Skip to content

Chương chín

 

NGÔ QUYỀN, VÀ BẠCH ĐẰNG GIANG 938

 

      Sau khi diệt kẻ phản bội Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền chỉnh đốn lại lực lượng Đại La. Ông thống nhất với các binh đội Ái Châu thành một quân đội hùng mạnh. Trong lúc điều quân đi các nơi, thì tin tình báo cho biết quân Nam Hán sẽ tấn công Đại La ngay trong mùa đông 938 nầy. Được biết Lưu Nghiễm cử hoàng tử Hoằng Thao làm tổng chỉ huy cuộc nam chinh. Trên 200 thuyền chiến đã sẵn sàng ở eo biển Hợp Phố chờ xuất chinh. Chưa rõ chính xác quân số lên tới bao nhiêu nhưng không dưới con số 15 ngàn người. Đạo quân nầy gồm thủy bộ và dùng thuyền chiến đi vào cửa sông Bạch Đằng để theo dòng Kinh Thầy đến  ngã tư Vạn Kiếp. Đó là nơi gặp gỡ của 4 con sông Lục Đầu, Kinh Thầy, Thái Bình và sông Đuống. Tại đây, thủy bộ song song theo sông Đuống tiến quân về Đại La. Ngô Quyền nghị bàn với tướng sĩ nên chận đánh trước khi quân Nam Hán tiến vào thành. Vẫn có kế hoạch dự trù nếu quân địch dùng bộ binh từ biên giới bắc đi xuống, tuy nhiên ông chú trọng nhiều hơn ở con đường thủy nầy. Ở Bạch Đằng đích thân Ngô Quyền chỉ huy. Ngoài ra còn các tướng phụ tá: Dương Tam Kha, Kiều Công Hãn và Ngô Xương Ngập. Hãn là cháu gọi Kiều Công Tiễn bằng chú họ, và Ngập là con trai trưởng của Ngô Quyền.

      Sông Bạch Đằng là một đoạn sông cuối của sông Kinh Thầy chảy ra cửa biển Nam Triệu. Tả ngạn có một chi lưu là sông Chanh. Phía hữu ngạn xa hơn về hướng hạ nguồn có con sông Rút và dãy núi đá vôi Tràng Kênh. Núi nầy không cao và không doi ra để tạo lở bồi nên dòng nước cứ thênh thang về biển. Đây là con đường từ xa xưa vẫn xuôi ngược về Luy Lâu, và lúc bấy giờ cũng thuận tiện về kinh thành Đại La bên dòng Nhị Hà. Ngô Quyền cho cắm cọc một đoạn giữa ngã ba sông Chanh và núi Tràng Kênh. Thật là khó để cắm một cây cọc xuống nước, huống chi tới cả một khúc sông, thế mà những người lính đã âm thầm làm xong. Tuy nhiên, sự thành công lại cần thêm những điều kiện quan trọng khác. Ngô quyền phải ở lại sông Bạch Đằng nhiều ngày để tận mắt nhìn dòng thủy triều lên xuống và địa thế xung quanh. Phải canh con nước mà chặn địch. Ông đã có một kế hoạch dụ địch và tấn công chính xác.

      Đó là tháng 10 năm mậu tuất rơi vào khoảng tháng 12 năm 938. Quân lính đã nhiều ngày nằm chờ bên bờ sông. Theo dọ thám không có gì khác hơn, đoàn quân Nam Hán sẽ đến.  Vào một ngày cuối tháng 12, gần 20 ngàn người trên 300 thuyền chiến ung dung tiến vào cửa sông Nam Triệu. Vào đến Tràng Kênh dòng sông vẫn rộng cho mấy trăm thuyền trước sau ngược nước. Hoàng tử trẻ tuổi Hoằng Thao cho dương cờ tướng soái và cờ các đạo quân đi theo. Cờ xí và tiếng reo vui xâm lăng cả một khúc sông như đang ngạo mạn với cỏ cây đất trời. Làm sao được, nếu đoàn quân nầy chưa đến bãi cọc hoặc qua khỏi rồi thì nước mới rút. Nhưng quả là tài tình, Ngô Quyền đã tính chính xác từng con nước. Khi dòng nước mênh mông thì đoàn thuyền chiến của quân Nam Hán hầu như hoàn toàn nằm trên bãi cọc. Hai bên bờ sông, nước vỗ bập bềnh. Đâu đó một vài con chim rừng lao xuống, hình như chúng thấy một điều lạ.

      Đã đến lúc những chiếc thuyền từ sông Chanh đổ ra. Đó là những thuyền nhỏ như là những chiếc thuyền câu. So ra, thủy quân giữa quân Việt và Nam Hán thật chênh lệch. Nhưng, đây là trận đối đầu cần thiết để cầm chân quân Nam Hán trên bãi cọc. Bao giờ cũng có những cái chết vô danh cho một trận chiến, và lần nầy cũng thế. Qua một canh giờ cầm cự, không biết số quân Việt đã có bao nhiêu người hy sinh để số còn lại nhất quyết phải giữ địch trên khúc sông nầy. Đó là lúc nước bắt đầu rút, báo hiệu thời điểm phản công. Tên bắn từ hai bìa rừng xuống lòng sông như một trận mưa lớn. Quân Nam Hán biết mình bị phục kích, lập tức bắn trả. Hoằng Thao là một người trẻ tuổi gan dạ, ông ta cho quân tấn công lên bờ nhưng không có kết quả. Một số thuyền đã xuôi theo dòng nước thối lui. Một số thuyền nghe theo lệnh ông cố tràn lên bờ tiêu diệt quân phục kích, nhưng đã bỏ tay chèo trước khi cập bến. Trong lúc đó thủy triều hạ mau hơn, quân Nam Hán bị chia làm hai. Một phần lớn bị vướng vào cọc chống đỡ một cách khó khăn. Số ít còn lại đã vượt lui bãi cọc, nhưng vẫn nằm trên điểm đích của những đường tên. Khi nước xuống đến mức người ta thấy được cọc nhọn nhô cao, thì quân Nam Hán hoàn toàn rối loạn. Cái khôn ngoan cuối cùng của họ là đổ về dòng nước sâu ở giữa dòng sông mong chạy ra cửa biển.

      Cơ hội đó cũng rất hạn chế. Tên vẫn bắn, người vẫn bị thương, thuyền trở nên cồng kềnh. Tuy nhiên, vẫn có một số thuyền rút lui ra khỏi Tràng Kênh, trong đó có thuyền của Hoằng Thao. Ở đây sông sâu, nước chưa cạn. Một cuộc giao tranh cận chiến giữa Ngô Quyền và vị tướng soái Nam Hán với sự công bằng. Chí quật cường của người trẻ tuổi Hoằng Thao đành thúc thủ trước người trung niên dày dạn. Hoằng Tháo bị thương và bị bắt. Sau đó vị hoàng tử nầy chết vì vết thương quá nặng. Đó là một ngày đông năm 938, chấm dứt vĩnh viễn mộng xâm lăng của vua Nam Hán Lưu Nghiễm.

Nội giặc đã yên thù đang tới
Lòng gian tham mà giả ân tình
Lưu Nghiễm há đâu vì Công Tiễn
Dấu bá quyền trong mộng viễn chinh

Lộ binh hùng xâm lăng mấy lộ
Tướng triều Lưu hoàng tử Hoằng Thao
Bao giờ chiến thắng chưa hề biết
Mà gió chinh nam đã ào ào

Vầng trán mang mang nghe tin báo
Giữa chiều đông hiu hắt xế tà
Nếu đợi giặc thù loang máu đổ
Lầm than lê thứ trải Đại La

Ngô Quyền quyết định công địch trước
Mượn thế quân thù dụng thủy binh
Đưa quân chờ sẵn giành chủ động
Cọc nhọn tên tre đánh thình lình

Lựa chừng khớp hợp không hề dễ
Ai biết bao giờ địch sẽ qua
Mênh mông sông nước trên tầng thấp
Nằng nặng hai vai nợ nước nhà

Một dòng nước chảy miên man mãi
Thế địch sa lầy ở nơi đâu
Chi li con nước từng cây cọc
Kẻo uổng công lao mấy dãi dầu

Sa bàn sông nước nhẹ tay trao
Tướng sĩ từng quân ở cánh nào
Ai người dụ địch ai công hãm
Ai phá thuyền ai bắt Hoằng Thao

Một buổi tinh mơ bóng nguyệt tà
Trăng vàng nửa mảnh ngắm Đại La
Người đi theo nước mang hồn nước
Đã đến nơi nào nắng sắc pha

Xa dặm đường xa mấy nắng vàng
Thuyền quân đâu đó những thuyền ngang
Cọc in đáy nước lòng tận tụy
Người ở trên sông sợ trễ tràng

Xa xa sóng nước sóng bập bềnh
Vỗ từng tiếng động dãy Tràng Kênh
Đá vôi nhỏ xuống ngàn năm trước
Nhật nguyệt non sông tấc dạ bền

Giặc đã qua rồi cửa sông Chanh
Hữu ngạn dâng cao lấp đá gành
Bạch Đằng chảy mãi về vô lượng
Có biết ba đào dậy tương tranh

Thấp thoáng thuyền ai như lưới câu
Giăng ngang cản giặc ở tuyến đầu
Một trời cờ xí quân Nam Hán
Xô lệch thuyền nan đi tới đâu

Mũi tên của giặc cơn xung phá
Ngược nước Đằng giang ngược nước sông
Cờ bay Nam Hán bay lồng lộng
Hoằng Tháo thanh xuân phỉ tang bồng

Quân Nam Hán sông Chanh chưa khỏi
Chợt nghe vang tiếng gọi quân reo
Đôi bờ tiếng thét như mưa bão
Vô lượng tên bay cháy gió vèo

Phản công không kịp trên đầu sóng
Tả hữu bên nào tên với tên
Cờ xí giương cao đành vất bỏ
Trên sông mặt nước nước hóa lền

Tay trói giữa trời không cách gỡ
Điểm đích phơi trần để tên bay
Nam Hán được chăng lần xâm lấn
Trận chiến về đâu trận chiến này

Nửa quân còn lại tranh nhau chạy
Mặt nước vờn lên những đá gành
Bãi cọc trùng trùng nhô sắc cạnh
Thương thay quân Hán những đầu xanh

Thuyền ai lách cọc ra sông rộng
Hoằng Tháo mừng vui tưởng thoát nàn
Đón đầu quân địch, Kiều Công Hãn
Ngô Quyền vũ lộng phá giặc tan

Lưỡi gươm phải bỏ trên đầu sóng
Khóc hận ai người chết tha phương
Lưu Nghiễm hay chăng người con nhỏ
Bỏ cuộc chinh nam bỏ chiến trường

Ai mộng bá vương, ai hồ thỉ
Mấy lần đi mấy thắng mấy thua
Ngày xưa Khúc Mỹ không mồ cỏ
Hoằng Tháo ra sao giữa gió lùa?

Lưu Nghiễm không còn mộng xâm lăng
Quân Nam toàn thắng trận Bạch Đằng
Linh thiêng thắp tạ hồn non nước
Tạ nắng yên hà tạ gió trăng


<<  |  >>