Skip to content

Chương ba

MÊ LINH VÀ HAI BÀ TRƯNG
(39-43)

Khi Lộ Bác Đức giết được Triệu Dương vương và Lữ Gia, thì vẫn còn những kháng cự kế tiếp như Tây Vu vương ở xứ Tây Vu và các lộ quân phía nam. Tuy nhiên trong cùng năm ấy, các lực lượng nầy bị dẹp tan. Không những thế, Lộ Bác Đức còn xua quân sâu về phía nam qua dãy Hoành Sơn chiếm thêm một vùng đất của nước Hồ Tôn. Mùa thu năm 111 TCN, Hán Vũ Đế xóa tên nước Nam Việt của nhà Triệu, và chia nó ra làm 8 quận.  Tám quận nầy cọng với quận thứ 9 tức vùng mới chiếm bên kia Hoành Sơn được lập thành bộ Giao Chỉ*. Trị sở của bộ nầy không đặt ở Phiên Ngung mà cho lập ở Thương Ngô (Quảng Tây), và giao cho một vị quan cai trị gọi là thứ sử. Thứ sử bộ Giao Chỉ coi 9 quận trực thuộc. Đó là Nam Hải, Hợp Phố, Thương Ngô, Uất Lâm, Chu Nhai, Đạm Nhĩ, Giao Chỉ, Cửu Chân và quận mới chiếm Nhật Nam.

Mỗi quận có một quan cai trị gọi là thái thú. Mỗi thái thú coi nhiều huyện, và mỗi huyện có một số lạc hầu lạc tướng người bản xứ.  Quyền hạn các vị hầu tướng nầy bị rất nhiều hạn chế nên khó che chở được con dân mình.  Thuế bị đánh cao hơn và nhiều loại hơn. Phẩm vật qúi biển rừng phải đủ số lượng để giao về mẫu quốc. Đây là thời kỳ đầu tiên dân Việt Nam phải chịu sự đô hộ hà khắc. Sử gọi nó là bắc thuộc lần thứ nhất. Nó kéo dài tới hơn 150 năm, dù rằng đến những năm đầu công nguyên ở nước Tàu có rất nhiều biến chuyển.

Từ năm thứ nhất TCN triều đình nhà Hán dần dần suy yếu, quyền hành nằm trong tay ngoại thích Vương Mãng. Ông nầy là phụ chính đại thần, lần lược giết hai vua còn nhỏ là Lưu Khản và Lưu Anh. Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán năm thứ 8 công nguyên lập nhà Tân và làm vua 14 năm. Thời nhà Tân xảy ra loạn quần hùng, và cuối cùng Lưu Tú đã thu phục rồi tiêu diệt luôn nhà Tân lập trở lại nhà Hán thường được gọi là Đông Hán**. Lưu Tú thống nhất lãnh thổ được tôn làm vua tức Hán Quang Vũ Đế vào năm 25 đầu công nguyên. Đến năm năm 40 xảy ra chiến tranh với Giao Chỉ. Đó là cuộc chiến giữa quân khởi nghĩa của hai bà Trưng và nhà nước đô hộ.

Dĩ nhiên là có sẵn một nguyên nhân sâu xa, nhưng nguyên nhân trực tiếp là dân Giao Chỉ chống sự hà khắc của quan thái thú mới trấn nhậm. Năm 34, Tô Định sang thay Tích Quang làm thái thú quận Giao Chỉ. Họ Tô là một người vô cùng tàn ác. Ông ta dùng hình phạt rất nặng đối với người dân chưa kịp đóng thuế, và đàn áp những mầm mống khởi nghĩa rất dã man. Cuối năm 39 ông ta giết Thi Sách, một người cổ xúy phong trào giành độc lập ở Chu Diên. Cái chết của Thi Sách như một giọt nước tràn ly. Thực sự lực lượng kháng chiến đã được chuẩn bị từ lâu. Nó đã được Thi Sách và vợ là Trưng Trắc xây dựng khi họ còn là những chiến sĩ riêng lẻ ở hai nơi. Thi Sách ở Chu Diên bên bờ nam, và Trưng Trắc ở Mê Linh bên bờ bắc sông Hồng. Từ lúc ấy họ đã có một số lạc hầu lạc tướng ủng hộ. Những binh đoàn nghĩa quân đã được âm thầm thành lập.

Đầu năm 40, Trưng Trắc và em là Trưng Nhị cùng các lạc tướng quyết định khởi nghĩa. Với lực lượng sẵn có và được nhiều người ủng hộ, nơi nơi như có từng luồng sóng vỡ bờ. Trưng Trắc nhanh chóng thành lập nhiều đội quân tinh nhuệ và có cả một số nữ tướng trong đoàn quân. Đêm rằm tháng giêng năm 40, bên bờ sông Hát tại Mê Linh, họ thắp nguyện đất trời tổ tiên chứng giám. Từng thủ lãnh đoàn quân khởi nghĩa có mặt bên ánh lửa bập bồng của đêm trăng rằm. Sau giờ phút oai linh của đêm trường ấy, quân khởi nghĩa xuất quân. Họ trực chỉ về quận trị Giao Chỉ bên bờ sông Dâu: thành Liên Lâu.

Thành Liên Lâu bấy giờ không phải là lỵ sở của bộ Giao Chỉ, mà chỉ là lỵ sở của quận Giao Chỉ. Được gọi là thành, nhưng chỉ là những bờ tường bằng đất, với số quân phòng vệ chừng mực. Khi Tích Quang còn làm thái thú, ông ta thường lấy lượng nhân từ để trị dân nên sự phòng thủ chỉ ở mức thấp. Tô Định vừa lên thay, chưa kịp lập những công sự bố phòng. Đó là lý do thành Liên Lâu bị chiếm ngay sau khi đoàn quân khởi nghĩa từ Mê Linh kéo về. Ngay giữa ban ngày Tô Định vẫn không đủ sức điều quân chống đỡ. Vị tân thái thú Giao Chỉ phải thu nhóm tàn quân chạy về Thương Ngô.

Với đà tiến quân vũ bão cọng với toàn dân nước Nam Việt cũ muốn thoát khỏi ách Hán triều phương bắc, nên quân khởi nghĩa mau chóng thành công. Chưa đầy một tháng phủ lỵ bộ Giao Chỉ ở Thương Ngô cũng bị bỏ ngỏ. Quân xâm lăng Đông Hán phải rút chạy về bên kia bờ Trường Giang. Quân kháng chiến đã nâng số thành trại chiếm được khắp bộ Giao Chỉ lên tới 65. Được quân dân ủng hộ, Trưng Trắc xưng vương hiệu là Trưng Vương. Bà không chọn Phong Châu, Phong Khê, Phiên Ngung hoặc Thương Ngô mà chọn Mê Linh quê hương của mình làm thủ đô. Không thấy sử cũ ghi quốc hiệu ở thời bà Trưng Trắc, nhưng bà là người giành được độc lập sau 150 năm nô lệ. Bà quả là một kiệt nữ phi thường của ngàn năm trước.

      Khi lên ngôi, Trưng Vương bỏ hầu hết các thứ thuế, đưa đất nước đến thời thái bình. Nhưng, nó kéo dài không được bao lâu. Đầu năm 43, Hán Quang Vũ Đế sai đệ nhất danh tướng thời bấy giờ là Mã Viện đi tái chiếm lãnh thổ thuộc trị. Với một đạo quân đông đảo và dày dạn chiến trường, quân đông Hán đã sớm làm chủ được tình thế. Mùa hè năm 43 Mã Viện gặp sự kháng cự mãnh liệt ở hồ Lãng Bạc***. Chiến trường nầy kéo dài gần một năm, quân đội Mê Linh chết quá nhiều trước giặc thù phương bắc. Trưng Vương ra lịnh rút lui về cố thủ Mê Linh, nhưng tại đây vẫn không giữ được. Cuộc rút lui cuối cùng về Cẩm Khê chỉ còn là một trong nhiều lực lượng chạy đi các nơi. Sức tàn lực kiệt hai bà cầm cự trong tuyệt vọng, và cuối cùng trầm mình dưới dòng sông Hát. Từ giữa năm 43 nầy đất nước rơi vào lệ thuộc phương bắc mà sử gọi là bắc thuộc lần thứ hai.

Bộ Giao Chỉ hóa vàng Nam Việt
Hồn Lữ Gia réo gọi đất trời
Dù ai thái thú ai thứ sử
Dân Nam máu lệ cũng đầy vơi

Từ ấy trời Nam đau bắc thuộc
Dân đen lầm lủi sống lầm than
Ai ra biển cả mò trai ốc
Ai kiếm ngà voi ở chốn ngàn

Sưu cao đánh nặng lên từng thuế
Mòn mỏi trên từng mỗi khó khăn
Dâng nộp ngà trai về kho lẫm
Mà bước chân xiêu nặng vết hằn

Quan triều sau trước Tây, Đông Hán
Luôn cả một thời Vương Mãng Tân
Thái thú trăm người chưa được một
Cai trị dân Nam khổ mấy lần
Tám quận chia ra từ Nam Việt
Chiếm thêm một quận cuối trời nam
Bên kia đèo ải Hoành Sơn ấy
Biên giới về sau hậu thế Chàm

Sơn hà mở rộng mà tủi nhục
Nếu chỉ đau lòng, tiếc lắm thay
Hơn cả trăm năm dài nô lệ
Đến lúc Mê Linh mới có ngày

Chị em lệch tuổi không là mấy
Một độ đôi mươi khách má hồng
Mắt buồn xa thẳm vời sông núi
Nghe lòng se sắt đợi non sông

Chị là Trưng Trắc, em Trưng Nhị
Em vẫn thanh xuân, chị lấy chồng
Chồng là Thi Sách, Chu Diên xứ
Chiêu tập nhân quần nợ núi sông

Cơ may không đến người tiết tháo
Một sớm đông về gặp tai ương
Chưa đi đã thác về tay giặc
Bỏ lại sau lưng mấy đoạn trường

Buổi ấy non sông mờ ngấn lệ
Mê Linh, Giao Chỉ gọi Chu Diên
Gọi hồn Lạc Việt ngàn năm trước
Gọi tổ Văn Lang chứng giám nguyền

Sinh tử chỉ như là phù vân
Tào khang chỉ như là vầng nguyệt
Mà nợ nước nặng như vầng tây
Nay Mê Linh nguyền rửa hận nầy

Lời nguyền như thể lay trời đất
Canh tý mùa xuân năm bốn mươi
Chị em khởi nghĩa từ sông Hát
Hồn Lạc ngàn năm có ngậm cười?

Tin mừng lan rộng từng cố quận
Vang dậy trời Nam quân tiến quân
Có người con gái từ Yên Dũng
Xuất chiến ba quân hợp nhân quần

Ngàn ngàn binh tướng phò Trưng Trắc
Ở mạn Tiên La có Thục nương
Trần Năng khởi Nghĩa từ Yên Lãng
Lê Ngọc Trinh tụ nghĩa Vĩnh Tường

Nàng Nội xung phong về Bạch Hạc
Lê Chân nữ tướng dọc An Biên
Hồ Đề phó soái từ Yên Lập
Đến động Lão Mai trải một miền

Lê Hoa nữ tướng chiều sông Mã
Đạp sóng Nga Sơn phá thành trì
Nàng Quỳnh trẻ tuổi tiên phong bắc
Lẫm liệt bên trời dáng uy nghi

Quân Nam chẻ dọc Văn Lang cũ
Chiếm lại thành trì Âu Lạc xưa
Tiến quân ra tận đông Tượng Quận
Đông Hán quan quân chạy loạn bừa

Tô Định bạt hồn đêm loạn tướng
Chạy về đất bắc bỏ Liên Lâu
Nhị nương điểm tướng an quân lại
Non nước bừng lên đắp dãi dầu

Dân quân phù trợ lên ngôi vị
Trưng Trắc xưng vương hiệu Trưng Vương
Sáu lăm cũ mới bao thành quách
Mừng gọi tàn chinh khắp nẻo đường

Thành Dền dựng lập mùa thu trước
Trưng Nhị lên đường chăm việc quân
Thanh bình mới nở còn non lắm
Luyện tập chuyên binh khó được ngừng

Tướng sĩ tâm đầu thời gian khó
Ai người còn lại cuối chiến chinh
Mê Linh thủ phủ chiều Yên Lãng
Ta gởi cho ai tấc dạ mình

Phu tướng nơi nào cõi dặm xa
Nỗi buồn riêng lẻ một mình ta
Mờ trông khói sóng chiều non nước
Thắp tạ cao xanh buổi thái hòa

Thái hòa buổi ấy chừng bao nhỉ
Đã dấy biên thùy tiếng động binh
Bốn mươi tây lịch, mùa xuân trước
Vỏn vẹn hai năm được thái bình

Mừng vui chưa kịp yên hồn nước
Mà chiến tranh về đau máu xương
Đâu trách dân ta là nhược tiểu
Mà trách quân thù mộng bá vương

Chiến trận trùng trùng hồ Lãng Bạc
Hồn người phảng phất tận hư không
Quân Nam chất đống xương còn máu
Máu chảy về sông trả non sông

Trưng Vương truyền lệnh lui binh tướng
Bỏ cả Mê Linh trước cuối cùng
Thế giặc hung tàn như vũ bão
Nhìn nhau mờ lệ máu hờn chung

Ai về nhớ hỏi hồn Lãng Bạc
Đất cũ ngàn xưa nay ở đâu
Gởi nén hương lòng cho tử sĩ
Trải mấy thời gian mấy dãi dầu

Bỏ trận bỏ thành lui cứ địa
Cấm Khê, Yên Lập ở nơi nao
Bao giờ biết được người xưa ấy
Trận đánh sau cùng đau biết bao!
Quân tàn lực tận song nương thác
Nợ nước quên mình đất Mê Linh
Mờ mờ sương phủ bờ sông Hát
Tiếng sóng hờn lên nỗi bất bình

___________________________

*Giao Chỉ: Là một địa danh được gọi trong các thời kỳ:
Thời Văn Lang : là tên một xứ trong 15 xứ, kéo dài trên 2, 500 năm.
Thời Âu Lạc: tên một xứ như thời Văn Lang, và kéo dài 50 năm.
Thời Nam Việt : chia Âu Lạc cũ thành 2 bộ Giao Chỉ và Cửu Chân. Như vậy ở thời nầy Giao Chỉ rộng hơn hai thời trước, và kéo dài 97 năm.
Thời thuộc Tây Hán và Vương Mãng: Lấy quận Nhật Nam phía nam Hoành Sơn nhập với Nam Việt cũ thành bộ Giao Chỉ, trong bộ Giao Chỉ có quận Giao Chỉ. Vậy bộ Giao Chỉ trong thời kỳ này rộng hơn 3 thời kỳ trước. Nó kéo dài 225 năm.
Thời Đông Hán: năm 203 đổi bộ Giao Chỉ thành bộ Giao Châu (khi người xưa viết Giao Châu thì được hiểu là châu Giao, một đơn vị hành chánh tương đương cấp tỉnh. Nó cũng giống như một số châu khác như Hồng Châu, Diễn Châu…, có nghĩa là châu Hồng, châu Diễn). Trong Giao Châu có quận Giao Chỉ. Nó kéo dài 197 năm.
Sau đó, trong một thời gian rất dài từ Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần và Hồ không dùng tên Giao Chỉ nữa. Đến năm 1407 Chu Lệ Minh Thành Tổ thắng Hồ Hán Thương đặt ách cai trị lên nước ta lần nữa. Lúc nầy cả một nước từ Lạng Sơn đến Hóa Châu (Thừa Thiên) nhà Minh đặt là quận Giao Chỉ. Quận Giao Chỉ nầy có tới 17 phủ, mà phủ trung tâm gọi là phủ Giao Châu. Giao Chỉ ở thời nầy ngắn nhất, chỉ có 20 năm. Khi Bình Định vương Lê Lợi ký hòa ước Đông Quan năm 1428, đuổi quân Minh về nước thì bỏ hẳn tên Giao Chỉ.

**Tây Hán, Đông Hán: Căn cứ theo thủ đô của hai triều đại nầy. Tây Hán từ Lưu Bang đến Lưu Ngao (năm 202 TCN đến 8 CN) có thời gian dài đóng đô ở Trường An (Xi – An). Đông Hán từ Lưu Tú đến Lưu Hiệp (năm 25 đến 220) có thời gian dài đóng đô ở Lạc Dương (Luoyan). Trường An nằm ở phía tây của Lạc Dương và có khỏang cách gần 400 km. Xen giữa hai thời kỳ này là thời nhà Tân của Vương Mãng 14 năm. Tính theo thời gian, thì hai thời nầy còn được gọi là Tiền Hán và Hậu Hán. Về sau, thời Ngũ Đại Thập Quốc, có một triều đại cũng gọi là Hậu Hán, nhưng chỉ kéo dài được 3 năm.

*** Hồ Lãng Bạc: Ở đây đã xảy ra một trận đánh lịch sử giữa quân Mã Viện và quân Hai Bà Trưng. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có nói trận đánh nầy, nhưng không nói Lãng Bạc nằm ở đâu. Riêng trong Thông Giám Cương Mục của sử quan triều Nguyễn có viết rằng hồ Lãng Bạc là hồ Tây. Điều nầy được “chua” trong chương nói về vua Lê Thái Tông năm 1479. Có lẽ qua đó, một số thơ nhạc thời cận và hiện đại được một số tác giả viết hồ Lãng Bạc là hồ Tây. Tuy nhiên theo nhà nghiên cứu sử Hồ Văn Châm thì không phải như vậy. Theo ông Châm thì Mã Viện tiến đánh Giao Chỉ bằng bộ binh, kéo từ biên giới Tàu-Việt phải đến Lãng Bạc trước khi đến Mê Linh. Mê Linh thuộc Yên Lãng tức Phúc Yên bây giờ. Nó nằm phía bắc sông Hồng, thì dĩ nhiên Lãng Bạc cũng phải phía bắc sông Hồng, trong khi đó hồ Tây nằm phía nam sông Hồng. Theo diễn tiến hợp lý thì quân hai bà phải thua trận Lãng Bạc ở phía bắc Mê Linh trước khi thua trận Mê Linh. Vậy hồ Lãng Bạc phải ở một nơi nào đó thuộc Bắc Giang, Thái Nguyên hay Bắc Ninh mà theo thời gian đã không còn nữa.


<<  |  >>