Skip to content

Chương 35

VUA LÊ CHIÊU THỐNG

      Khi Ngọc Hân về hành dinh của Nguyễn Huệ ở lầu Ngũ Long chưa đầy một tháng thì vua Lê Hiển Tông băng hà. Đó là ngày 17 tháng 7 năm bính ngọ 1786.  Hoàng tôn thế tử Lê Duy Khiêm lên nối ngôi, tức vua Lê Chiêu Thống. Nhà vua phải gánh lấy một triều đình hụt hẫng từ nhiều phía. Nó chỉ là một cái vỏ không có cái gì bên trong. Những người có uy tín từ bên phủ Trịnh như Nguyễn Hoàn, Bùi Huy Bích, Lê Phan Phiên… đều tìm cách lui về quê. Trừ một số hoàng tộc nhà Lê theo vua Lê Hiển Tông từ trước, chỉ có bồi tụng Trần Công Xán dưới thời chúa Trịnh Khải có mặt tại tân triều. Do vậy mọi điều động quân sự đều do nguyên soái Phù chính Dực Vũ Nguyễn Huệ tiết chế. Người ta sợ cái uy oai của ông dù ông không mạnh tay với những người không chịu quy phục. Ở Hải Dương vẫn còn Đinh Tích Nhưỡng không bị truy lùng sau trận Đại Hoàng. Ở Sơn Tây vẫn còn Hoàng Phùng Cơ và 4 người con lẩn trốn sau trận Thúy Ái. Ngay tại Gia Lâm, Dương Trọng Tế vẫn được an toàn khi chỉ cách quân Tây Sơn của tướng Vũ Văn Nhậm một bờ đê. Người ta đồn rằng nhờ công chúa Ngọc Hân mà nguyên soái họ Nguyễn trở nên không sắt máu. Và, người ta cũng tin rằng Tây Sơn rồi sẽ rút về “nước” nên không cần đánh dẹp đám tàn quân trung thành với Lê hay với Trịnh còn lại.

      Trong lúc những tin đồn như thế lan ra, thì dân Đông Kinh được loan báo có vua Tây Sơn sẽ đến thăm thủ đô. Nguyên vua Thái Đức Nguyễn Nhạc đã tức giận khi nhận được thư của Huệ kéo quân ra Bắc Hà. Điều nầy vừa mang tội tự chuyên, và tội không theo đúng chiến lược. Vốn vua Thái Đức chỉ muốn Tây Sơn thay thế triều đình chúa Nguyễn mà thôi. Giận Huệ, nhưng vẫn thương Huệ. Mang quân ra tới chỗ thành đồng có cả hàng ngàn năm lịch sử liệu sẽ ra sao? Vừa giận vừa thương vừa chờ đợi, bỗng một hôm nhận được tin Huệ chiếm được Bắc Hà và cưới vợ. Điều nầy làm nhà vua hỏi lại những suy nghĩ của mình. Trong khi ta chỉ mãi ở Qui Nhơn mà những bước chân của Huệ đã dày dạn cả từ trong nam ra ngoài bắc. Ta đã già rồi chăng? Mơ ước của ta quá tầm thường chăng? Và, nhất là Huệ không còn trung thành với ta chăng? Nghĩ đến trung thành, nhà vua đã nghĩ đến vai vế quân thần, nhưng còn đó một tình anh em. Lấy tình nầy đích thân ra bắc giữ Huệ lại. Trừ ta, không ai kiềm giữ con ngựa rừng Tây Sơn nầy. Nghĩ thế, vua Thái Đức ra lịnh Vũ Văn Dũng chuẩn bị quân binh lên đường. Đi ngang qua bắc Quảng Nam nhà vua kéo luôn Nguyễn Văn Duệ, người đã cùng Nguyễn Huệ dẹp loạn Nguyễn Quyền trước đây.

      Hành trình đường bộ đã mất hết một tháng trời. Vua Thái Đức và đoàn tùy tùng gần năm trăm người đến Đông Kinh vào giữa tháng 8 năm 1786. Những ngày anh em bên nhau luôn luôn có sự khiêm cung của người em Nguyễn Huệ. Huệ ra tận cửa ô Cầu Dền đón vua anh và tạ lỗi tự chuyên lúc trước. Huệ giao binh phù và mời vua anh ngự tại chính tẩm lầu Ngũ Long. Huệ giới thiệu công chúa Lê Ngọc Hân với nhà vua, và hai vợ chồng dọn ra gác Kỳ Lân bên cánh trái. Huệ sai Chỉnh sắp xếp cuộc hội kiến giữa vua Tây Sơn Thái Đức và đương kim hoàng đế Lê Chiêu Thống. Nhà vua họ Lê thân hành qua lầu Ngũ Long chứ không phải vua Tây Sơn bái yết vua Lê ở điện Vạn Thọ. Hai người không ai lạy ai, chỉ vái chào. Điều nầy cho thấy vua Lê Chiêu Thống đã nhường đi một bước, nhưng ông vẫn còn sợ cái “nước Tây” nầy. Vua nhà Lê xin cắt đất để tạ ơn Tây Sơn đã mang quân ra diệt Trịnh. Vua Thái Đức một mực không nhận, với câu nói đầy khí khái: “ Họ Trịnh chuyên quyền, chúng tôi đem quân ra đây chỉ có ý giúp nhà vua mà thôi. Nếu đất Bắc Hà của Trịnh một tấc chúng tôi cũng lấy, mà đất nhà Lê một phân chúng tôi cũng không dám đụng. Chỉ mong nhà vua giữ kiền cương để hai nước chúng ta đời đời giao hảo”. Ân tình như thế còn gì hơn! Sau những lời thăm hỏi và chúc tụng, vua Lê Chiêu Thống ra về. Bài bản kế tiếp của Nguyễn Hữu Chỉnh là các hàng quan văn qua phủ chúa Trịnh để vấn an vua Tây Sơn. Dĩ nhiên vua Tây Sơn thấy giá trị của mình lên cao trước triều đình Bắc Hà, nhưng đây không phải là mục đích của vua Thái Đức. Ông chỉ muốn kéo Nguyễn Huệ về Qui Nhơn càng sớm càng tốt.

      Người ta (Hoàng Lê Nhất Thống Chí, và sử nhà Nguyễn) nói đầu tháng 9 của năm 1786 nầy anh em Tây Sơn đã trốn Nguyễn Hữu Chỉnh mà kéo quân trở về. Họ nói vua Thái Đức Nguyễn Nhạc đã gọi Nguyễn Hữu Chỉnh vào lầu Ngũ Long dự tiệc suốt đêm, trong lúc Nguyễn Huệ ở ngoài lo thu xếp chuyển quân. Khi Chỉnh về doanh trại của mình thì trời đã sáng, và không còn thấy một binh lính dưới quyền nào nữa. Có lẽ diễn tiến không phải như thế. Tại sao Huệ lại lén Chỉnh trong khi có thể lấy quyền hạn buộc Chỉnh ở lại Bắc Hà? Công việc còn mênh mang, Chỉnh ở lại là hợp lý nhất. Hơn nữa, với cá tính của Huệ khó có thể nói Huệ đã trốn một thuộc tướng để ra đi. Mà trốn thế nào được, khi lực lượng Tây Sơn không phải là ít? Ngoài đoàn tùy tùng gần cả trăm người của Nguyễn Nhạc, Huệ có một cô vợ mới cưới, và trên 8 ngàn quân. Huệ đã vét sạch Thuận Hóa đi chinh bắc kia mà. Số quân như thế làm sao trốn được với những cuộc vận chuyển xuống thuyền hay lên ngựa. Vô số những lương thực và vật dụng lấy từ phủ Trịnh và Vị Hoàng không thể nhẹ nhàng như chiếc nhẫn dấu trong túi áo. Có thể Nhạc và Huệ chọn Chỉnh ở lại giúp vua Chiêu Thống điều hành Bắc Hà, nên đã để Chỉnh ở lại. Dĩ nhiên là Chỉnh phải tuân lệnh, nhưng khi Tây Sơn đi rồi thì nỗi sợ hãi đến với Chỉnh quá lớn. Dù Chỉnh không xúc phạm gì đến nhà Lê, nhưng những vong hồn phù Trịnh như Lý Trần Quán, Đỗ Thế Long thì không ít. Những tôn thất Trịnh còn sống cũng rất nhiều. Không nói đâu xa, chỉ một Trịnh Lệ, người đã từng dám đoạt ngôi huynh trưởng Trịnh Sâm là một ví dụ. Và, và nhiều nữa làm Chỉnh run lên. Phương chước duy nhất không gì hơn là bỏ kinh thành Đông Kinh. Trong lúc còn tranh tối tranh sáng, Chỉnh vội vã lên thuyền bám theo Tây Sơn một lần nữa.

      Chỉnh ven theo thềm biển đến Nghệ An, thì hay tin quân Tây Sơn có mặt ở đây. Anh em Tây Sơn muốn dừng lại cố thổ tổ tiên, và cũng là nơi nghe đồn có vị danh sĩ Nguyễn Thiếp đang ẩn cư. Tình hình thấy yên, nhưng trên thực tế Nghệ An đang là nơi vô chủ. Trấn thủ Bùi Thế Toại đã trốn khỏi trấn lỵ Vĩnh dinh từ lâu rồi. Chẳng có đơn vị quân đội nhà Lê nào, chỉ có những hương hào ra đón tiếp anh em Tây Sơn. Sự vô chủ của Nghệ An như một miếng mỡ để trước miệng mèo. Vùng đất Hoan Châu xưa đã thuộc về Tây Sơn trong trường hợp bỏ trống như thế. Vua Thái Đức ra lịnh thuộc tướng Nguyễn Văn Duệ cùng với hai phụ tá là Nguyễn Đình Viện và Nguyễn Thuyên ở lại. Ông đặt Nguyễn Văn Duệ làm trấn thủ, và sai Duệ tung quân ra chiếm giữ các đồn bảo của nhà Lê trước đây.  Được Nghệ An quá dễ dàng. Nó giống như một người đi đường đang về nhà, thì tình cờ nhặt được một món đồ rơi. Người chủ ở Đông Kinh không hề biết, nhưng nếu biết chưa chắc đã lấy lại được. Điều nầy rất mỉa mai, khi nhớ lại vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc đã nói với vua Lê Chiêu Thống chỉ cách đây chưa tròn một tháng.

      Lấy Nghệ An là cái vươn tay tình cờ của vua anh, làm Nguyễn Huệ vui mừng. Ít ra đây cũng là một điều thức thời. Thế là cái xứ tổ tiên gốc của nhà Nguyễn Tây Sơn đã thuộc về Tây Sơn. Niềm vui dòng tộc xen lẫn niềm vui giang sơn. Đó là lúc Chỉnh hớt hãi chạy đến bái yết Nguyễn Huệ. Ngay tại Vĩnh dinh đông người, Chỉnh không ngần ngại nói tình cảnh của mình, và xin cùng về Phú Xuân. Huệ không khe khắt với người thuộc tướng đã giúp mình nhiều việc. Ông nghĩ Đông Kinh không có Chỉnh cũng có cái hay. Vua Chiêu Thống Lê Duy Khiêm tự điều chỉnh, nếu tệ đi, sẽ tính tiếp.  Ông vỗ an Chỉnh và cho Chỉnh ở lại Nghệ An. Dĩ nhiên điều nầy phải được thông qua vua Thái Đức, và mọi việc suôn sẻ để rút quân về.

      Khi qua khỏi sông Gianh, đến Hải Trạch (Bố Trạch, Quảng Bình) Nguyễn Huệ thay mặt nhà vua cho dừng quân lại. Ý niệm về một bắc nam phân đôi vẫn còn trong lòng người. Điều nầy dễ làm người ta thấy Vĩnh dinh, dinh lỵ của Nghệ An, quá bơ vơ đối với phương nam. Trên thực tế, nó khó kiểm soát và khó điều quân khi cách Qui Nhơn cả hàng 800 cây số. Do vậy, Nguyễn Huệ xin vua anh lập ba quân doanh nằm ở phía nam Vĩnh dinh. Đó là Kỳ Hoa (Kỳ Anh) do Nguyễn Văn Duệ ở Vĩnh dinh kiêm nhiệm. Hải Trạch do Vũ Văn Dũng trông coi, và  Động Hải (Đồng Hới) do Võ Văn Nhậm trấn nhậm.  Động Hải là quân doanh lớn nhất, và phò mã Võ Văn Nhậm vẫn giữ chức tả tướng của của Nguyễn Huệ chỉ huy tổng quát những quân doanh tân lập. Hệ thống phòng thủ mới nầy càng làm vững chắc thêm sức mạnh phương nam, trong khi đó phương bắc trở nên hụt hẫng. Chỗ dựa Phù Chính Dực Vũ nguyên soái Uy quốc công Nguyễn Huệ chẳng tốt lành gì, nhưng mất đi thì đảo lộn tất cả.

      Quả thế. Ngay sau đêm Tây Sơn bỏ đi, triều đình vua Lê Chiêu Thống lộn xộn chẳng còn thứ gì ra thứ gì. Trước giờ thiết triều ngày hôm sau, nhà vua đã than thở: “anh em nhà hắn đi hết, để lại cái nước không cho ta”. Đó là câu nói đầu tiên của vị vua 20 tuổi, lúc thực sự nhận lấy gia tài Đại Việt. Cuộc thiết triều hôm ấy được thay đổi nhiều thứ, chỉ giữ nguyên việc đặt niên hiệu là Chiêu Thống thì không thay đổi. Chỉ mới được thấy ánh sáng ngoài đời vài năm sau khi ngồi tù gần 11 năm, cậu bé Khiêm 7 tuổi ngày xưa không đủ sức xoay chuyển tình hình. Nhà vua cho người tìm cựu tham tụng Phan Lê Phiên về triều. Nhà vua cử ông Phiên làm Bình chương sự, và ra lịnh triệu ba lực lượng Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ và Dương Trọng Tế về bảo vệ hoàng thành. Khi các đơn vị nầy chưa về đầy đủ, thì triều đình Chiêu Thống xảy ra đột biến.

      Loạn ngay tại kinh thành. Tinh thần phục hưng nhà Trịnh đang có mặt là nguyên nhân chính. Vương thân Trịnh Lệ được Trung Thần hầu Trương Tuân, nguyên là trấn thủ Kinh Bắc, giúp chiêu binh nổi dậy. Lệ vốn là em cùng cha khác mẹ với chúa Trịnh Sâm, và bị chúa Sâm hạ ngục trong cuộc mưu loạn giành ngôi năm 1767. Đến năm 1782 khi Trịnh Khải lên ngôi chúa, Khải mới tha người chú ruột của mình. Chính việc có 5 năm tù ngục cộng với việc chiêu binh sớm nhất, nên Lệ trở thành khuôn mặt sáng giá nhất của nhà Trịnh phục hưng trong tháng 9 năm 1786 nầy. Quân binh thất tán trước đó kéo nhau về ủng hộ. Quân số lên tới cả ngàn người ở Văn Giang. Họ vượt sông Hồng chiếm Thanh Trì. Tham mưu Trương Tuân rao hịch “cần vương” cho Trịnh Lệ và đưa quân tiến về Tây Long. Tại đây họ gặp đạo quân của Dương Trọng Tế đang hưởng ứng lời hiệu triệu của vua Lê Chiêu Thống. Tưởng sẽ có binh biến giữa một bên phò Trịnh và một bên nghe theo vua Lê, nhưng Tuân đã dụ được Tế. Tế đã từng tố giác Trịnh Lệ trong việc chống Sâm trước đây, nhưng nó không còn là điểm gút trong tình hình hiện tại. Đơn giản, chỉ vì Trịnh Lệ cần đồng minh và Dương Trọng Tế yếu hơn Lệ.

      Vốn là một tiến sĩ và là người chuộng thời, nên Tế quay về phò Lệ. Vị tiến sĩ họ Dương cùng Trương Tuân chiếm phủ Trịnh và tôn Trịnh Lệ lên ngôi chúa. Tuân lo việc đưa quân canh giữ các cửa thành, và Tế thảo thư dưới danh nghĩa Trịnh Lệ trình lên vua Lê Chiêu Thống. Thư rằng: “Thần là Trịnh Lệ kính tâu: Nhà thần đời đời nối nghiệp chúa, tôn phò nhà vua. Vừa rồi nhân vì quân mọi (ám chỉ Tây Sơn) vào cướp, tôn miếu nghiêng đổ. May nhờ trung thần nghĩa sĩ giúp rập, giặc mọi nghe tin, đang đêm phải hốt hoảng chạy trốn. Hôm mồng mười tháng này thần đã vào ở trong phủ. Vậy cúi xin ban cho sắc dụ, khiến thần được nối ngôi chúa, đời đời tôn phò, để giữ vững lấy cái cơ nghiệp vua, chúa trong ngàn vạn năm.”

      Nhận được thư, vua Lê Chiêu Thống nổi giận. Cái hận giết cha, và cái hận từng đời đời tổ tiên bị hiếp đáp luôn ở trong lòng vị vua trẻ. Ông nói với các cận thần: “Nhà Trịnh là kẻ dưới mà dám lấn người trên, nên mới chuốc lấy cái nạn bại vong. Thế mà nay nó vẫn đi theo vết xe đổ ấy. Nó định khinh trẫm ít tuổi hay sao?” Nói cứng như thế, nhưng nhà vua cũng phải bàn với các quan. Phan Lê Phiên được lịnh thảo chỉ gởi đến Dương Trọng Tế. Theo đó bảo Tế sắp xếp cho Trịnh Lệ thân hành vào phục mệnh nhà vua, rồi mới nhận được những hậu đãi. Đó là sự nhường nhịn mấy phần của vua Lê Chiêu Thống, nhưng Dương Trọng Tế lại làm mọi sự trở nên rối rắm hơn. Ông ta xé dụ của nhà vua trước mặt sứ giả. Đây là điều phạm thượng chưa từng có trong lịch sử. Không những thế, họ Dương còn bảo sứ giả về trình lại với cung Vạn Thọ là ngôi chúa vẫn lập, không cần sự đồng ý hay không của nhà vua. Vì sự quá đáng Tế, Trịnh Lệ không thu phục được hàng quan văn võ muốn tìm về. Phủ chúa lại lưa thưa mấy kẻ trung thành.

      Trong lúc Trịnh Lệ làm chúa không có sự chuẩn y của vua Lê Chiêu Thống, thì Trịnh Bồng xuất quân từ Chương Đức, phía nam Đông Kinh. Trịnh Bồng là con của chúa Trịnh Giang, nhưng Giang bê bết quá nên mất ngôi về tay người em là Trịnh Doanh. Điều nầy xảy ra vào tháng giêng năm canh thân 1740 qua sự sắp xếp bà thái phi, mẹ của Giang và Doanh. Doanh truyền ngôi cho con trưởng là Sâm, Sâm truyền ngôi cho con thứ là Cán. Cán còn qúa nhỏ và bị nạn kiêu binh Tam Phủ, nên mất ngôi về tay huynh trưởng Trịnh Khải. Suốt trong thời gian cha con bên dòng Trịnh Doanh làm chúa, Bồng chỉ được phong tước Côn quận công và là kẻ đứng bên lề. Tuy nhiên, theo một cách nhìn khác, Côn quận công Trịnh Bồng mới thuộc dòng chính và là bác họ của Trịnh Khải. Có lần bọn kiêu binh ghét Khải muốn phế đi để lập Bồng, nhưng Bồng từ chối. Sợ bị vạ lây, Bồng đi báo việc Tam Phủ định khuynh đảo với Khải để chọn cuộc sống yên thân. Đến khi Tây Sơn chiếm Bắc Hà, Bồng rút lui về Chương Đức như một thường dân nghèo nàn. Nhìn chung, Bồng không năng động như Trịnh Lệ hoặc Trịnh Khải, nhưng cũng khéo léo nhìn thời cơ.

      Lúc chưa đến kinh thành, Bồng đã dâng tấu đến vua Lê Chiêu Thống. Lời tấu vừa kính vua, vừa nguyện làm vị chúa trung thành với đất nước. Điều nầy rất hợp với hàng quan văn, và đặc biệt của võ tướng Đinh Tích Nhưỡng. Từ Hải Dương, Nhưỡng kéo quân về ủng hộ Bồng. Với trên ba ngàn quân của Nhưỡng, lực lượng Bồng trở thành một tiềm lực đáng kể. Dò được tình hình ấy, kẻ ngược ngạo Dương Trọng Tế thay lòng. Họ Dương xin Trịnh Lệ ra quân trước để ngăn cản đạo quân Trịnh Bồng. Lệ không hề biết bụng dạ của Tế, nên đã thất trận khi Tế trở cờ ở trận chiến Trường Thi và Nhân Mục. Khi Nguyễn Mậu Nễ, một thuộc hạ của Tế, súyt bắt được Lệ thì Trương Tuân kịp cứu thoát. Không biết số phận của Lệ và Tuân ra sao, nhưng Dương Trọng Tế kéo Nễ chạy đi phò Trịnh Bồng. Tế chưa kịp diện kiến Trịnh Bồng đã bị đạo quân nội thị của vua Lê Chiêu Thống tấn công. Tế thua, ông ta nương theo loạn quân vượt qua cửa ô Ông Mạc, đi tìm Nguyễn Mậu Nễ đã chạy đi trước đó.

      Lệ, Tuân, Tế và Nễ chạy mất, Bồng vào yết kiến vua Lê Chiêu Thống và được phong tước công, Côn quốc công. Tước phẩm nầy quá nhỏ dành cho sự mong đợi của Bồng. Dĩ nhiên là Bồng muốn được phong tước vương để làm chúa, nhưng Bồng không dạn miệng. Nhiều lần “xin xỏ” đều đo Đinh Tích Nhưỡng lo liệu, để đến một lần họ Đinh nói thẳng “Vậy dám cúi xin cho Côn quốc công được phong lên tước vương, cho thỏa lòng mong mỏi của thần dân”. Vua Lê Chiêu Thống biết đến lúc không thể trì hoãn được, ông phải nhượng bộ. Đây là lần nhượng bộ thứ hai đối với nhà Trịnh của vua Chiêu Thống. Lần trước ông nhượng bộ Trịnh Lệ, lần nầy ông nhượng bộ Trịnh Bồng đến nỗi phải than: “cứ nằng nặc đòi phong vương để uy hiếp ta mới sướng hay sao?…” Trước sự than thở của nhà vua và áp lực của phe Trịnh Bồng, bình chương sự Phan Lê Phiên cảm thấy mình bất lực. Ông xin vua Chiêu Thống về quê, và không bao giờ tham chính trở lại nữa.

      Dù Phiên bị bó trong tình hình yếu kém của triều đại, nhưng mọi toan tính để đối trị với Trịnh Lệ và Trịnh Bồng đều một tay Phiên lo liệu. Phiên đi rồi, vua Lê Chiêu Thống như kẻ qua sông mất đi cái phao. Bên vua chỉ đám lính hộ vệ do vua tự lập, và những Ngô Thì Chí, Lê Doãn Hữu, Trần Danh Án … là những người chỉ giỏi chữ nghĩa mà thôi. Trước tình thế ấy Đinh Tích Nhưỡng xin yết kiến nhà vua. Họ Đinh hứa rằng chỉ xin tước vương cho Bồng, chứ không đòi hỏi một quyền hạn nào cả. Vua Chiêu Thống biết Nhưỡng lừa, nhưng không làm gì được. Nhà vua tỏ nét nguôi lòng, ban cho Côn quốc công Trịnh Bồng thành Yến Đô vương Trịnh Bồng với chức Nguyên soái phụ quốc chính. Từ lâu nay, không vua Lê nào nói hễ có tước vương sẽ giữ ngôi chúa, nhưng nhà Trịnh đã mặc nhiên như thế.  Do vậy, một lễ đăng quang linh đình lên ngôi cho Trịnh Bồng vào ngày 19 tháng 9 năm bính ngọ 1786. Đó lá vị chúa thứ 11 của nhà Trịnh.

      Khi mọi việc đã rồi như thế, thì vua Lê Chiêu Thống hay tin Thạc quận công Hoàng Phùng Cơ đã chiêu binh Hưng Hóa và Sơn Tây đang kéo về kinh thành. Sau khi thất trận Vạn Xuân, họ Hoàng về lại Sơn Tây tái tạo binh mã. Ông đã nghe theo lời hiệu triệu của nhà vua mà về. Có người tưởng lực lượng nầy sẽ đối đầu với Đinh Tích Nhưỡng, nhưng không phải như thế. Cơ bắt tay với Nhưỡng để trở thành võ tướng thứ hai của Bồng làm phủ chúa càng mạnh thêm. Hệ thống “vua Lê chúa Trịnh” đã ăn sâu trong tim vị Thạc quận công trọng tuổi họ Hoàng. Có vua Lê thì phải có chúa Trịnh chứ không thể nào khác hơn! Ngay lúc ấy thì Dương Trọng Tế ở Kinh Bắc cũng tái lập quân binh mà về Thăng Long. Dĩ nhiên là Tế phò Bồng, và trở thành một trong 3 chân vạc: Nhưỡng – Cơ – Tế cùng phò vị chúa Trịnh thứ 11 nầy.

      Trước sức uy hiếp càng lúc càng tăng ấy, vua Lê Chiêu Thống thấy mình quá đỗi cô đơn. Ông nghĩ đến Nguyễn Hữu Chỉnh. Nhà vua đã nghe tin Chỉnh ở Nghệ An, và tin rằng chỉ có con người đã từng phò Lê diệt Trịnh nầy mới cứu được mình. Tháng 10 năm 1786, nhà vua bí mật cho người đi triệu hồi “hải điêu” xứ Nghệ.

Tước quốc công vua dành cho Huệ
Chức soái quân Huệ nắm trong tay
Mùa thu bính ngọ vua lâm bịnh (1786)
Bỏ cả nhân gian bỏ cuộc này

Hiến Tông mất Duy Khiêm thay thế
Lê Trung Hưng, Chiêu Thống thời kỳ
Mấy quan Lê – Trịnh đi đâu hết
Tân triều không Trịnh chẳng còn chi

Những Nguyễn Hoàn – Phan Phiên mất biệt
Những Phùng Cơ – Tích Nhưỡng đi đâu
Ai là Trọng Tế ai Công Xán
Ai sẽ vươn vai đứng đỡ đầu?

Thế rất yếu Lê triều vẫn đứng
Nguyễn quốc công Nguyễn Huệ không giành
Vừa là rể quí nhà Lê ấy
Vừa thấy nhân tình buổi tương tranh

Rồi một sớm vua anh đã đến
Cửa ô xa Nguyễn Huệ đón mời
Rằng ra Thái Đức ngờ huynh đệ
Thử chuyến bắc hà tựa thăm chơi

Vua Tây Nhạc ngời ngời uy thế
Khiến vua Lê đem dạ sợ quàng
Đất dâng xin trả đền ơn nghĩa
Không nhận bao giờ dẫu tấc gang

Tình nam bắc hai đàng thuận thảo
Tây kéo về Lê lại ra sao
Hồn oan nhà Trịnh còn đâu đó
Khó biết Thăng Long một Lê trào

Đến xứ Nghệ Tây Sơn ghé lại
Thành Vĩnh dinh bỏ trống lâu ngày
Tây Sơn nhặt lấy như của rớt
Duyên trời sắp đặt khéo mà hay

Nguyễn Văn Duệ trở thành trấn thủ
Coi Nghệ An từ độ thu phân
Khéo chi Hữu Chỉnh đường bôn tẩu
Gặp Huệ Long Nhương mấy ân cần

Đất Nghệ An, Chỉnh thành dân ngụ
Cuộc trở về Huệ lập ba doanh
kỳ Hoa, Động Hải liền Hải Trạch
Vũ Nhậm nằm đây tựa để dành

Ở đất bắc tương tranh trở lại
Từ Văn Giang, Trịnh Lệ chiêu binh
Sông Hồng vượt sóng về phủ Trịnh
Trọng Tế làm chi xáo tình hình

Xé chiếu chỉ vua Lê gởi đến
Tôn thân vương Trịnh Lệ lên ngôi
Đi qua lịch sử trung hưng ấy
Tôi bạc vua tôi quá mức tồi

Tình thế ấy nổi trôi thế thứ
Đất Đông Kinh ngầm dậy gió giông
Góc trời Chương Đức ai lên tiếng
Có phải Côn công quận Trịnh Bồng?

Bồng dâng biểu phò Lê chuyên chính
Liễn Trung hầu Tích Nhưỡng nghe theo
Hải Dương kéo tới ngàn quân lính
Trịnh Lệ ra đi tựa gió vèo

Mất Trịnh Lệ, Bồng thành nhân chủ
Cầu vua Lê mong được xưng vương
Hỏi ông Tích Nhưỡng nhà Đinh ấy
Có biết Bình chương bỏ chính trường

Ép tự hoàng phong vương Côn quận
Án Đô vương tức vị mùa thu
Theo sau mười chúa bao suy thịnh
Nối tiếp nhân gian dải ân thù

Mùa thu ấy Phùng Cơ trở lại
Theo hiệu vua mà lại phò vương
Hợp cùng Tích Nhưỡng phò phủ Trịnh
Số phận vua Lê lắm bất tường

Ở Kinh Bắc nhà Dương Trọng Tế
Cũng chiêu binh phò Trịnh Thăng Long
Trịnh Bồng nhà chúa thêm vây cánh
Chiêu Thống thêm đau nỗi hận lòng

Thế đã buộc coi trong coi trước
Vua nhà Lê gọi Chỉnh về thành
Hải điêu xứ nghệ bao giờ đến
Đất bắc đi về mấy khúc quanh!

<< |