Skip to content

Chương bốn

NHỤY KIỀU TƯỚNG QUÂN
TRIỆU THỊ TRINH
(248)

      Sau khi đánh tan cuộc khởi nghĩa và bức tử hai bà Trưng năm 43, các vua nhà Đông Hán đặt ách xiềng xích chặt chẽ hơn. Từ Hán Quang Vũ Đế đến cuối Hán Hiến Đế kéo dài 195 năm (25 – 220) không có cuộc khởi nghĩa nào thêm nữa.  Suốt trong thời gian ấy dân ta chịu biết bao nhiêu lầm than, khổ cực. Ở giai đoạn cuối thời Đông Hán sang đầu thời Tam Quốc, nước Tàu vô cùng rối ren nhưng dân ta vẫn không có cuộc khởi nghĩa nào. Đại lược những biến cố ở cuối thời Đông Hán như sau:

Năm 189, quyền thần Đổng Trác phế Hán Thiếu Đế lập Hán Hiến Đế. Chư hầu bất mãn mang quân về trừ Đổng Trác. Đổng Trác thua mấy trận bèn đốt thành Lạc Dương dẫn vua Hiến Đế 9 tuổi và triều thần về kinh đô cũ Trường An. Tại đây ông tiếp tục khống chế triều đình. Năm 192 tư đồ Vương Doãn mượn sức Lã Bố giết Đổng Trác. Trong cùng năm 192 ấy tùy tướng của Đổng Trác là Lý Thôi giết Vương Doãn.  Lý Thôi gây thế lực và thao túng triều đình.  Năm 195 vua Hiến Đế và hoàng hậu được thừa tướng Đổng Thừa sắp xếp chạy trốn về Lạc Dương. Quân của Lý Thôi đuổi theo kịp. Họ giết quân hộ giá để bắt nhà vua trở về, nhưng không thành công. Nhà vua, hoàng hậu và Đổng Thừa được Hàn Tiêm cứu thoát, Hàn Tiêm vốn là thủ lãnh quân cướp Bạch Ba.  Khi về Lạc Dương họ Hàn ỷ có ơn cứu giá sinh ra lộng quyền, lấn ép tất cả triều thần. Đổng Thừa sợ nguy cơ Lý Thôi tái diễn, bí mật triệu Tào Tháo ở Duyện Châu về Lạc Dương. Tào Tháo lúc bấy giờ là thủ lãnh một chư hầu rất mạnh ở Duyện Châu nên quân của Hàn Tiêm nhanh chóng bị tiêu diệt.

Năm 196 nhận thấy Lạc Dương quá tiêu sơ, Tào Tháo đưa Hán Hiến Đế và triều đình về Hứa Xương. Tại đây, Tào Tháo được phong tước hầu và giữ chức Tư Không tướng quân. Lúc nầy thì thừa tướng Đổng Thừa biết mình đã lầm đưa trứng cho ác. Tào Tháo còn mưu lược và chuyên quyền hơn cả Hàn Tiêm, Lý Thôi và Đổng Trác. Tướng Tư Không họ Tào lấy danh nghĩa vua Hiến Đế để sai khiến chư hầu như Viên Thiệu, Viên Thuật, Lưu Biểu, Lưu Bị, Tôn Kiên, Lã Bố… Từ đó sinh ra một trường chiến tranh đẫm máu.

Tất cả những diễn tiến phân liệt ở nước Tàu cuối thời Đông Hán làm cho dân Giao Chỉ dễ có cơ hội giành độc lập, nhưng điều đó không xảy ra. Một thái thú khôn ngoan, khéo làm lê dân không cảm thấy bị nô lệ lên làm thứ sử: Sĩ Nhiếp. Họ Sĩ chỉ là thái thú quận Giao Chỉ nhưng có tài chính trị, biết mềm dẻo và có lòng nhân. Ông ta được Hán Hiến Đế phong làm Tuy Nam trung lang tướng quân, quyền hạn còn hơn là một thứ sử. Họ Sĩ còn được dân chúng Việt coi như một ông vua tách biệt với nhà Hán. Ông tiếp tục chọn Luy Lâu làm phủ trị và biến đổi nơi đây thành thị tứ sầm uất. Bên cạnh dòng sông Đuống còn có dòng sông Dâu quanh co tới sông Cầu. Năm 203, Sĩ Nhiếp  xin với vua Hán Hiến Đế đổi tên bộ Giao Chỉ thành châu Giao Châu, bỏ nhiều thuế khóa và giảm hẳn hình phạt. Ông còn khôn khéo tiến cử người Việt làm cho triều Hán. Nhờ thế ông giữ yên được Giao Châu mãi đến khi ông mất vào năm 226, lúc mà cả hai phương nam bắc lại có những diễn biến phức tạp khác.

Với nước Tàu: Trận Xích Bích năm 208 giữa Tào Tháo dưới danh nghĩa triều đình Đông Hán đối đầu với liên quân Lưu Bị -Tôn Quyền đã  dần đưa đến thực sự chia ba thiên hạ vào năm 220. Đó là lúc tể tướng Tào Tháo vừa chết và con trai là Tào Phi lên thay. Tào Phi phế Hán Hiến Đế tháng 10 năm 220 và xưng đế, chính thức lập ra nhà Tào Ngụy. Năm 221 Lưu Bị, dĩ nhiên cũng có mộng bá quyền, xưng Hán vuơng lập ra nhà Thục Hán. Năm 229 Tôn Quyền  từ chối lệ thuộc Tào Ngụy, xưng đế lập ra nhà Đông Ngô . Lúc nầy thì  lãnh thổ phân chia đã khá rõ rệt. Ngụy: bắc Hoàng Hà. Tây nam: thuộc Thục. Miền đông nam mênh mông kể cả Giao Châu: thuộc Ngô.

Với Giao Châu: năm 226, Tôn Quyền tức Ngô Đại Đế cắt bớt đất Giao Châu. Lấy phần phía bắc của Giao Châu nhập vào Quảng Châu giao cho Lữ Đại làm thứ sử. Phía nam còn lại vẫn gọi là Giao Châu do Đại Lương trông coi. Sĩ Huy là con của Sĩ Nhiếp không phục, tự xưng vương chống lại triều đình Đông Ngô. Tôn Quyền sai Lữ Đại mang quân đi dẹp. Rất mau chóng giết được Sĩ Huy, nhưng những tùy tướng của họ Sĩ rút vào rừng núi Cửu Chân để chiến đấu chống lại. Lực lượng nầy không mạnh nhưng vẫn âm ỉ kéo dài đến hơn 20 năm. Điều nầy làm chính quyền Đông Ngô tức tối sinh ra tàn ác và lạm sát dân chúng. Chính quyền bảo hộ nầy đã lập quận trị Cửu Chân ở làng Tư Phố, bên bờ nam sông Mã. Tiết sứ quân binh Tiết Kính Hàn ở đây tha hồ lạm sát người vô tội. Trong những lần hành quân tảo thanh thường lệ chỉ kéo dài trong ngày, họ Tiết cũng không quên giết đi một vài người. Điều nầy đã khiến vị hào trưởng Triệu Quốc Đạt ở làng Quan Yên phẫn nộ, nhưng phải nín nhịn. Ông cũng giống bao vị hào trưởng người Việt khác không che chở được những lương dân trong làng của mình. Ông cùng người em gái Triệu Thị Trinh bí mật chiêu tập nghĩa sĩ. Đây là phản ứng tích cực rất hợp với cá tính “chém cá tràng kình ở biển đông” của cô Trinh, nên lực lượng mau chóng phát triển. Đầu năm 248 tổng số nghĩa binh đã lên tới số ngàn, và họ thường tập hợp ở núi Nưa và Yên Định để tập kiếm cung và chờ ngày đứng dậy.

Điều ấy không phải chờ đợi lâu. Đầu tháng 3 năm 248 tàn dư của Sĩ Huy bỗng trỗi dậy miền núi. Lính Đông Ngô ở Tư Phố và các nơi khác của Cửu Chân được lịnh hành quân tiêu diệt. Miền xuôi bị giảm quân số, đây là cơ hội cho anh em Triệu Quốc Đạt. Họ quyết định khởi nghĩa. Ngày khởi nghĩa được bí mật truyền ra đến 4 cơ sở nòng cốt Nông Cống, Thiều Giang, Yên Định và Nga Sơn. Ngày hẹn và địa bàn trách nhiệm được ấn định. Đó là đêm rạng sáng ngày 15 tháng 3. Nông Cống nổi dậy ở mặt nam, Nga Sơn nổi dậy ở mặt bắc. Thiều Giang và Yên Định trực tiếp tấn công lỵ sở Tư Phố. Nhờ giữ được tính bảo mật, nghĩa quân tạo được yếu tố bất ngờ ở mọi nơi. Liên quân Thiều Giang và Yên Định dưới sự chỉ huy của Triệu Quốc Đạt đã uy hiếp Tư Phố ngay từ phút đầu. Thành trì nầy còn rất đơn sơ. Đó là những căn nhà gỗ được được bao bọc bởi một lũy đất thấp xung quanh. Đơn vị thay phiên bảo vệ lỵ sở nầy đã bận hành quân miền tây trong chiến dịch diệt trừ dư đảng Sĩ Huy. Tại Tư Phố chỉ còn đơn vị cơ hữu dưới quyền chỉ huy của Tiết Kính Hàn. Ông nầy không phải là tay tồi về quân sự, và cả kiếm thuật. Ông ta vừa chỉ huy các cánh quân, vừa so gươm với Triệu Quốc Đạt. Họ Triệu đã từng dạy kiếm pháp cho nghĩa binh, nhưng ông cũng thầm phục đây là tay kiếm sĩ tài ba. Triệu Quốc Đạt phải dùng hết sở trường của mình mới buộc Tiết Kính Hàn rút lui về phía trong. Quân khởi nghĩa tràn vào. Họ chiếm được phần trước của nội đình Tư Phố, nhưng ngay lúc đó vị hào trưởng Quan Yên bị thương. Từ một góc nào đó, một mũi tên đã ghim vào vai ông. Lợi dụng điều may nầy, Tiết Kính Hàn đã xuống gươm kết liễu vị hào trưởng họ Triệu.

Mất chủ tướng, nghĩa binh rối loạn. Nhưng, ngay lúc ấy Triệu Thị Trinh có mặt. Nàng dùng những thế kiếm của người anh dạy mình trực chiến với kẻ thù. Thù nhà thêm nặng, nợ nước thêm cao đã làm rực sáng hào khí của người con gái đôi mươi nầy. Cũng thế kiếm ấy, cũng đường gươm ấy, nhưng bóng kiếm đã trùm lên khắp người Tiết Kính Hàn. Không cách nào phá vỡ được, và cũng không thể lui tới được. Họ Tiết run toàn thân và gục ngã  trước những ánh mắt kinh hoàng của quân lính Đông Ngô. Trả thù được cho anh cũng là lúc cô gái họ Triệu nhìn về quân địch. Dưới ánh sáng nhờ nhờ của giờ khắc tinh mơ, quân Đông Ngô ùn ùn bỏ chạy. Nghĩa quân chiếm lấy Tư Phố. Họ tôn Triệu Thị Trinh lên làm thủ lãnh. Từ đây người ta gọi vị thủ lãnh nầy là Nhụy Kiều tướng quân hay là bà Triệu, dù rằng đó là người con gái còn trẻ măng. Bà Triệu dần dần thắng nhiều cứ điểm, và quân đội mang vóc dáng chính quy hơn là những đơn vị nghĩa quân. Những đội bộ binh đi hành quân xa được thành lập, đơn vị tượng binh cũng thành hình. Người ta thấy bà Triệu đã cỡi voi đi hành quân, và người ta cũng nghe nói về cuộc bắc tiến Giao Châu sắp thực hiện.

Rất tiếc cuộc bắc tiến nầy không bao giờ có được. Tin về một người con gái đã giết chết tức khắc tiết chế binh đội Cửu Chân đã sớm bay về Giang Đông. Người ta còn nghe cô ta cỡi voi, mang giày cỏ điều binh khiển tướng. Từ lúc ấy vua Đông Ngô Tôn Quyền phái quan ngự sử Lục Dận lập tức đến Giao Châu nhậm chức thứ sử. Quan trọng hơn, phải gấp rút bình định Cửu Chân. Ông nầy mang theo 8 ngàn quân và nhanh chóng tiến về quận trị Tư Phố. Dĩ nhiên cuộc giao tranh không thể nào tránh khỏi. Dù quân đồn trú Tư Phố của bà Triệu lúc ấy lên tới hai ngàn quân, nhưng không thể nào cân bằng với lực lượng địch đông hơn gấp 4 lần. Một cuộc rút lui sau trận đánh đầu tiên được thực hiện. Bà Triệu đưa lực lượng về căn cứ Bồ Điền bên cạnh nhánh sông Lèn đông bắc Cửu Chân. Tại đây nghĩa quân chống cự được 6 tháng. Đến cuối năm 248, sau khi bị bao vây dai dẳng, bà Triệu cùng nghĩa quân mở đường máu thoát thân. Đây là cuộc vượt thoát đẫm máu đầy bi tráng, mà những huynh đệ không thể cứu được nhau. Bà Triệu rất đau lòng. Khi ra đến núi Tùng còn rất ít nghĩa sĩ, bà khuyên họ ra hàng. Còn tự thân mình kết liễu ở chân núi. Lúc ấy bà mới 23.

Người chết đi rồi nước mất theo
Như thuyền chưa đến gãy tay chèo
Non sông từ ấy về nô lệ
Ngọn sóng xô ngang kiếp bọt bèo

Nô lệ bao mùa nô lệ cũ
Xích xiềng lặp lại những dấu xưa
Trăm năm dư cả lòng chịu đựng
Gánh nặng oan khiên vẫn có thừa

Khen thay dân tộc không đồng hóa
Dầu mãi lầm than kiếp cơ cầu
Dầu cho xứ sở thay tên khác
Dầu người xiêu tán mãi về đâu

Kéo dài Đông Hán hai thế kỷ
Đến thời Hiến Đế phải mất ngôi
Ai Đổng, ai Vương, ai họ Lý
Bị mất về tay tướng Tháo rồi

Quyền thần, cát cứ xô Hán mạt
Đất bắc chia ba Ngụy, Thục, Ngô
Trăm năm tam quốc giành xâu xé
Non nước Giao Châu thuộc xứ nào?

Tôn Quyền kế vị Giang Đông xứ
Mở rộng sơn hà đế quốc Ngô
Mạnh tay lạm sát người Giao Chỉ
Đất Cửu Chân anh kiệt nữ hào

Quan Yên làng nhỏ bên triền núi
Em gái mồ côi ở với anh
Sớm nhìn đất nước trong tay giặc
Luyện tập đao thương dạ mới đành

Anh em nghĩa tụ rừng Yên Định
Lập chí tang bồng giữa lặng thinh
Vốn anh hào trưởng tên Quốc Đạt
Em gái tài năng Triệu Thị Trinh

Năm ấy mậu thìn hai bốn tám
Lữ Đại đem quân giết mấy ngàn
Dân oan chết thảm trên triền dốc
Suốt những tà dương thấm máu loang

Ánh mắt căm hờn người con gái
Triệu Thị Trinh. Ừ. Triệu Thị Trinh
Nghe tin làng bản vương tai họa
Đứng dậy cùng anh trả bất bình

Mang quân nghĩa sĩ còn non yếu
Mà dám vây thành đánh Đông Ngô
Ai về có hỏi dòng sông Mã
Người ấy ngày xưa đẹp thế nào

Quốc Đạt hy sinh ngày chưa sáng
Tưởng rằng binh tướng sẽ vong tiêu
Nhát gươm chém xuống thu thành địch
Giặc khiếp trời Nam tướng Nhụy Kiều

Liễu bồ mà đánh quân Ngô chạy
Đất Cửu Chân huyền thoại anh thư
Cỡi voi ra trận chân giày cỏ
Mà đạp quân Ngô đến nát nhừ

Tin đồn qua tận bên Ngô chúa
Tôn Quyền phái Lục Dận nam chinh
Mang theo bao lớp binh hùng tướng
Chiến trận xoay ngang chuyển tình hình

Bồ Điền cứ địa quân Nam lập
Nghĩa sĩ kiên gan đến cuối cùng
Chinh chiến một mùa chưa đi hết
Mà đến nửa chừng phụ kiếm cung

Quân yếu lương cùng cam thất thủ
Triệu nương xẻ dọc một đường gươm
Mở con đường máu con đường sống
Sao đến núi Tùng lại tuốt gươm!

Bên mình còn lại bao nghĩa sĩ
Thì sống sao đành nghĩa sắt son
Xưa kia ai chết dòng sông Hát
Nay núi Tùng xanh trả nước non

Anh hùng khí tiết anh thư tận
Ai khóc Nhụy Kiều khóc Cửu Chân
Khóc hồn tử sĩ vương sông Mã
Vị quốc vong thân giã cõi trần


<<  |  >>