng Chu Diên
Ngàn năm xa cách trôi văn tự
Trôi cả lòng ai đến Dương Tuyền

Hoài Hoan ta gặp ai năm đó
Dở bức dư đồ nét phôi phai
Bình Văn mờ nhạt trên khung nhỏ
Mà rạng Cửu Chân một nét dài

Xếp lại dư đồ cho hậu thế
Đi về Lục Hải ghé Vũ Ninh
Ghé thăm Phúc Lộc, Tần Hưng cũ
Cạn chén rượu thường với quân binh

Ta chọn Phong Châu ngắm sông Hồng
Ngắm về tây bắc dải sông Lô
Ngắm qua đông bắc non Nghĩa Lĩnh
Mà thấy giang sơn rực ánh hào

Hai ngàn năm rưỡi người tiên tổ
Hồ dễ ai đâu nói chuyện đùa
Có lẽ hiểu lời hơn văn tự
Mười tám “đời vua” nghĩa “kỷ vua”

Kỷ vua niên lịch ngàn năm cũ
Non nước qua rồi dấu phế hưng
Trống Đồng từ độ xa xưa ấy
Lớp đất Đông Sơn lớp lớp từng

Những thời Lạc Việt vui dân dã
Cưới hỏi sinh ra tự Hồng Bàng
Từ buổi Hùng Vương đà nề nếp
Sự tích trầu cau đẹp chứa chan

Thiên ngàn năm tháng như sử tích
Tiên tổ ta xưa sự tích này
Tục hỏi cưới xin là tục Việt
Cần chi Nhâm Tích cả ngàn sau

Hóa đá đường xa dặm gió ngàn
Ân tình huynh đệ thắm chứa chan
Cao xanh sao nỡ sinh như tạc
Trêu kẻ nhân gian nghĩa đá vàng

Nghìn năm thuở trước chuyện trầu cau
Truyền mỗi trăm năm đủ sắc màu
Non nước muôn nơi muôn ngàn vẻ
Chưa nhấm tình mà đã nghe say

Vào đời thứ sáu quân giặc đến
Có phải  nhà Ân ở bắc phương
Thành Thang hay Trụ ai toan tính
Thánh Gióng ra roi định chiến trường

Vốn là thiên tướng trời sai xuống
Duyên hợp vô tình một bước chân
Sinh ra con trẻ không biết nói
Tiếng gọi non sông hóa tướng thần

Nhận roi sắt ngựa hồng phun lửa
Thắng yên cương mà đến Vũ Ninh
Giặc Ân tướng giặc không hề yếu
Mà trận Trâu Sơn phải bỏ mình

Quân phương bắc rối bời tan tác
Chưa giao tranh mà phải tan hàng
Vòi rồng ngọn lửa thiêu nghịch tướng
Gươm giáo tha hồ vứt dọc ngang

Trâu Sơn yên tỉnh mờ chiến địa
Thánh Gióng vời trông cõi thế nhân
Ra roi mà ruổi về Sơn Sóc
Bỏ hết nhân gian bỏ cõi trần

Trải qua niên sử nhiều thế hệ
Kẻ khó người sang tự thành hình
Dầu rằng giai cấp không hề lập
Giữa đời vẫn có trọng cùng khinh

Có người trai trẻ không có khố
Gặp nàng công chúa thóat xiêm y
Ai đưa thuyền đến bờ sông Chữ
Cồn cát xưa nay vẫn phẳng lỳ

Tự nhiên lều lụa ai giăng đó
Cô gái nào đây vóc ngọc trần
Cát trắng bên lưng không dám động
Mây vàng xa thẳm đứng bâng khuâng

Xao xuyến chưa từng tự sơ sinh
Trời mây lồng lộng kẻ vô tình
Ai đem duyên nợ se trên cát
Tưởng sẽ trôi mà hóa ba sinh

Nhà vua nghe được tin con gái
Tự ý se duyên cấm trở về
Công chúa Tiên Dung cam bất hiếu
Cùng chàng Đồng Tử ở lại quê

Bên bờ sông nhỏ làng Chữ Xá
Mở quán sinh nhai lụn tháng ngày
Tin đồn công chúa thành dân dã
Tha hồ theo gió tha hồ bay

Bay xa đến tận ngoài đông hải
Để bước nhân gian hóa diệu kỳ
Ruổi dong sóng nước đường thiên lý
Đâu Quỳnh Tiên, đâu một chuyến đi

Phép màu từ đó mang về lại
Cứu độ lê dân thoát cảnh hàn
Thành quách thênh thang tràn bóng nước
Tưởng rằng như thể một giang san

Vua Hùng tức giận con nghịch nữ
Cất quân mà đánh lịnh ban ra
Chiều hoang dừng lại bên sông nhỏ
Nhìn thấy bên kia sáng chói lòa

Nửa đêm sấm chớp mưa vần vũ
Sáng lại bình yên đến lạ thường
Quân tướng lệnh truyền qua sông sớm
Ô hay! thành quách bỗng đầm sương

Sương lam mờ phủ trên đầm lớn
Tráng lệ về đâu đã mất rồi
Trạch địa mang mang hồn nhất dạ
Người đi muôn sự hóa mây trôi

Hồng Bàng tích sử bao giờ cạn
Hồ dễ quên đi thánh Tản Viên
Vốn từ cửa biển ngàn năm trước
Du sơn mà chọn cõi đất liền

Sông Đà, Bất Bạt miền sơn thủy
Ba Vì xanh thẳm núi non cao
Tản Viên một ngọn ai tu tịnh
Sao gió trần gian nỡ rạt rào?

Nghe vua kén rể cho công chúa
Cũng động lòng trai tấc dạ trần
Đem tài thi thố cùng thủy thánh
Trải mấy thời gian bất thể phân

Nhà vua ra lịnh tìm vật thực
Ai dâng lên sớm được mỵ nương
Sơn Tinh về núi trong gang tấc
Thủy Tinh đi biển mấy dặm trường

Thủy Tinh thua cuộc sinh oán hận
Đưa nước tràn lên khắp thành trì
Lũ lụt dâng cao người chết đói
Hồng Bàng từ ấy buổi suy vi

_____________________________

* Như chúng ta đã biết Đại Việt Sử Ký của sử gia Lê Văn Hưu khởi soạn từ Triệu Đà đến cuối đời Lý, ông soạn bộ nầy dưới thời vua Trần Thánh Tông. Đại Việt Sử Ký bộ mới của sử gia Phan Phu Tiên tiếp tục soạn từ cuối nhà Lý đến chấm dứt thuộc Minh. Bộ mới nầy gồm cả bộ cũ, và cùng đặt tên là Đại Việt Sử Ký. Sử gia Ngô Sĩ Liên dựa vào hai bộ sử trên để viết tiếp đến thời vua Lê Thánh Tông. Bên cạnh đó, ông soạn thêm một thời trên 2,500 năm từ Kinh Dương Vương đến Triệu Đà. Đây là phần rất cần thiết để hoàn thành bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư mà sử gia Ngô Sĩ Liên đã dày công nghiên cứu và biên tập.

Tuy nhiên, trong kỷ Hồng Bàng Thị viết về nguồn gốc của dân tộc, tức nói về cội nguồn của Kinh Dương vương, sử gia Ngô Sĩ Liên đã cho biết: Vua Đế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông. Nhân một lần Đế Minh đi tuần du phương nam gặp tiên nữ Vụ Tiên và lấy làm thiếp. Họ có một con trai đặt tên Lộc Tục. Trước Lộc Tục, Đế Minh đã có một người con lớn tên Đế Nghi.  Khi cả hai con khôn lớn, Đế Minh muốn truyền ngôi cho Lộc Tục vì người em thông minh và tài cán hơn người anh. Lộc Tục nghĩ mình phận nhỏ, một mực khước từ. Đế Minh bèn chia giang sơn làm hai, lấy Trường Giang [sông Dương Tử] làm ranh giới. Đế Nghi làm vua phương bắc. Lộc Tục làm vua phương nam xưng hiệu Kinh Dương vương, đặt tên nước là Xích Qũy. Kinh Dương vương lấy con gái Động Đình quân ở Động Đình hồ sinh ra Sùng Lãm tức Lạc Long quân. Lạc Long quân lấy hậu duệ của Đế Nghi là Âu Cơ sinh ra các vua Hùng.

Đọc ngang tới đây, chắc chúng ta cũng có ít nhiều trăn trở:  Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông. Mà vua Thần Nông là ai? Thần Nông là vị vua truyền thuyết trong thời Tam Hoàng của nước Tàu: Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông.

Đã là truyền thuyết thì không mang đủ tính xác thực. Tại sao chúng ta mang một điều không thực từ một nước khác để khai sinh ra lịch sử chúng ta. Không lý nào dân tộc chúng ta luôn luôn là dân tộc đàn em từ thủy tổ Kinh Dương vương Lộc Tục như thế hay sao? Không những là đàn em mà chỉ là một đứa con rơi. Đứa con rơi nầy biết thân phận của mình không dám tranh với anh. Niềm tự hào dân tộc hình như không hề thấy ở đây. Đọc thoáng qua thì thôi, nhưng ngẫm lại thì tổn thương lắm. Rất tiếc, sách sử về sau cũng y theo đó mà viết tiếp theo. Từ đó đã sinh ra những tập sách giáo khoa có lịch sử lệ thuộc mà chúng ta không để ý.

Trách sử gia Ngô Sĩ Liên là một điều không dám, bởi vì ông là dày công cho chúng ta một bộ sử lớn. Chỉ duy về nguồn gốc của vị thủy tổ lập quốc làm chúng ta trăn trở khôn nguôi. Ông khởi soạn bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư lúc mà sách cổ Đại Việt đã bị quân Minh xâm lăng đốt hết. Tìm lại nguồn gốc mà trước đó sử gia Lê Văn Hưu đã bỏ trống là một điều vô cùng khó khăn. Trong khi đó, ảnh hưởng văn hóa của Tàu còn rất lớn trong dân gian lúc bấy giờ. Do vậy, (theo tôi nghĩ) sử gia Ngô Sĩ Liên đã viết lịch sử lập quốc theo truyền miệng dân gian từ một truyền thuyết của người Tàu phương bắc.

Lịch sử của một dân tộc là một chiều dài vô tận, thì mới gần 600 năm, (tính từ lúc sử gia Ngô Sĩ Liên khởi viết ĐVSKTT đến thời kỳ đầu thế kỷ 21) thì việc điều chỉnh lại cũng chưa phải là điều muộn màng. Tuy nhiên điều nầy phải chờ đợi những vị thức giả, những vị sử gia và qúy bạn đọc. Đoạn lược sử thời Hồng Bàng của tôi ở trên chỉ là một truyền thuyết giả thiết. Tôi rất mong có một truyền thuyết nào đó toàn bích hơn để chúng ta tin theo.

** Kỷ vua: Theo ĐVSKTT thì thời Hồng Bàng kéo dài từ năm 2879 trước tây lịch đến năm 258 sau tây lịch. Trải dài hơn 3000 năm mà chỉ có 18 đời vua, thì ai cũng thấy quá mức trường thọ của con người. Chúng ta có thể nghĩ sử gia Ngô Sĩ Liên muốn nói đến kỷ vua chăng?. “Kỷ” được hiểu ít nhất là hai đời. Những đời na na giống và kề nhau được gọi là một kỷ. Kinh Dương vương và Lạc Long quân có một điểm chung là biết biến hóa, thì hai đời nầy được gọi là một kỷ. Có thể gọi đó là kỷ thần tiên.

*** Văn hóa Đông Sơn: Đây là một tên gọi do đời sau đặt ra. Năm 1924, một dân cư ở huyện Đông Sơn, Thanh Hóa phát hiện dưới lòng đất có những vật cổ trong đó có một vật hình dáng như cái trống mà bằng đồng. Chiều cao chừng 5 tấc và đường kính mặt trống chừng 3 tấc. Đặc biệt từ mặt trống, viền trống và thân trống có những hoa văn rất tinh xảo. Nhờ sự phát hiện nầy mà một người pháp tên L. Paijot đã cố công tìm kiếm. Về sau công việc tìm kiếm nầy được sự tài trợ bởi trường Viễn Đông Bác Cổ của chính quyền thuộc địa lúc bấy giờ, nên trở thành một công trình nghiên cứu. Không những ở Đông Sơn mà rải rác nhiều nơi từ Nghệ An đổ ra miền bắc đều có. Trống đồng, vũ khí và vật gia dụng có niên đại từ 2000 năm về trước thỉnh thoảng vẫn tìm thấy. Đến năm 1934, chương trình nghiên cứu được sự tiếp tay của một nhà sử học và khảo cổ người Áo tên là Robert Heine-Geldern. Vị này chuyên nghiên cứu về lịch sử Đông Nam Á. Ông đã lấy địa danh đầu tiên phát hiện ra trống đồng để đặt cho một thời văn hóa cổ xưa mà ông nghiên cứu: Văn hóa Đông Sơn. Ở đó cho ta thấy một nền văn minh có thật của tổ tiên chúng ta hàng mấy ngàn năm trước. Những hoa văn trên trống đồng nằm trong trường Viễn Đông Bác Cổ vẫn chưa ai giải thích một cách thỏa đáng. Kích cở có khác nhau nhưng hầu hết đều giống nhau 2 điểm: Thứ nhất, ở mặt trống luôn luôn có hình ngôi sao 14 cánh. Thứ hai, thân và viền trống đủ kiểu hoa văn nhưng thường thấy hình người chèo thuyền và hình chim lạc đương bay.

Với một kỹ nghệ đổ đồng thành trống cọng với những hoa văn sắc nét ấy, phải ở một mức văn minh nào đó mới làm được. Hy vọng, về sau sẽ tìm thấy nền văn minh cổ xưa nầy.

<<  |  >>