Skip to content

Chương hai

NHÀ THỤC VÀ NHÀ TRIỆU
(258-111 TCN)

      Năm 258 TCN nhà vua cuối cùng của họ Hồng Bàng mất ngôi về tay nhà Thục. Thục Phán vốn là tướng của nước Âu Việt có cùng biên giới phía nam với Văn Lang, Thục Phán chiếm nước Văn Lang và sát nhập vào Âu Việt. Không thấy có cuộc chiến đẫm máu nào xảy ra giữa hai nhà, nhưng từ đó chấm dứt họ Hồng Bàng. Thục Phán xưng vương hiệu là An Dương vương, đặt tên nước là Âu Lạc. Biên giới phía bắc là sông Tả Giang (Quảng Tây), phía nam vẫn là nước Hồ Tôn. Nhà vua chọn Phong Khê làm thủ đô, và cho xây thành Cổ Loa. Thành nầy bên bờ sông Hoàng, một chi lưu của sông Hồng vắt qua sông Thiên Đức (cũng một chi lưu nhỏ của sông Hồng, về sau khơi rộng tức sông Đuống ngày nay). Với 3 dòng sông bao bọc theo hình tam giác như một hào lũy thiên nhiên làm Cổ Loa có một thế phòng thủ vững chắc. Không những thế, vị tướng kiến trúc thành nầy lại có biệt tài về cung nỏ. Đó là tướng Cao Lỗ, ông Cao đã chế ra loại nỏ bắn được nhiều viên đá cùng một lúc. Người ta đã gọi đó là nỏ thần mà không kẻ địch nào dám bén mảng tới. Địa thế phòng thủ là thế, sức mạnh là thế, mà thời đại An Dương chỉ tồn tại được 50 năm. Nhà nước Âu Lạc bị thôn tính vào năm 208 TCN khi nỏ thần Cao Lỗ không còn hiệu nghiệm.

Ai là người đã chiến thắng được An Dương với một thủ đô kiên cố như thế? Đó là Triệu Đà. Khởi thuỷ ông Triệu chỉ là một vị quan huyện lệnh của nhà Tần. Bấy giờ ở phương bắc vừa qua thời chiến quốc, vua nước Tần (Qin) là Doanh Chính thống nhất lãnh thổ vào năm 221 TCN. Ông xưng hiệu là Tần Thủy Hoàng Đế. Biên giới phía nam đã tiến sâu vào đất Lĩnh Nam (phía nam núi Ngũ Lĩnh) tức một phần của Xích Qũy mấy ngàn năm trước. Tần Thuỷ Hoàng lập thành 3 quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận, và liền sau đó đưa quân tiến xa hơn nữa. Cuộc chiến  kéo dài 10 năm với các dân tộc Bách Việt làm tướng Tần là Đồ Thư chết trong cuộc nam tiến nầy. Quân Tần phải rút về 3 quận cũ. Nhâm Ngao được cử làm quận trưởng quận Nam Hải, và Triệu Đà là một huyện lệnh trong 4 huyện của Nam Hải.

Tình hình nước Tàu sau đó biến chuyển khá phức tạp đã đưa Nhâm Ngao và Triệu Đà tách rời nhà Tần: Năm 210 TCN, Tần Thủy Hoàng chết. Hồ Hợi lên thay tức Tần Nhị Thế. Thừa tướng Triệu Cao giết Hồ Hợi. Tần Tử Anh giết Triệu Cao. Trong triều thì rối loạn, ở ngoài thì nhiều cuộc khởi nghĩa dấy lên. Trần Thắng, Ngô Quảng ở Đại Trạch… Hạng Lương, Hạng Vũ ở Cối Kê. Lưu Bang ở đất Bái. Chiến loạn khắp nơi. Nó kéo dài đến thời Hán Sở tranh hùng và kết thúc khi Hạng Vũ thua Lưu Bang ở Cai Hạ năm 202 TCN.

Suốt trong thời gian loạn lạc đó, Nhâm Ngao chết và quyền hành Nam Hải được giao cho Triệu Đà. Họ Triệu trở thành quận trưởng quận nầy, và xua quân chiếm Quế Lâm và Tượng quận. Với 3 quận trong tay, năm 203 TCN Triệu Đà thành lập nước Nam Việt. Ông tự xưng làm vua tức Triệu Vũ vương, và chọn Phiên Ngung làm thủ đô. Năm năm sau, năm 108 TCN, họ Triệu xâm chiếm Âu Lạc theo truyền thuyết Trọng Thủy Mỵ Châu. Ông xóa tên Âu Lạc và chia thành hai quận là Giao Chỉ và Cửu Chân. Nam Việt lúc bấy giờ trở thành rộng hơn, gồm 5 quận. Triệu Đà tạo thành một nước độc lập bên cạnh Lưu Bang làm vua nhà Hán ở phía bắc.

Tuy nhiên, vì sức mạnh của nhà Tây Hán sau đó, Triệu Đà đành thúc thủ. Năm 196 TCN, ông chịu nhận chức Nam Việt vương do Hán Cao Tổ Lưu Bang ban cho. Đến 10 năm sau, năm 186 TCN, ông tuyên bố Độc Lập trở lại khi thắng đạo quân xâm lược của Lã Hậu. Đến năm 180 TCN, Triệu Đà lại thần phục Hán Văn Đế vì yếu thế. Lần nầy kéo dài đến các vua đời sau của nhà Triệu cho đến chiến tranh Nam Việt và Hán xảy ra ở kinh thành Phiên Ngung.

Triệu Đà mất năm 137 TCN, truyền ngôi cho con của Triệu Trọng Thủy là Triệu Hồ tức Triệu Văn vương. Triệu Văn vương  cho con là Triệu Anh Tề qua làm con tin theo lệnh vua Hán lúc bấy giờ là Hán Vũ Đế. Năm 125 TCN, Triệu Văn vương chết, Triệu Anh Tề về nước làm vua tức Triệu Minh vương. Trong thời gian 10 năm làm con tin, Anh Tề cưới một người con gái họ Cù làm chánh thất, mặc dù trước đó ông đã có vợ và con trai tên Triệu Kiến Đức ở nhà. Triệu Minh vương lập Cù Thị làm hoàng hậu và năm 129 TCN sinh một người con trai đặt tên Triệu Hưng.  Năm 113 TCN Triệu Minh vương chết, người con trưởng Kiến Đức không được lên thay, mà Cù hoàng hậu đưa con mình lên ngôi. Đó là Triệu Hưng lúc nầy mới 4 tuổi, tức Triệu Ai vương. Cù thái hậu còn trẻ làm nhiếp chính. Bà tư thông với sứ giả của Hán triều là An Quốc Thiếu Qúy để đưa đất nước trực thuộc hẳn nước Tàu. Triều thần dưới sự thống lãnh của tể tướng Lữ Gia phản đối. Sứ giả báo về, Hán Vũ Đế sai Cù Lạc là em ruột Cù thái hậu mang hai ngàn quân qua Nam Việt để bảo vệ Cù Thị và uy hiếp Lữ Gia. Tình hình trở nên căng thẳng. Lữ gia điều động các lộ binh về yểm trợ. Cuộc chiến xảy ra. An Quốc Thái Qúy, Cù thái hậu, Triệu Ai vương đã chết trong cuộc chiến giữa hai bên. Triều thần lập Triệu Kiến Đức lên làm vua tức Triệu Thuật Dương vương. Đó là năm 112 TCN.

Trong dòng chinh phục đầy tham vọng, cùng năm 112 TCN, Hán Vũ Đế sai các tướng Hàn Thiên Thu, Lộ Bác Đức, Dương Bộc mang đại quân qua xâm chiếm Nam Việt. Phiên Ngung trở thành nơi máu lửa mà bên toàn thắng là quân nhà Tây Hán. Vua Thuật Dương vương, và tể tướng Lữ Gia bị chết thảm. Dân Việt rơi vào thời kỳ bắc thuộc lần thứ nhất.

Trải qua thiên kỷ xưa nay đó
Bao lúc hưng thành một lúc vong
Vua Hùng mười tám nhường ngôi đế
Thục Phán xưng vương lập Thục dòng

Sử xanh có hỏi niềm thao thức
Có chạnh lòng không cuộc đổi ngôi
Thế nhân không thấy ghi điều tiếng
Chỉ tiếng vô thường một tiếng thôi

Non sông từ ấy thành Âu Lạc
Không thấy ai người bận được thua
Phong Khê thủ phủ xây thành quách
Bỏ lại Phong Châu ngọn gió lùa

Hữu ngạn sông Hoàng trên đỉnh đất
Thành Cổ Loa mấy lớp cao cao
Thục Vương chống giặc quân thù bắc
Chiến trận nơi đây đẫm chiến bào

Cao Lỗ thạch thần oai cung nỏ
Tiếng vang reo động bước xâm lăng
Nhà Tần lúc ấy thu thiên hạ
Tiến xuống phương nam khí đằng đằng

Đồ Thư chủ tướng bao vạn lính
Mân, Đông, Sơn Việt gói trong tay
Xua quân cứ ngỡ gom Âu Lạc
Ai biết sa cơ cuộc vận này

Đồ Thư chết, quân Tần khựng lại
Nhưng Lĩnh Nam đã mất về đâu
Triệu, Nhâm được lịnh xây phiên trấn
Quế, Tượng, Nam ba xứ bắc cầu

Giữa chừng nam tiến vua Tần chết
Nhị Thế lên thay nước mịt mờ
Tranh cường Hán – Sở, Lưu Bang thắng
Cai Hạ anh hùng khóc Ngu Cơ

Thắng Hạng Vũ, Lưu Bang lập Hán
Đất Lĩnh Nam họ Triệu không hàng
Lập Nam Việt, Phiên Ngung thủ phủ
Cùng Phong Khê hai cõi giang san

Thành lân quốc đôi bên nhân nhượng
Mối thông gia Triệu – Thục đề huề
Thục vương chỉ một con gái quí
Ở rể ai về xứ Phong Khê

Triệu Trọng Thuỷ hai lòng hay một
Đâu bá vương, đâu nghĩa chiếu chăn
Cổ Loa thành cổ muôn năm ấy
Gieo hận cho ai một vết hằn

Ai người về lại ngang thành cũ
Hãy nói giùm ta chiếc áo dày
Cứ ngỡ yên lòng người đi bắc
Mà rải dấu thù đau lắm thay!

Mũi tên phải bắn ngoài xâm lược
Nay biến thành gươm giết ruột mềm
Lông ngỗng trách chi đường ra biển
Mà trách sao trời im gió đêm

Giọt máu rơi nghiêng lòng cam chịu
Có trách tình cha, có trách chồng
Hồn bay theo gió hay ra biển
Mà biến châu trai dát máu hồng?*

Hỏi giếng Cổ Loa hồn Trọng Thủy
Rửa ân tình hay rửa máu loang
Muôn năm sao nhạt ân thù ấy
Thì sống trần gian chỉ bẻ bàng

Tình thù giẫm nát nghĩa sắt son
Phong Khê Âu Lạc đã không còn
Nước non chia cắt thành đôi mảnh
Cửu Chân, Giao Chỉ có héo hon?

Trang sử sang ngang hồn vong quốc
Hay chỉ vô thường một đổi thay
Ai gom Âu Lạc về Nam Việt
Mà để ngàn sau cuộc luận này?**

Triệu Đà, Tần tướng Tần Nhất Thế
Một thời cát cứ lúc Tần vong
Cũng là dòng Hán dù Nam Việt
Việt sử nên chăng chính sử dòng?

Luận bàn không phải cầu thua thắng
Mà để ngàn sau nối mạch liền
Hỏi người viết sử Ngô Thì Sĩ
Sao trách người xưa Ngô Sĩ Liên?

Bắc thuộc lần đầu chưa định rõ
Trăm năm hưng phế bóng thời gian
Cổ Loa thành mất là đã mất
Hay đợi Phiên Ngung lửa cháy tràn?

Tây Hán vốn dòng Lưu đình trưởng
Đến thời Vũ Đế động can qua
Xua quân tiến chiếm trời Nam Việt
Mất cả Nam triều mất Lữ Gia
__________________________________

*Nhắc về mối tình bi tráng của Trọng Thủy và Mỵ Châu. Truyền thuyết dân gian được nghe rằng: Sau khi Triệu Đà thắng Thục Vương lên làm vua Nam Việt, Triệu Trọng Thủy từ chối làm thái tử ở Phiên Ngung. Ông bỏ kinh thành bắc về cố đô Phong Khê. Ông lang thang ở thành Cổ Loa, nhớ về người vợ đã chịu cái chết oan khiên. Cuối cùng ông nhịn đói ngồi dựa vào một thành giếng cho đến chết. Suốt trong thời gian đau khổ hoài niệm của người chồng, thì hồn Mỵ Nương đã bay lên trời và máu đã chảy ra biển Đại Nha. Những vệt máu nầy sinh ra một loài trai có màu máu bầm ở trên lưng. Nếu đem những con trai nầy về rửa ở giếng mà Trọng Thủy đã chết thì màu ấy sẽ biến mất. Vỏ trai sẽ có màu trong sáng lạ thường. Từ đó giếng được gọi tên là giếng Trọng Thủy.

**Bắt đầu thời bắc thuộc lần thứ nhất vẫn chưa được xác định rõ. Có hai quan điểm trái ngược nhau:
Thứ nhất: Khi mất nhà Triệu năm 111 TCN và bị nhà Tây Hán xóa tên Nam Việt đổi thành bộ Giao Chỉ. Bộ Giao Chỉ được chia thành 9 quận dưới sự cai trị hà khắc của các quan thái thú. Cách nầy được sử gia Lê Văn Hưu viết trong Đại Việt Sử Ký và cho phổ biến năm 1272 dưới thời vua Trần Thánh Tông. Sử gia Ngô Sĩ Liên căn cứ vào đây để viết tiếp. Trong thời cận đại, tiền bán thế kỷ 20, sử gia Trần Trọng Kim vẫn có cách nhìn như thế. Theo đó thì các vị vua nhà Triệu nằm trong các vị vua chính dòng của Việt Nam, và bắc thuộc lần thứ nhất bắt đầu từ năm 111 TCN sau khi nhà Triệu bị diệt vong.
Thứ hai: Khi mất nhà Thục vào năm 208 TCN về tay nhà Triệu đã là bắc thuộc rồi. Với cách nhìn nầy, Triệu Đà là quân xâm lược. Cách nầy do sử gia Ngô Thì Sĩ xác lập lần đầu tiên trong Đại Việt Sử Ký Tiền Biên được con ông là Ngô Thời Nhậm khắc in vào năm 1800 dưới thời Tây Sơn. Và, sau nầy sử gia Đào Duy Anh cùng một quan điểm. Theo đó Triệu Đà người Chân Định, Hà Bắc, nước Tàu. Ông là tướng của nhà Tần đi chinh phục phương nam. Ông đã sát nhập Âu Lạc vào Nam Việt. Do đó không thể để họ Triệu là chính dòng vua Việt Nam.
Sử gia Ngô Thì Sĩ ở thời Tây Sơn đã viết trong Đại Việt Sử Ký Tiền Biên: “Đến như việc tán tụng công lao của Triệu Đà đã xướng ra cơ nghiệp đế vương trước tiên. Lê Văn Hưu san lập ra sử chép như thế, Ngô Sĩ Liên cứ theo chép ấy không biết thay đổi, rồi đến bài tổng luận của Lê Tung, thơ vịnh sử của Đặng Minh Khiêm thay nhau mà tán tụng cho Triệu Đà là bậc đế của nước ta. Qua hàng ngàn năm mà không ai cải chính, vì thế tôi phải biện bạch kỹ càng”.
Theo tôi, tôi đồng ý với cái nhìn của hai vị sử gia Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên vì 2 lý do:
Thứ nhất: Suốt trong triều đại nhà Triệu không thấy dân Âu Lạc (gồm Âu Việt và Lạc Việt) bị đối xử khác với Nam Hải, Quế Lâm và Tượng quận. Chính trong thời gian nầy là thời gian hòa hợp nhất của các dòng Bách Việt.
Thứ hai: Dù có thời gian hàng phục nhà Hán lúc bấy giờ, nhưng Triệu Đà luôn luôn chiến đấu cho độc lập. Giá như nhà Triệu giữ được lãnh thổ rộng lớn của Nam Việt thì sẽ có một nhà nước phương nam đối trị với các triều đại phương bắc. Lúc đó biên giới Tàu – Việt không thụt lùi về phía nam mà tiến xa về phía bắc.

<<  |  >>