Skip to content

Chương bảy

NHỮNG CUỘC KHỞI NGHĨA BỊ LÃNG QUÊN:

LÝ TỰ TIÊN – ĐINH KIẾN, VÀ MAI THÚC LOAN
PHÙNG HƯNG, VÀ DƯƠNG THANH

(602 – 905)

      Năm 604 Dương Kiên Tùy Văn Đế qua đời. Cái chết của nhà vua nầy vẫn còn là bí ẩn. Thái tử Dương Quảng lên ngôi tức Tùy Dạng Đế. Khi lên làm vua, Dạng Đế  cho xây đông đô Lạc Dương và sửa chữa rất nhiều cung uyển ở kinh thành Trường An. Cùng thời gian đó ông ta cho đào Đại Vận Hà và nhiều lần chinh phạt Cao Ly. Những công trình và chiến tranh ấy đã vắt kiệt sức  người dân Tàu, và làm chết hàng vạn binh lính nên loạn lạc xảy ra khắp nơi. Năm 618 Tùy Dạng Đế bị thống lĩnh cấm quân Vũ Văn Hóa Cập giết chết khi đi tuần du ở Giang Đô. Về Lạc Dương, họ Vũ lập con của Tùy Dạng Đế là Dương Hạo làm vua, nhưng ông vua nầy cũng bị giết chết bởi họ Vũ để lập nhà Hứa.

      Lúc bấy giờ có nhiều cuộc khởi nghĩa nổi lên để tranh giành quyền lực. thủ lĩnh khởi nghĩa ở Thái Nguyên là Lý Uyên chiếm Trường An. Khi hay tin Tùy Dạng Đế chết, Lý Uyên lập Dương Hựu là cháu nội Tùy Dạng Đế lên ngôi tức Tùy Cung Đế. Trong cùng năm 618, Cung Đế bị ép nhường ngôi để Lý Uyên lập ra nhà Đường. Ở Lạc Dương, Vũ Văn Hóa Cập bị giết bởi một thủ lãnh khởi nghĩa khác: Đậu Kiến Đức.

      Vì những biến động đó nên suốt thời gian thuộc Tùy, 16 năm từ năm 602 đến năm 618, Giao Châu vẫn yên tỉnh. Loạn ở đất Tàu như thế, mà Giao Châu không vùng dậy được. Tự nó, nó đã chuyển qua thời thuộc Đường từ năm 618. Nhà Đường có 3 lần thay tên gọi Giao Châu và vẫn liên tục cai trị hà khắc bởi những quan đô hộ. Năm 622 đổi quận Giao Châu ra Giao Châu tổng quản phủ, và quan đầu phủ vẫn được gọi là thứ sử. Phủ trị Giao Châu ở bờ nam sông Hồng thuộc quận Tống Bình. Đây là một quận đô thành nằm ở ngã ba sông Đuống và sông Hồng.

      Năm 679, dưới thời Đường Cao Tông, Võ Hậu đổi  Giao Châu tổng quản phủ thành An Nam đô hộ phủ, quan đầu phủ được gọi là kinh lược sứ. Phủ nầy chia thành 13 châu nhỏ, có những chồng chéo thay đổi thành những châu mới như châu Hoan, châu Diễn nằm trong địa phận Cửu Chân xưa. Năm 866, thời Đường Ý Tông, An Nam đô hộ phủ được đổi thành Tĩnh Hải quân và quan đô hộ được gọi là tiết độ sứ. Sự đổi thay mang tính “thăng cấp” nầy do tướng Cao Biền xin với vua Đường. Họ Cao lúc ấy rất có uy tín vì vừa đánh thắng quân Nam Chiếu xâm lăng An Nam đô hộ phủ. (Xin được nói thêm: “đô hộ phủ” là tên gọi các lãnh thổ ở phía ngoài nước Tàu bị nhà Đường đô hộ. Từ khi có tên An Nam đô hộ phủ, sử Tàu gọi dân Việt là dân An Nam. Tên An Nam có từ đó để sau nầy trong các thời kỳ độc lập, khi vua Tàu công nhận vua Việt vẫn gọi vị vua Việt nầy là An Nam Quốc Vương cho dù vua Việt có địa vị hoàng đế đối với thần dân Việt. Đến thời thực dân Pháp, sử Pháp vẫn gọi tên nước của chúng ta như thế. Cuốn tự điển Việt – Pháp đầu tiên cũng dùng từ An Nam {Dictionaire annamite-francais của Génibrel năm 1898}. Ngược với “đô hộ phủ” là “quân” là đơn vị hành chánh trong nước Tàu, mang ý nghĩa một đơn vị của chính quốc. Trên hình thức khi được đổi từ An Nam đô hộ phủ thành Tĩnh Hải quân, dân Việt được đối xử như dân Tàu, được “nâng cấp” lên bình đẳng với dân Tàu. Nhưng, thực tế không phải thế).

      Nhìn chung trong thời kỳ lệ thuộc Đừơng, dân ta bị kìm kẹp có hệ thống nhất, để lại dấu ấn nhiều nhất kể cả thi ca. Tuy nhiên trong thời thuộc Đường cha ông chúng ta vẫn có những cuộc khởi nghĩa làm cho quân Đường tan tác, mặc dầu giới hạn về thời gian và ảnh hưởng.

        Năm 687, Lý Tự Tiên khởi nghĩa. Không rõ sinh quán của ông ở đâu, theo phần ngoại kỷ quyển 5 của ĐVSKTT, thì chỉ nói ông người họ Lý đất Lĩnh Nam đứng đầu cuộc khởi nghĩa chống sự đô hộ hà khắc của nhà Đường. Theo đó, như một nguyên nhân gần là chống sưu thuế. Quan đô hộ lúc ấy là Lưu Diên Hựu tăng lên toàn phần số thuế đối với người già mà trước đó chỉ thu một nửa. Năm 687, trong lúc chiêu tập binh sĩ thì bị lộ, Lý Tự Tiên  bị bắt. Lưu Diên Hựu giết chết ông, nhưng nghĩa quân không tan rã. Thuộc tướng Đinh Kiến tiếp tục sự nghiệp kháng chiến của ông và phát triển rất nhanh. Qua năm sau Đinh Kiến mang toàn quân tấn công phủ trị Tống Bình. Với thế công vũ bão, nghĩa quân đã chia hai lực lượng quân Đường ở trong thành và ngoài thành không yểm trợ nhau được. Họ đã chiếm được phủ Tống Bình và giết Lưu Diên Hựu. Tình hình còn mới mẻ chưa đủ sức lan rộng thì vua Đường Duệ Tông, thực ra mẹ nhà vua nầy, Võ Hậu, sai Tào Huyền Tĩnh mang đại quân qua tấn công và tiêu diệt quân kháng chiến. Thành Tống Bình thất thủ, Đinh Kiến bị giết, nghĩa quân tan rã. Đó là năm 688.

      Sau thất bại của Đinh Kiến, đến một phần tư thế kỷ sau mới có cuộc khởi nghĩa kế tiếp. Năm 713 Mai Thúc Loan khởi nghĩa ở Mai Phụ châu Hoan. Dĩ nhiên có một nguyên nhân sâu xa là lòng yêu nước, nhưng trực tiếp là từ đoàn dân phu gánh trái vải đi cống nộp. Ông đã lập căn cứ Vạn An bên bờ sông Lam như là một thủ đô kháng chiến trong vòng 9 năm. Thanh thế ông dần dần lớn mạnh. Ông đã liên minh với Lâm Ấp và Chân Lạp để chống lại nhà Đường. Quân sĩ và dân chúng đã coi ông như một vị vua với tên gọi thân mật là Mai Hắc Đế.  Năm 722 ông mang 3 vạn quân tấn công Tống Bình. Quân thủ thành nhà Đường và những đồn trú xung quanh tan vỡ. Quan đô hộ Quang Sở Khách phải bỏ thành mà chạy về Tàu. Trong cùng năm 722, Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng) phái Dương Tư Húc cùng Quang Sở Khách mang đại quân phản công đã chiếm lại được Tống Bình. Quân của Mai Thúc Loan lui dần về phía nam và dần dần yếu thế. Ông phải rút quân vào rừng và mất ở đó vào năm sau, năm 723.

      Sau khi cuộc kháng chiến Mai Thúc Loan tan rã, nhà Đường cai trị tinh vi hơn. Chúng gia ân cho một số người nầy và hà khắc hơn đối với một số người kia, hoặc những cách tương tự. Bằng cách nầy những thái thú nhà Đường làm lòng dân đã ít nhiều nghi kỵ lẫn nhau sinh ra ly tán, không tập trung vào những cuộc kháng chiến. Tuy nhiên để an toàn hơn, năm 767 quan đô hộ Giao Châu lúc đó Trương Bá Nghi xây một thành nhỏ ở nam Tống Bình. Thành không lớn nhưng được đặt tên là Đại La và nhiều di dân người Tàu đến cư ngụ. Cùng trong một quận nhưng mặt nam Tống Bình có thành Đại La phát triển hơn mặt bắc bên kia sông Hồng rất nhiều. Nếu được gọi là thái bình thì khu vực ngoại kiều nầy là khu vực duy nhất, những nơi khác đầy những bất ổn và lầm than. Vẫn còn đó những cuộc khởi nghĩa.

      Năm 779. Hào trưởng Đường Lâm là Phùng Hưng cùng hai em Phùng Hải và Phùng Dĩnh chiêu tập binh mã. Họ khởi nghĩa ngay nơi sinh quán của mình. Cuộc khởi nghĩa âm ỉ lan rộng nhưng mãi tới 12 năm sau, năm 791, mới tấn công thành Đại La. Khi chiếm được nội thành thì quan đô hộ Cao Chính Bình đã chết khiếp vì sợ hãi. Phùng Hưng mau chóng đặt guồng máy điều hành, nhưng không may trong cùng năm 791 ấy ông bị bịnh và qua đời. Rất tiếc là sau khi ông mất, lực lượng họ Phùng bị chia hai. Một nửa ủng hộ người em của Phùng Hưng là Phùng Hải, đã từng sát cánh với anh mình trong thời chinh chiến. Một nửa ủng hộ Phùng An, người con trai của Phùng Hưng. Phùng An được sự tận lực của dũng tướng Bồ Phá Cần nên thắng thế, đuổi quân của Phùng Hải chạy về Chu Nham. Phùng An thay cha để lãnh đạo nghĩa quân. Ông  phong tặng thụy hiệu cho cha mình là Bố Cái Đại Vương và lo củng cố triều đình. Hai cánh quân họ Phùng bây giờ đã yếu thế đi một nửa nên đến đầu năm sau không chống cự nổi quân nhà Đường kéo sang. Cả Phùng An và Phùng Hải đều ra hàng Triệu Xương, một lão tướng của Đường Đức Tông. Đó là năm 792.

      Sau khi Phùng An đầu hàng, nhà Đường vẫn giữ chế độ hà khắc với dân chúng, nhưng tỏ ra có nhiều ưu đãi với các hào trưởng địa phương. Chính sách nầy tạo ra hai hạng hào trưởng lúc bấy giờ. Một: thực tâm theo nhà Đường, họ được dân chúng cầu an tin theo. Hai: bằng mặt nhưng không bằng lòng. Các vị hào trưởng nầy ôm nỗi đau mất nước mà sống. Họ được sự nể vì thầm lặng của quần chúng, nhưng nằm dưới mắt canh chừng của quan quân nhà Đường. Ở châu Hoan lúc bấy giờ có hào trưởng Dương Thanh nằm trong hạng thứ hai nầy. Vì lý do đó, quan đô hộ Lý Tượng Cổ cho vời Dương Thanh về Tống Bình làm nha tướng để kiểm soát.

      Dương Thanh có một số quân trong tay nhưng vẫn ẩn nhẫn phục tùng lệnh của Lý Tượng Cổ. Năm 819, Dương Thanh được lệnh mang quân đi tây bắc để đánh giặc Tày và Nùng ở Hoàng động. Trong chiến dịch nầy được hay thua đều có lợi cho Lý Tượng Cổ, ông ta không hề nghĩ đến trường hợp thứ ba là Dương Thanh quay trở lại đánh Tống Bình. Dương Thanh chỉ được cấp một số quân rất ít, Dương Thanh biết phục tùng, Dương Thanh chỉ là một hào trưởng không phải là một tướng cầm quân. Những thứ ấy đã làm Lý Tượng Cổ không nghi ngờ. Chỉ trong một cuộc tấn công chớp nhoáng và bất ngờ, quân trở về của Dương Thanh đã làm chủ được Tống Bình. Lý Tượng Cổ đã chết khi trời vừa sáng giữa đám loạn quân chưa kịp mang gươm giáo vào người. Tuy nhiên, sự chiến thắng của Dương Thanh cũng không giữ được lâu dài. Trong cùng năm 819, Đường Hiến Tông phái Quế Trọng Vũ mang đại quân qua đàn áp. Duơng Thanh đã hi sinh trong cuộc chiến nầy. Nghĩa quân của ông được một thuộc tướng dẫn chạy về Tạc Khẩu nhưng cũng bị diệt vào năm sau.

      Cuộc khởi nghĩa của Dương Thanh là cuộc khởi nghĩa cuối cùng của dân Việt chống nhà Đường. Sau đó tình hình trở nên một “giai đoạn nô lệ yên ổn” và nó kéo dài tới gần 40 năm. Năm 854, chiến tranh biên giới Đường – Nam Chiếu xảy ra trên đất Giao Châu. Những bộ lạc sống miền núi bị quan đô hộ Lý Trác chèn ép quá mức. Họ phải đổi một con trâu hay một con ngựa để lấy một đấu muối, mà trước đó được đổi theo tỷ lệ một lấy mười. Họ phản kháng, Lý Trác mang quân tới trị tội. Những bộ lạc nầy hàng phục Nam Chiếu để chống lại. Nam Chiếu bấy giờ đương hùng mạnh cũng muốn bành trướng lãnh thổ. Chiến tranh lan rộng kéo theo những hào trưởng người Việt. Họ không hẳn ngả theo Nam Chiếu nhưng ra sức ủng hộ thổ dân. Một vị hào trưởng tên Đỗ Thành Tôn đã bị Lý Trác giết trong trường hợp nầy. Từ đó tình hình trở nên vô cùng bất ổn, quân nhà Đường tại An Nam đô hộ phủ (Giao Châu) không đủ sức kiểm soát. Đó là thời cơ thuận tiện cho quân Nam Chiếu tấn công.

      Mùa thu canh thìn 860 vua Nam Chiếu là Mông Thế Long sai tướng Đoàn Tù Thiên mang quân tiến sâu lãnh thổ Giao Châu. Họ chiếm được thành Đại La nhưng không giữ được, phải rút lui. Chiến trận giằng co qua 3 năm qua 3 lần nhà Đường đổi quan đô hộ.  Đến cuối năm 863, Đoàn Tu Thiên vào được Tống Bình chiếm thành Đại La một lần nữa. Chiến trận kết thúc khi quan kinh lược sứ Sái Tập bị giết chết cùng với quân lính nhà Đường trên 10 ngàn người. Trong số đó dĩ nhiên phải có số quân Việt đi lính cho họ. Uớc tính số lính nầy và thường dân Việt chết trong hai lần tấn công Đại La lên tới 150 ngàn người.

      Sau thất bại nầy nhà Đường phải dời phủ trị An Nam đô hộ phủ về Hải Môn. Thắng thế, Đoàn Tu Thiên ở lại Giao Châu làm Giao Châu tiết độ sứ của Nam Chiếu. Qua năm sau, nhà Đường phản công. Đường Hy Tông cử danh tướng Cao Biền giữ chức Đô hộ tổng quản kinh lược chiêu thảo sứ. Mùa thu năm 864 Cao Biền cùng tướng Vi Trọng Tể mang 30 ngàn quân tiến đánh Tống Bình bằng hai đường thủy bộ. Họ còn có thêm 25 ngàn quân trừ bị ở Hải Môn. Giằng co công thủ kéo dài gần hai năm, đến mùa hạ năm 866 chiến cuộc lên đến lúc cao điểm, bên chiến thắng nghiêng về nhà Đường. Nam Chiếu tăng viện binh và cử hai tướng Trương Tập và Phạm Na nhập cuộc. Tuy nhiên, chiến trận chỉ kéo dài qua hết mùa thu, đến tháng 10 năm 866, quân Nam Chiếu đại bại. Người ta nói Cao Biền rấm đậu thành binh và có hai thần tướng hiện lên giúp sức mới diệt được Nam Chiếu, nhưng thực ra ông ta có tài. Cao Biền giết được Đoàn Tu Thiên và quân Nam Chiếu hoàn toàn tan rã.

      Công dẹp Nam Chiếu là công lớn, nên Cao Biền có uy tín để xin nâng cấp An Nam đô hộ phủ (Giao Châu) thành Tĩnh Hải quân vào năm 867. Thỉnh cầu của Cao Biền được chấp thuận, và từ đó Cao Biền trở thành vị tiết độ sứ đầu tiên của Tĩnh Hải quân . Năm 867 Cao Biền cho xây thành Đại La to hơn và cao hơn, trước khi được triệu hồi về nước năm 876. Vị tướng tài ba, và cũng là người được biết đến như nhà phù thủy nầy đã để lại nhiều huyền thoại. Đó là bùa yểm long mạch mà đến thời hiện tại vẫn còn dư âm của nó. Nhưng, thực ra không đáng tin cậy. Tĩnh Hải quân có thời gian “yên ổn nô lệ” sau chiến tranh. Trong 9 năm Cao Biền đã mang đến sự phồn vinh cho kinh thành Tống Bình đến nỗi người ta gọi ông là Cao Vương. Trong khi Tĩnh Hải quân là thế, ở phương bắc đã bắt đầu rối loạn. Năm 873, Đường Ý Tông qua đời giữa cơn hạn hán kéo dài trải rộng khắp vùng trung tâm nước Tàu. Đường Hy Tông  lên thay cùng với nạn đói. Lúc này ông mới 11 tuổi, triều đình do hoạn quan Điền Lệnh Tư lèo lái. Những cuộc nổi loạn về đói ăn đã sinh ra những cuộc nổi loạn về chính trị và quyền lực. Quan trọng nhất là cuộc nổi loạn của Hoàng Sào.

      Năm 874, đạo quân của họ Hoàng từ miền trung xua quân qua Trường Giang tấn công các căn cứ quân sự nhà Đường ở phía nam.  Năm 879 Hoàng Sào đã chiếm được Quảng Châu, thủ phủ của Lĩnh Nam đông đạo. Năm 880, ông theo dòng Tương Giang chiếm Đàm Châu, thủ phủ của Hồ Nam. Tiếp theo, ông vượt bắc, qua Trường Giang trở lại. Cuối năm 880, ông chiếm Lạc Dương, chiếm Đồng Quan. Trong khi ấy ở Trường An, triều đình nhà Đường đang run sợ. Điền Lệnh Tư phải đưa Đường Hy Tông về Tây Xuyên. Đầu năm 881, quân Hoàng Sào tiến chiếm Trường An. Ông lập nhà nước mới: Đại Tề. Đại Tề không làm chủ được tình hình, các quân trưởng trung thành nhà Đường cất quân tiến về Trường An. Sợ biến loạn bất lợi, Hoàng Sào đồ sát tất cả thân thích của hoàng thân nhà Đường mà ông bắt được. Điều nầy làm dân chúng nổi loạn gây ra cuộc tắm máu. Ở Tây Xuyên, Đường Hy Tông cử Vương Đạc mang quân về Trường An diệt Đại Tề. Vương Đạc vốn là tể tướng hai triều Ý Tông và Hy Tông, tuy bị mất quyền lực về tay Điền Lệnh Tư nhưng uy tín ông rất cao. Nhờ đó ông thuyết phục được những quân trưởng lưng chừng ngả về phe Đường. Đặc biệt ông thuyết phục được Chu Ôn, người đã theo Hoàng Sào từ lúc khởi đầu đến khi đã chiếm được Trường An.

      Mất Chu Ôn, tình hình  xoay chiều rất nhanh, đầu năm 882, quân Hoàng Sào bị đánh bật ra khỏi Trường An phải chạy về phía bắc. Lúc nầy ở Trường An vẫn chưa yên. Mãi đến năm 888 Đường Hy Tông mới trở về kinh thành, nhưng một tháng sau bị mất. Người em Lý Kiệt lên thay tức Đường Chiêu Tông. Chiêu Tông bị hoạn quan và quyền thần áp chế. Nước Tàu lúc nầy luôn luôn bị tranh giành bởi các quyền thần quân phiệt, cuối cùng chỉ còn lại một mình Chu Ôn. Năm 904, Chu Ôn cho người ám sát Đường Chiêu Tông và sau đó giết 8 hoàng tử con của vị vua nầy, chỉ trừ người con thứ 9 là Lý Tộ được tôn làm vua tức Đường Ai Đế.

      Ai Đế lúc đó mới 12 tuổi  và hoàn toàn bị khống chế bởi Chu Ôn. Năm 905, Chu Ôn cử người anh ruột là Chu Dục qua làm tiết độ sứ Tĩnh Hải quân. Chu Dục tỏ ra bất tài ở một lãnh địa xa xôi nên Chu Ôn cử Độc Cô Tổn sang thay. Đến Tĩnh Hải quân, vị tân tiết độ sứ họ Độc Cô tỏ ra là người phản đối sự tàn bạo của Chu Ôn, ông liền bị biếm truất đến Nam Hải. Trong lúc chưa kịp tìm người thay thế thích hợp, một hào trưởng người Việt đứng lên dành quyền tiết đô sứ. Đó là Khúc Thừa Dụ. Chu Ôn vì bận lo sang đoạt nhà Đường nên không gây thêm rắc rối. Vị quyền thần nầy nhân danh Đường Ai Đế công nhận quyền tiết độ sứ của Khúc Thừa Dụ. Đó là cuối năm năm 905. Khúc Thừa Dụ là một nhà chính trị khôn ngoan. Ông đã dùng đường lối ngoại giao mềm dẻo để giữ cho xứ sở được yên. Đến năm 907 Chu Ôn phế truất Đường Ai Đế lập ra nhà Hậu Lương, thì họ Chu vẫn để yên Tĩnh Hải quân của Khúc Thừa Dụ

Nhà Tùy thống nhất nhưng rất ngắn
Chỉ có hai triều chính thật vương
Dân Nam lệ thuộc qua triều khác
Lý Uyên khởi nghĩa lập nhà Đường

Trăm năm hồ dễ quên non nước
Đâu vết thù xưa đâu Giao Châu
Đâu gọi An Nam đô hộ phủ
Nỗi nhục xanh rêu phủ một màu

Từ ấy dân tôi khổ thế nào
Sưu cao thuế nặng thấu trời cao
Ngà voi cống nạp đau lòng nước
Hạt lúa trong kho đẫm máu đào

Thuế muối thuế tiêu chồng thuế gạo
Thuế đay thuế vải cõng thuế bông
Dân tôi nghèo khó cơn mạt vận
Nuôi dưỡng trong tim chút lửa hồng

Nỗi hờn âm ỉ mà không nói
Mấy dậy nhân quần không có tên
Quân Đường dập tắt từ trứng nước
Tử sĩ vô danh chẳng miếu đền

Thuở ấy quan Đường quan Lưu Hựu
Tăng thêm “di lão” nửa phần sưu
Đáng ra được miễn như từ trước
Đã đắp lên cao ngọn oán cừu

Đốt ngọn nầy đây ở phía tây
Lý Tiên đứng dậy thắp lửa nầy
Có người phù trợ tên Đinh Kiến
Theo tiếng nhân quần bỏ thang mây

Cơ mưu chưa toại đà bị lộ
Mơ ước không tròn một giấc mơ
Nửa đường bỏ cuộc bao thương tiếc
Lý Tự Tiên bị giết bất ngờ

Đinh Kiến thay quyền tiếp khởi binh
Tiến quân lên sát phủ Tống Bình
Chia đôi quân giặc trong ngoài phủ
Lưu Hựu đền thù trước nghĩa binh

La Thành một sớm mùa đông cuối
Việt quân chiếm được giữ chưa yên
Sang xuân Tào Tĩnh từ phương bắc
Lại đến xâm lăng cướp chủ quyền

Có phải bên đường xác nghĩa binh
Ai người vì nước đã quên mình
Bao hồn tử sĩ phơi thây trắng
Lãng bạt nơi nào nghĩa nhục vinh

Mang mang khắp xứ hờn non nước
Tiếng vọng về đâu đến châu Hoan
Có người trai trẻ làng Mai Phụ
Chiêu tập nhân quần: Mai Thúc Loan

Gặp gỡ phương nam người Lâm Ấp
Hợp cùng Chân Lạp để liên minh
Thù chung giặc bắc đang bành trướng
Từng bước đi lên chuyển tình hình

Một buổi mùa thu đi chinh chiến
Nam phương quân tướng giấc Nam phương
Vang vang trong gió hồn nước Việt
Hắc Đế Mai Loan thắng Lý Đường

Đã thắng quan Đường, Quang Sở Khách
Sao thua Dương Húc giặc nam chinh
Đôi bờ lưu vực Lam Hồng ấy
Đã mất non sông mất Tống Bình

Đến mãi bao giờ ai khởi nghĩa
Thế hệ sau, sau nữa: Phùng Hưng
Nhân tâm buổi ấy còn ly tán
Mà ở Đường Lâm đã cháy bừng

Công thành một sớm mùa thu sớm
Sau những mười năm mãi chiến chinh
Non nước còn đây thành quách cũ
Quân Nam mừng lại đất Tống Bình

Đất chỉ có từ mùa thu trước
Trời ghen chi lên kẻ thực tài
Quốc hiệu chưa thông người đã mất
Sơn hà ai biết sẽ về ai

Bố Cái Đại Vương, phong thụy hiệu
Phùng An tôn tặng đến cho cha
Nhưng mà xứ sở không giữ được
Đất cũng ghen tương buổi thái hòa

Nhà Đường siết chặt An Nam phủ
Lại như xưa trăm nỗi nhọc nhằn
Giao Châu hồn Việt phương nao tá
Chẳng lẽ chết thầm theo gió trăng?

Ba mươi năm chẵn trong thinh lặng
Có kẻ vì đời khởi chiến binh
Mượn gió đường tây đi trở lại
Dương Thanh quay giáo chiếm Tống Bình

Vốn là hào trưởng nhiều tăm tiếng
Ở Hoan châu được gọi về thành
Giao quân đi đánh người Hoàng động
Mượn giặc Tày – Nùng giết Dương Thanh

Khâm lược sứ thuộc dòng họ Lý
Chuẩn ít quân để hại hiền lương
Nửa đường quay gót về Tô Lịch
Tiếng gọi non sông tiếng chống Đường

Một trận thư hùng không cân sức
Nhưng bất ngờ họ Lý mạng vong
Tống Bình thủ phủ reo vui lại
Đón tướng quân Nam nức cả lòng

Khí thế trùng trùng mà phụt tắt
Nhà Đường sai Quế Vũ nam chinh
Trong cùng năm ấy Dương Thanh thác
Trả lại dân Nam nỗi cực hình

Oan khiên phải chịu nhiều hơn trước
Chồng gánh thêm lên nợ thuế xâu
Cứ chờ binh biến mà không thấy
Suôn suốt thời gian mãi dãi dầu

Nỗi đau vỡ mủ lên biên ải
Nam Chiếu xua quân đánh Giao Châu
Tiến quân đi xuống từ tây bắc
Đường, Chiếu hai bên loạn bắt đầu

Chiến trường càng lúc Đường bất lợi
Nam Chiếu reo quân tiến Tống Bình
Đại La bỏ ngỏ bờ Tô Lịch
Người chết vô cùng giữa chiến chinh

Phủ trị chiếm rồi không giữ được
Một ngày đông Nam Chiếu bỏ thành
Canh Thìn năm ấy lần thứ nhất (860)
Tiếp viện quân Đường nhanh rất nhanh

Lần hai máu chảy tràn Tô Lịch
Nam Chiếu vây thành chiếm Đại La
Chia quân ra đánh nhiều xứ phủ
Đất Việt nghe đau họa giữa nhà

Giằng co có tới bao năm chẵn
Chiến trận liên miên máu đổ đầy
Trông lại trong ai hồn non nước
Thương thay dân Việt chịu họa lây

Tướng tài thay mãi đôi bên địch
Một trận cuối cùng định hơn thua
Cao Biền danh tướng thời Đường mạt
Chiếm lại La Thành, Nam Chiếu thua

Từ ấy không còn đô hộ phủ
An Nam được đổi Tĩnh Hải quân
La Thành xây đắp nhiều lên nữa
Hỏi thử dân Nam mấy kẻ mừng

Một sớm Cao Biền về cố quốc
Tĩnh Hải quân yên ổn một phương
Trong khi đất bắc ngàn loạn lạc
Châu quận liên quân chống trả Đường

Khởi nghĩa Hoàng Sào, Đường tê liệt
Hi Tông bỏ chạy đến Tứ Xuyên
Giang sơn nặng trịch treo đầu tóc
Ai Đế lên ngôi chẳng thực quyền

Cát cứ từng vùng từng phiên trấn
Quyền thần lung lạc ở trong cung
Chu Ôn biếm truất quan Đường cũ
Dâu biển nào ai biết vô cùng

Tĩnh Hải bây giờ ra sao nhỉ?
Ai Đế nào hay biết chuyện gì
Ngay cả ngôi vua chưa chắc giữ
Huống gì ngàn dặm chuyện ở đi

Triệu hồi Chu Dục về đất bắc
Chu Ôn phái Độc Tổn sang thay
Một ngày lại phải về Nam Hải
Số phận ai hay bước lưu đày

Bỏ trống phương nam vì loạn bắc
Chu Diên hào trưởng nắm thời cơ
Muôn dân ủng hộ xưng tiết sứ
Vận nước đi lên một khúc bờ

Mềm dẻo không xưng đế, bá, vương
Nương theo loạn lạc cuối thời Đường
Im lặng rèn quân mài ánh thép
Dù cho họ Khúc thuộc Hậu Lương


<<  |  >>