Skip to content

Chương 34

NGUYỄN HUỆ ĐÁNH BẮC HÀ LẦN THỨ NHẤT

DIỆT TRỊNH PHÙ LÊ

      Chắc chắn không phải vì sự trốn chạy của nhóm lính Trịnh, mà Tây Sơn Nguyễn Huệ đứng trên lầu thành nhìn theo. Nếu năm 1738 Nguyễn Phúc Khoát đã đứng ở nơi nầy nhìn về phương bắc, thì bây giờ Nguyễn Huệ cũng làm y như thế. Năm ấy chúa Khoát đã thấy họ Trịnh nhiều đời xưng vương nên đã không ngần ngại tự phong vương cho mình. Ngoài sự biểu lộ sức mạnh Đàng Trong, Nguyễn Phúc Khoát xưng Võ vương còn hàm ý ngang bằng với Uy Nam vương Trịnh Giang lúc ấy. Với Nguyễn Huệ bây giờ thì sao? ông chỉ là một tướng quân của triều đình Qui Nhơn. So vai vế thì Nguyễn Huệ không bằng chúa Nguyễn Phúc Khoát, nhưng qua ánh mắt đầy chinh phục ấy, không ai biết vị Long Nhương tướng quân nầy đang nghĩ gì. Hoặc, chỉ làm một tướng quân Thuận Hóa như Phạm Ngô Cầu, điều mà vua Thái Đức đã nói nửa đùa nửa thật sẽ dành cho Huệ. Hoặc, phải làm điều gì đó lớn hơn chúa Khoát. Thu phục cả hai nhà Lê – Trịnh?  Mắt Huệ chợt sáng lên. Tại sao lại không? Triều Lê Trung Hưng chỉ là cái đuôi không lành lặn của triều Lê Sơ. Triều đại nầy đã bị hai vị vua đầu tiên của nhà Mạc tiêu diệt, nếu không có Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm. Từ ấy kéo dài hơn 200 năm trong chỗ ngồi hư vị. Và đến nay với một Lê Hiển Tông bạc nhược, Đại Việt sẽ về đâu? Nhà Trịnh không soán ngôi mà chỉ soán quyền, đó không phải chọn lựa khôn ngoan. Cái gương của họ Mạc đã làm nhà Trịnh sợ, nhưng ở thế nhì nhằng vua Lê chúa Trịnh thì chỉ thấy tội mà không thấy công. Nguyễn Huệ ta phải khác. Phải phá bỏ tất cả như phá bỏ một ngôi nhà cũ vá víu, làm lại nhà mới. Mắt  Huệ sáng lên một lần nữa. Ông bước xuống thư phòng, và cho người gọi Nguyễn Hữu Chỉnh.

      Huệ hỏi Chỉnh về tình hình Bắc Hà, về người tài người dở ra sao. Chỉnh đoán vị Long Nhương tướng quân Tây Sơn đang muốn gì. Chỉnh thao thao về nguyên nhân và thực trạng mục rã của xứ bắc, rồi khuyến khích Huệ: “ Người tài ở Bắc Hà chỉ có một Chỉnh nầy mà thôi. Nay tôi đã đi rồi, ấy là cái nước đã rỗng không, xin ngài chớ nghi ngại!” Huệ đưa mắt nhìn Chỉnh thân ái như nhìn một người bạn thân, và nói như ghẹo bạn mình: “Không nghi ngại người nào khác, hóa ra chỉ có ông là đáng nghi ngại thôi ư?”. Chỉnh biến sắc, nhưng cũng đủ nhanh trí để tự bào chữa nên cuộc chuyện vãn trở nên thân mật.

      Theo đó tình hình Bắc Hà, quả như là một “nước rỗng không”. Vua Lê Hiển Tông 69 tuổi già nua sống nhờ vào chúa Trịnh, và cả hàng quan lại văn võ Lê Duy Thiều, Lê Duy Chiểu… của hoàng cung Lê coi như không có. Bên phủ chúa, Trịnh Khải bị quân Tam Phủ kiềm chế đến nỗi ông không còn đạo quân hoàng phủ bảo vệ phủ chúa và hoàng thành. Trước đây đội quân nầy do tạo sĩ Đặng Tiến Đông coi giữ, nhưng ông Đông đã bỏ trốn từ khi người anh ruột Đặng Đình Thiệu thất bại trong việc giải cứu Tuyên phi Đặng Thị Huệ. Chúa Trịnh Khải rút trấn thủ Hải Dương Trịnh Tự Quyền về thay, nhưng ông Quyền không chặn nổi sự loạn hành của quân Tam Phủ. Về hàng quan văn thì cũng rối tung không giúp được gì cho vị chúa Trịnh thứ 10 nầy. Tư nghiệp quốc tử giám Lý Trần Quán được cử đi làm quan thiêm sai ở Sơn Tây từ thời chúa Trịnh Sâm. Cựu tùy giảng Ngô Thời Nhậm đã trốn chạy khi Khải lên ngôi chúa. Ông nầy bị nghi là đã tố giác Khải để sinh ra vụ án Canh Tý 1780. Cựu tham tụng Phan Lê Phiên bị cho về vườn để Nguyễn Khản, người trung thành với Khải, lên thay. Hàn lâm hiệu lý Dương Trọng Tế lại trốn biệt. Ông nầy lỡ đi báo với Khải về quân Tam Phủ định lập Trịnh Bồng thay Khải, nên sợ đám quân lộng hành nầy bắt giết. Tham tụng Nguyễn Khản cũng phải chạy lên Sơn Tây ẩn náu sau vụ dám hạch tội giết 7 tên lính kiêu binh. Hình phiên Phan Huy Ích là người “vô sự” trong thời “cách mạng”, được cho về Thanh Hoa làm quan án sát. Đương triều chỉ còn tân tham tụng Bùi Huy Bích, bồi tụng Trần Công Xán xoay xở để giữ triều đại Trịnh Khải. Rất tiếc cả hai vị khoa bảng nầy vẫn mặc nhiên cho rằng trung với Trịnh tức là trung với Lê, và đánh đồng với lòng trung tổ quốc. Các dinh phủ phía ngoài thì chỉ còn Hoàng Phùng Cơ trấn thủ Sơn Tây, Đinh Tích Nhưỡng trấn thủ Hải Dương còn chút ít tiếng tăm. Ở những trấn phủ khác như Đỗ Thế Dận ở Sơn Nam hạ, Tạ Danh Thùy ở Thanh Hoa, Bùi Kế Toại ở Nghệ An… là những quan lại tự thủ thế khi phủ chúa trên đà tụt dốc.

      Sự bạc nhược của vua Lê Hiển Tông đã để Bắc Hà lăn xuống bờ vực. Điều nầy giúp Nguyễn Huệ vượt qua cửa ải trung quân còn chút dằn vặt trong lòng. Nhưng, muốn xuất chinh còn phải vượt qua cửa ải thứ hai. Đó là tình huynh đệ. Nếu vua anh Thái Đức có cùng một ý niệm đánh chiếm Bắc Hà như ta, liệu ta có chịu đứng dưới trướng của anh hoàn thành công cuộc nầy không? Câu trả lời là có. Vì Tây Sơn mà tiến Bắc Hà chứ không phải vì một Nguyễn Huệ. Ta không chịu làm một trấn thủ Thuận Hóa của một Tây Sơn Đàng Trong, nhưng sẵn sàng làm một vị tướng dưới triều Tây Sơn mở rộng. Vua anh và ta quả có khác nhau. Anh là một con bạc đương thủ thế. Anh chỉ muốn cầm chắc số vốn với một chút ít lời rồi thôi. Ta là con bạc tin ở mình và bằng lòng đặt cược lớn. Xuất chinh lần nầy sẽ làm hoàng huynh trách cứ ta, nhưng chiếm Bắc Hà chẳng thể nào không nghĩ tới. Huệ đang băn khoăn với những giằng co như thế, dù đã có thư xin lệnh vua anh về việc tiến quân.

      Thường thường mỗi khi có chuyện phân vân, Huệ đăm mắt lại và có một quyết định dứt khoát. Nhưng lần nầy không thể, Huệ lại gọi Chỉnh. Gọi Chỉnh không phải là mời một vị thầy hay một người bạn để gỡ rối, mà để tìm một kẻ có “miệng lưỡi” làm trơn tru những áy náy trong lòng Huệ. Chỉnh đến, nhưng dè dặt. Nhớ lần nói hớ kỳ trước, Chỉnh không cường điệu sự hiểu biết của mình. Con người kỳ tài gốc Nghệ An nầy khéo léo cho biết sự linh động ngoài chiến trường là cần thiết. Quả, lối nói của Chỉnh có sức thu hút làm Huệ hài lòng. Bên cạnh đó Chỉnh cũng nhắc tới sách “địa ký” của nhà Trịnh, úp mở về triều đại “chẳng đế chẳng bá, quyền nghiêng thiên hạ” đã đến lúc chấm dứt. Chỉnh còn nguyện đem hết khả năng thủy chiến của mình làm tiên phong để Huệ hoàn thành sự nghiệp. Thoáng một chút Huệ đăm chiêu, nhưng lấy lại bình thường. Ông giữ Chỉnh ở lại và cho mời thêm Nguyễn Lữ, Trần Văn Kỷ, Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Văn Tuyết, Phạm Văn Hưng. Đó là 7 người tham mưu trong cuộc hành quân Đông Kinh của Tây Sơn Nguyễn Huệ tháng 6 năm 1786.

      Theo đó, việc sửa sang lũy Thầy để trấn giữ Đàng Trong như lịnh của vua Thái Đức được đình lại. Lực lượng nhân công nầy được đôn thành quân đội, trong đó có cả những nhà sư và những cậu thiếu niên 16 tuổi. Không những thế, Trần Văn Kỷ thay mặt Nguyễn Huệ kêu gọi mọi người sung quân. Đó là một lần vắt tận lực Thuận Hóa.  Nguyễn Huệ có 8 ngàn quân tướng. Trừ Nguyễn Lữ, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, và Hồ Đồng ở lại trông coi vùng mới chiếm, tất cả các tướng khác đều lên đường. Họ là Nhậm, Chỉnh, Tuyết, Hưng, Kỷ, và hàng tướng Huỳnh Tường Đức. Đức được nâng lên thành cai đội trong lúc nầy.

      Nguyễn Hữu Chỉnh được phong làm bắc tiến tiên phong tướng quân. Chiêu bài “phù Lê diệt Trịnh”, bừng bừng hào khí theo hàng trăm chiến thuyền ra khơi. Con sóng nầy hoàn toàn phù hợp với lòng mong đợi của Chỉnh. Chỉnh làm sao quên được chúa Trịnh Sâm nhẹ nhàng đưa Chỉnh về Nghệ An, khi Chỉnh có thể giữ chức trấn thủ Sơn Nam hạ. Chỉnh cũng không quên chúa Trịnh Khải và quân Tam Phủ đã giết Huy quận công Hoàng Đình Bảo và truy tìm những người thân thuộc. Hai điều nầy đã khiến Chỉnh rong rủi đến với Tây Sơn như một định mệnh mang theo một mối hận lòng. Chính Chỉnh đã chỉ cho Huệ địa thế xung yếu Vị Hoàng có cả một kho lương thực của vùng duyên hải. Và, cũng thử thách thay, người Bắc Hà trở về nầy có nhiệm vụ phải chiếm lấy nó. Một trăm năm mươi thuyền chiến với hơn ngàn tinh binh tiên phong, theo Chỉnh nghĩ, cũng khó thắng được quân Sơn Nam hạ của Đỗ Thế Dân. Nhưng, đã lỡ miệng nói về tài mình, Chỉnh chẳng thể nào từ chối. Chỉnh phải ra sức dùng tài thủy binh cập cửa Đại An tiến về Vị Hoàng với từng bước cẩn trọng.

      Điều rất may cho Chỉnh. Tình hình Bắc Hà đã nhũn nhẹt hơn Chỉnh tưởng. Từ khi hay tin mất Thuận Hóa, cả cung vua và phủ chúa ngơ ngác không ai đưa ra một kế sách gì để chiếm lại. Từng mỗi người đều cảm thấy hoàn toàn không có khả năng. Trong điều kiện không thể làm gì hơn, họ tự tha thứ cho sự bất lực của mình. Họ cho rằng đã mười một năm qua phải đưa quân trấn giữ Thuận Hóa, nay không còn lao tâm lao lực trấn giữ miền biên viễn ấy nữa cũng là điều may. Có người còn bạo miệng trách cứ tiên chúa Trịnh Sâm. Nào khai thác mỏ đồng mỏ bạc, nào mở rộng cửa Eo, nào lập trường (xưởng) đúc tiền, tất cả chỉ có lợi cho người phương nam chứ dân Bắc Hà đằng nầy không hề có một tí tẹo lợi nhuận nào. Trước sự bất lực đó, chúa Trịnh Khải chỉ ra lịnh cho Thái Đình hầu Trịnh Tự Quyền đem quân giữ nam Nghệ An như một vớt vát. Vùng nầy nay đã trở thành biên địa nên Quyền chần chừ chưa đi, thì vừa lúc hay tin Tây Sơn đang ồ ạt kéo quân ra bắc. Dân chúng và quân lính Nghệ An không biết địch quân bao nhiêu, mà cứ tha hồ thổi phồng. Từ miệng người trước qua miệng người sau, họ biến quân Tây Sơn từ một vạn lên hai vạn rồi năm vạn. Sự thổi phồng nầy mau chóng lan tới Thanh Hóa gây nên cảnh chạy loạn bừa bãi cả dân, cả quân cả tướng. Không ai biết hai tướng trấn thủ Nghệ – Thanh, Bùi Thế Toại và Tạ Danh Thùy chạy đi đâu. Ở Đông Kinh người ta chỉ thấy quan hiến sát sứ Thanh Hóa Phan Huy Ích chạy về.  Đi theo ông Ích là một đám đông quân lính bơ phờ. Trước tình thế ấy, chúa Khải ra lịnh Trịnh Tự Quyền thay đổi mục tiêu, thay vì đến Nghệ An chuyển xuống Vị Hoàng.

      Quyền chỉ mới đến Kim Động (Hưng Yên) thì dừng lại. Ông gặp trấn thủ Sơn Nam hạ Đỗ Thế Dận cùng với một đám tàn quân ở đây. Dận đã thất trận Vị Hoàng, vừa lưu lạc đến. Cả hai rụt rè nói chút khí tiết rồi thôi. Ông Quyền và ông Dận không hề có ý định liên kết đưa quân chiếm lại vùng đất Vị Hoàng vừa mất. Mọi thứ đều trễ. Tại kho trữ thóc lúa vùng duyên hải nầy, Nguyễn Hữu Chỉnh đã cho người lên đài đốt lửa báo hiệu tin mừng thắng trận.  Đại quân Tây Sơn chưa tới cửa Đại An đã bắt được tín hiệu. Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ cho binh sĩ cập bờ Sơn Nam hạ sớm hơn dự định, trong lúc kẻ trở về Nguyễn Hữu Chỉnh nhìn Bắc Hà rạn vỡ trong đêm.

      Nếu cuộc chạy loạn ở Nghệ An và Thanh Hóa là do tin đồn, thì di tản ở Sơn Nam hạ là do sự có mặt thực sự của Tây Sơn. Chỉ qua một đêm, đạo quân  Phú Xuân của Long Nhương tướng quân đã ồ ạt tiến về cửa sông Hồng. Tại đây họ không gặp lính nhà Lê – Trịnh, mà gặp đám Tàu Ô của Trần Thiên Bảo và Mạc Quan Phù đang ăn cướp. Nguyễn Văn Tuyết cùng Phạm Văn Hưng đã nhanh chóng khuất phục bọn nầy. Nguyễn Huệ cho thu nạp họ, vì thấy cái khí khái của những tên cướp biển. Đoàn quân băng qua Giao Thủy, Xuân Trường, Nam Chân để bắt tay với Nguyễn Hữu Chỉnh ở Vị Hoàng. Chưa tới 3 ngày, họ mở rộng và làm chủ hoàn toàn hai bên bờ tả hữu hạ lưu sông Hồng. Từ kiến Xương ở đầu đông đến Lý Nhân ở đầu tây đều có quân Tây Sơn. Nguyễn Huệ đặt bản doanh ở Vị Hoàng, và một cuộc tiến quân về phố Hiến không còn nghi ngờ gì nữa.

      Trước tình thế ấy, chúa Trịnh Khải vội vàng sai trấn thủ Hải Dương là Liễn quận công Đinh Tích Nhưỡng dàn quân ở ngã ba sông Luộc. Trịnh Tự Quyền và Đỗ Thế Dận cũng được lệnh tập trung quân về Đại Hoàng (một khúc sông Hồng gặp sông Luộc). Chúa Khải đặt mức giới tuyến ở ngã ba nầy, và ra lịnh Đinh Tích Nhưỡng bằng mọi giá phải chận đứng quân Tây Sơn sẽ từ Vị Hoàng kéo tới. Nhưỡng từng là danh tướng Hàm Giang giữ chức Đông quân đô đốc. Ông đã diệt quân cướp bể Trần Bá Bá và thu hàng thủ lãnh Trần Liên. Người ta tin Nhưỡng cùng hai tướng Quyền và Dận sẽ có một trận thư hùng với Huệ, Nhậm, và Chỉnh của Tây Sơn. Máu sẽ đổ trên sông Đại Hoàng và sông Luộc để bảo vệ phố Hiến. Nếu gần 400 trăm năm trước Trần Khát Chân của Thăng Long đã thắng Chế Bồng Nga trên đoạn sông nầy, thì Đinh Tích Nhưỡng của Đông Kinh ngày nay há để thất bại hay sao? Đó là những tiên liệu, nhưng không bao giờ như ý.

      Không có trận chiến lớn trên sông Đại Hoàng. Chỉ những trái đạn đầu tiên của Vũ Văn Nhậm bắn lên bờ đã làm bộ binh của Trịnh Tự Quyền và Đỗ Thế Dận bỏ chạy. Dận bị cái huông Vị Hoàng, còn Quyền thì chỉ nghe đồn mà sợ. Thủy quân của Đinh Tích Nhưỡng phải đơn độc chiến đấu. Dù có tay cướp biển khét tiếng Trần Liên xung kích, nhưng Đinh Tích Nhưỡng không đủ sức đương cự với tay “giang hồ” Nguyễn Văn Tuyết và con “cắt nước” Nguyễn Hữu Chỉnh. Hai tướng Tây Sơn nầy còn được Phạm Văn Hưng yểm trợ “hỏa hổ” đã mau chóng làm tan rã đạo thủy quân Hải Dương của họ Đinh. Trận chiến kết thúc chỉ trong một canh giờ. Không biết Nhưỡng, Quyền và Dận chạy về đâu, nhưng cờ đào Tây Sơn đã được cắm trên phố Hiến.

      Mất phố Hiến, tình hình vô cùng tệ. Chỉ còn chưa tới 60 cây số nữa là đến cựu kinh thành Thăng Long. Mọi thứ đều rối loạn. Nếu trước đây mươi hôm dân từ Thanh Hóa và Sơn Nam thượng kéo đến Đông Kinh, thì hôm nay dân thủ đô chạy về Kinh Bắc hoặc Sơn Tây. Dĩ nhiên là kéo theo đám tị nạn từ trước. Quang gánh di tản theo mỗi hướng qua đồng qua sông vội vã dây chuyền. Đó là hình ảnh của một ổ kiến bị phá. Tin đến càng lúc càng bất lợi, quân Tây Sơn đã mở rộng vòng đai kiểm soát. Họ chiếm thêm Kim Động – Ân Thi ở phía bắc, và Ứng Thiên – Kim Bảng ở phía nam sông Hồng. Đông Kinh cận kề nguy hiểm. Tham tụng Bùi Huy Bích hoàn toàn bất lực. Trước tình thế căng thẳng, ông không đưa ra được một kế hoạch khả thi. Chúa Khải bãi chức tham tụng của ông Bích, và lập tức rút trấn thủ Sơn Tây là Thạc quân công Hoàng Phùng Cơ về bảo vệ kinh thành. Bồi tụng Trần Công Xán được gọi vào phủ cùng với Hoàng Phùng Cơ tiếp nhận ý chỉ của chúa phải bảo vệ thủ đô. Ông Xán lo vãn hồi trật tự công chúng, tướng họ Hoàng cùng 8 người con trai sẽ là cột trụ chống đỡ giữ thành Đông Kinh.

      Mọi chuẩn bị của chúa Khải đã trễ. Khi Hoàng Phùng Cơ đưa một nửa quân số Sơn Tây đến giữ tuyến Vạn Xuân chạy về cửa sông Thúy Ái, thì Tây Sơn đã có mặt ở bến Nam Dư. Bến Nam Dư và cửa Thúy Ái đều ở phía nam kinh thành.  Chúng gần nhau chỉ nửa dặm đường, và đang chịu sự tấn công mãnh liệt của Tây Sơn. Nếu quân Sơn Tây nhà Trịnh chỉ có một tiểu tướng Ngô Cảnh Hoàn chưa ai biết đến, thì Tây Sơn Vũ Văn Nhậm đã là hãn tướng. Khả năng điều binh của Nhậm không thua Huệ. Đã thế, tinh thần binh sĩ của Sơn Tây là tâm trạng của kẻ bị đẩy ra phía trước, trong khi Tây Sơn mang chính nghĩa diệt Trịnh phù Lê. Ngô Cảnh Hoàn thất bại, người tướng trẻ nầy đành chịu chết dưới lưỡi kiếm của Vũ Văn Nhậm. Chiếm được Thúy Ái, thủy bộ Tây Sơn tràn về Vạn Xuân. Lần nầy có cả cánh quân chiến thắng Vị Hoàng của Nguyễn Hữu Chỉnh, và đại quân của Nguyễn Huệ. Trận chiến lập tức xảy ra, và đây là trận chiến cuối cùng bảo vệ ngai vàng nhà Trịnh. Hoàng Phùng Cơ gom toàn bộ binh sĩ thất tán của Trịnh Tự Quyền, binh sĩ còn lại của Sơn Tây, bọn lính Tam Phủ, và tất cả các nơi khác có thể được. Nâng quân số lên tới vài ngàn quân, và vị tướng họ Hoàng nguyện trung thành với nhà Trịnh. Liệu rằng số quân ấy, tấm lòng ấy có giữ được phủ chúa ở Đông Kinh?

      Câu trả lời sẽ là không. Tướng Hoàng Phùng Cơ không còn thời kỳ sung mãn như khi còn đứng dưới trướng con người giang hồ Nguyễn Hữu Cầu. Ông đã già đến nỗi đứa con nhỏ nhất trong 8 đứa con của ông cũng đang là một vị tướng chiến trường. Ông trông cậy vào những đứa con nầy. Ông chỉ giữ bên mình thuộc tướng Mai Thế Pháp, và chia binh sĩ cho 8 đứa con tham trận. Tất cả bọn họ đều làu thông binh pháp, nhưng diễn biến thế trận thật rời rạc. Đám quân binh ô hợp vừa run sợ, vừa không tin tưởng vào những vị chỉ huy mới toanh của mình. Quân là thế, tướng là thế chắc chắn không thể nào đương cự với Tây Sơn. Không kể quân tiên phong của Nguyễn Hữu Chỉnh và Vũ Văn Nhậm tham chiến, đại quân của Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ đã ra tay. Trận chiến Vạn Xuân đến và đi đều mau như một bóng mây. Người lính Trịnh chưa kịp hiểu người bạn bên cạnh làm sao mà chết, thì mình đã chết theo. Sáu người con của họ Hoàng, tướng Mai Thế Pháp và hầu hết lính Trịnh đã chết theo nhau như thế. Tàn quân Trịnh dắt nhau chạy đi, bỏ lại rất nhiều xác người trên đường từ làng Vạn Phúc về bến Tây Long.

           Bến Tây Long là cửa ngõ phía tây dẫn về lầu Ngũ Long của phủ chúa. Chúa Trịnh Khải đã có mặt ở đây. Ông nghe rõ tiếng gươm đao. Địch đã tới. Ông vận nhung phục gọn gàng đứng giữa hai hiệu quân trung thành là Kiệu và Nhưng. Mọi người với ánh mắt đăm đăm chờ đợi. Dầu rằng ở tả ngạn sông Hồng không có dấu hiệu của Tây Sơn, dầu rằng ở Đông Bộ đầu tiến về điện Kính Thiên còn yên tĩnh, nhưng lòng chúa Khải ngổn ngang. Đinh Tích Nhưỡng và Hoàng Phùng Cơ thất trận như hai cánh cửa sắt trước nhà bị phá huỷ. Những quân binh còn lại của tả, hữu, tiền, hậu các hiệu chỉ như là những lá chắn mỏng manh cuối cùng. Trong lúc chúa chưa có một phối trí nào cụ thể thì Tây Sơn đã đến nơi. Chúa giục trống liên hồi, và ra lệnh bắn hết những trái pháo ít ỏi mua được từ tàu buôn Hòa Lan. Rất tiếc, chúng chỉ như một ít thuốc khan hiếm không đủ chữa cho một con bịnh nan y. Trận chiến với vũ khí “lạ” chỉ vài khắc rồi thôi. Hai bên trở lại chiến trường gươm giáo. Hai hiệu quân Kiệu và Nhưng không những bảo vệ chúa Trịnh, mà họ hiểu chiến đấu là chống xâm lăng. Máu bảo vệ tổ quốc đầy trong lòng họ. Do vậy, những cái chết kiêu hãnh cứ tiếp tục làm nhầy nhụa máu dưới chân. Khắp những con đường ô vuông đã có những chiến đấu như thế. Dĩ nhiên là quân Tây Sơn thắng, nhưng họ chưa kịp biết chính xác trung tâm phủ chúa nằm ở đâu.  Đó là lúc chúa Trịnh Khải vượt qua cửa Tuyên Vũ. Ông và vài ba vệ sĩ thân tín đã thoát được trong đường tơ nhờ sự lạ lẫm của đám lính “nước Tây” nầy. Ông chạy ven theo bờ hồ Minh Đường như những tên lính Trịnh lạc lõng. Trời đã về chiều, gió mát từ sông Hồng thổi qua, nhưng không làm dịu cơn đau của vị chúa Trịnh thứ mười. Ông men theo con đường đất đi qua ô cửa Yên Hoa. Nơi đây không còn một người lính gác, chỉ có bóng cửa ô in trên những ngọn bông lau. Hôm ấy là ngày 26 tháng 6 năm bính ngọ 1786.

      Chúa Khải nghỉ lại đêm trong nhà quen của một cận vệ tại làng Hạ Lôi. Ông nầy tên Nguyễn Noãn, nguyên là con cháu của một dòng tộc gia thần trong mấy đời chúa Trịnh. Noãn kính trọng và phục tòng chúa, nhưng không đủ khả năng để che chở chúa. Ông tìm đến vị thiêm sai Lại phiên Lý Trần Quán đang về công cán tại đây để trình bày mọi việc. Quán rất mực trung thành với nhà Trịnh nên ông gọi viên tuần huyện Nguyễn Trang, nguyên là học trò của mình, để cùng nhau giúp chúa. Muốn tránh những nguy hiểm mà Quán nghĩ có thể xảy ra, Quán giấu nhân thân của chúa Khải với Trang. Chúa Khải đóng vai tham tụng thất sủng Bùi Huy Bích. Rất tiếc, tất cả những tính toán của Quán gợi tính tò mò của Trang. Trang phát hiện ra vị chúa bôn đào, và đưa ông đi nộp cho Tây Sơn. Chúa Khải đã tự vẫn trên đường bị dẫn đi, lúc ấy ông mới tròn 23 tuổi.

      Cái chết của chúa Trịnh Khải đã để lại nỗi ray rứt khôn nguôi trong lòng vị thiêm sai Lý Trần Quán. Vì tin một học trò cũ, mà đã giết một quân vương. Quán tìm quan huyện Trang để mắng nhiếc, Trang xin lỗi thầy, nhưng thản nhiên trả lời: “Qúy chúa không bằng qúy thân, sợ thầy không bằng sợ giặc”. Quán buồn quá, trở về dịch quán trong yên lặng. Ông chuẩn bị thật chu đáo để tự chôn sống mình. Khi đã nằm trong hòm chờ người lấp đất mà còn bình tĩnh để nhắn với con cháu đời sau: “Tam niên chi hiếu dĩ hoàn/ Thập phần chi trung vị tận” (đạo hiếu ba năm đã trọn/ Chữ trung mười phần chưa xong). Không luận về đúng sai của lòng trung nầy, nhưng ở đó có sự cân nhắc để quyết định.  Cái chết được thực hiện ngày 28 tháng 6, tức là Quán có 2 ngày để suy nghĩ. Đó là lúc Long Nhương tướng quân Tây Sơn Nguyễn Huệ đang đặt hành dinh tại lầu Ngũ Long của phủ chúa Trịnh.

      Tướng quân Nguyễn Huệ làm gì ở đây? quả là bề bộn công việc. Đông Kinh khác xa Phú Xuân, sau khi Tây Sơn chiếm lấy phủ chúa. Đông Kinh còn một triều Lê, vô số sĩ phu ẩn hoặc hiện ở nhiều nơi, và một giang sơn từ Nghệ An chạy ra biên bắc chạy về biên đông. Tất cả ở đó đều có quân đội nghe lệnh Trịnh, và quân lính cho đó là điều tất nhiên để phò Lê. Nhân tâm của Thuận Hóa và Bắc Hà khác nhau, do vậy mục đích của bắc tiến cũng phải đổi lại. Từ ý muốn xóa bỏ hết, Nguyễn Huệ cũng chỉ làm một nửa: diệt Trịnh và giữ lại nhà Lê. Nguyên soái chinh bắc Nguyễn Huệ ra lịnh cho phò mã Vũ Văn Nhậm lo trị an và Nguyễn Hữu Chỉnh lo việc ngoại giao. Hành dinh của hai vị tả hữu tướng quân được đặt ở hai đầu tiền hậu của lầu Ngũ Long, và họ bận rộn hằng ngày.  Cụ thể là Nhậm cho truy lùng những tay hung thần Tam Phủ, và gởi quân đến các nơi có mầm khởi loạn. Riêng Nguyễn Hữu Chỉnh sẽ làm con thoi giữa Nguyễn Huệ và vua Lê Hiển Tông để tạo ra một thực thể mới: Triều Lê không có Trịnh. Ở đây, Chỉnh kêu gọi những sĩ phu Bắc Hà trốn lánh hoặc đang bị nhà Trịnh giam giữ về hợp tác.

      Công việc của Nhậm và công việc của Chỉnh dần dần kéo Đông Kinh về một cuộc vãn hồi. Người ta thấy quang gánh lần lượt trở về, chợ đã bắt đầu đông và một số nho sĩ trốn lánh đã xuất hiện. Nhậm luôn luôn thị sát ở nhiều nơi, nên thường khi vắng mặt ở lầu Ngũ Long, trong khi dinh phòng của Chỉnh luôn luôn bận rộn. Người được tha khỏi nhà tù, người cầu cạnh, người quen biết cũ nườm nượp kéo đến gặp Chỉnh. Chỉnh có dịp ban ơn cho nhiều người, kể cả những đại quan của triều đình đã từng bỏ trốn hoặc từ quan. Tuy nhiên, mọi thứ đều không có gì hoàn hảo. Nếu có những Nguyễn Hoàn, Phan Lê Phiên, Trương Đăng Qũy, Nhữ Công Điền, Uông Sĩ Điển, Nguyễn Nễ… về hợp tác thì vẫn có những Dương Trọng Tế, Hoàng Phùng Cơ, Đinh Tích Nhưỡng chẳng chịu về.

      Tất cả những diễn tiến ở Đông Kinh như người ta trở lại nhà sau một cơn lụt. Dọn dẹp những cái hư, nhưng công việc nầy đưa đẩy ra nhiều mặt khác. Tâm lý con người thường thương những kẻ thất bại, khi những kẻ ấy không phải là những kẻ ác độc. Nhà Trịnh được rơi vào trường hợp nầy. Sự lựa chọn quá mức thực tế, “qúy chúa không bằng qúy thân, sợ thầy không bằng sợ giặc”, của tuần huyện Trang chỉ xoáy vào cái tầm thường của con người, nhưng cái chết Lý Trần Quán lại mang mang trong hàng sĩ phu và dân chúng. Chúa Khải chưa ban phát ân huệ gì cho lê dân, mà Quán dám chết vì. Vậy cái chết của Quán được hiểu là cái chết cho nhà Trịnh, chứ không phải chỉ cho một mình chúa Trịnh Khải. Vậy, nhà Trịnh đã làm gì mà có người dám tận trung như thế? Người ta nghĩ đến 10 đời nhà Trịnh: Nào gian lao từ rừng Ai Lao đến rừng Thanh Hóa, nào đánh Mạc phò Lê, nào xây phố Hiến, nào lấy lại biên cương Thủy Vĩ – Vị Xuyên – Bảo Lạc, nào bình giặc quận He quận Hẻo, nào đào sông vùng Thanh Nghệ… Người ta thấy công lao của nhà Trịnh quá lớn, và dễ dàng quên đi những lần chèn ép vua Lê. Tiếc Trịnh, thì ghét Tây Sơn và cho Chỉnh là kẻ dẫn rắn về nhà là chuyện đương nhiên. Một người bạn của Chỉnh có tên Đỗ Thế Long vừa được Chỉnh cứu ra khỏi nhà tù đã biểu hiện điều nầy. Ngô Thì Chí, một trung thần của vua Lê Chiêu Thống, đã viết về nhà Trịnh trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí:

“Long nói:

 Việc ông đã làm tiếng là nhân nghĩa, nhưng xét rõ ra là tàn hại! Ngày nay ông có cái thế nghiêng non lật biển, quả thật là nhờ sự giúp đỡ của qúy quốc (chỉ Tây Sơn). Nhưng khi ông mới xuất thân, nào cầm quân, nào phong hầu, có cái gì không phải là ơn của nhà chúa? Chuyến nầy ông lấy tiếng “phù Lê diệt Trịnh” để kéo quân ra, thật là quá lắm! Nếu bảo nhà chúa hiếp đáp nhà vua là việc có lỗi, thì sao không nghĩ đến cái công tôn phò hai trăm năm trời? Theo người mới mà bỏ người cũ là bất nghĩa; bới lỗi lầm để lấp công lao là bất nhân. Đã bất nghĩa bất nhân tức là tàn hại. Kẻ đại trượng phu lập thân, có thể tự mình đứng trên địa vị tàn hại được ư?

Chỉnh nghe nói, sắc mặt tái ngắt, lặng đi hồi lâu mới đáp:

Gây dựng ơn riêng là của một người, cương thường là nghĩa lớn của thiên hạ. Tôi làm cái việc tôn phò ấy, là cốt để chống đỡ cho nền cương thường. Đó là việc nhơn nghĩa vô cùng lớn lao, vậy mà ông cho là tàn hại, chẳng phải là ông nói nhau quá tệ ư? Nếu tôi nghĩ không sai, thì chắc là ông nói quá lời đấy!”…

      Qua một người bị Trịnh cầm tù mà còn thờ Trịnh như thế, quả nhà Trịnh không phải là một triều đại tầm thường. Bên góc cái to lớn ấy, Nguyễn Hữu Chỉnh cũng là một người phi thường. Dù bị chữi như tát nước vào mặt, Chỉnh vẫn giữ lập trường diệt Trịnh phò Lê. Chỉnh sắp xếp nguyên soái Nguyễn Huệ đến vấn an vua Lê Hiến Tông ở điện Vạn thọ. Chỉnh sắp xếp cho Huệ chính thức ra mắt bá quan văn võ ở điện Kính Thiên với sự chủ trì của vua Lê Hiển Tông. Sau những chào hỏi nghi thức, nhà vua phong cho Huệ tước Uy quốc công và chức nguyên soái phù chính Dực Vũ. Đó ngày 7 tháng 7 năm 1786. Bên những hình thức đó, Chỉnh còn tạo sự gần gũi giữa Tây Sơn và triều Lê, qua mối lương duyên của Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ và công chúa Lê Ngọc Hân. Dù đã nghe nói chỉ diệt Trịnh lúc vấn an lần đầu ở điện Vạn Thọ, dù phong chức nguyên soái phù chính vừa rồi, nhưng vua Lê Hiển Tông vẫn sợ Huệ. Ông sợ con người đã từng tiêu diệt hai chúa nhà Nguyễn Gia Miêu chỉ trong một tháng. Ông sợ con người thu tóm Thuận Hóa chỉ trong một ngày, và thong thả diệt Trịnh như không thèm tận sức. Ông sợ con người có ánh mắt tha thiết, nhưng lại bừng lên thình lình. Lúc ấy chiếu thẳng vào mắt người khác như soi thấu ruột gan của họ. Sợ Huệ quá, cần phải chiều lòng con người nầy. Đó là lý do nhà vua gả công chúa Ngọc Hân về làm vợ Huệ.

      Ngọc Hân 16 tuổi, chưa từng có bóng dáng người đàn ông nào trong lòng. Tuy chưa đủ lớn khôn để hiểu hết phức tạp của tình hình, nhưng Ngọc Hân biết cần phải chiều chuộng Huệ để đổi lấy sự bình an của vương tộc nhà Lê. Hân lo lắng nghe lời dặn dò của phụ hoàng, nhưng tất cả những lo lắng ấy đều là thừa. Người đàn ông 33 tuổi Nguyễn Huệ đón nhận Hân với lòng trân qúi. Chính sắc đẹp của Ngọc Hân đã làm dày thêm ý niệm giữ lại nhà Lê của Nguyễn Huệ. Huệ cương quyết trong chiến trường, có mộng bành trướng thế lực, có đủ ân uy và gian xảo để diệt người, nhưng không đủ mạnh để vượt qua nhan sắc. Huệ đã có lần trải tim ra, nhưng không giữ được một người. Vì không đồng cái nhìn về chiến tranh mà mất Thái An, nhưng Huệ vẫn yêu người con gái đầu đời nầy. Vì mãi nhớ tới Thái An nên mất Phạm Thị Liên, nhưng Huệ vẫn không quên người tình họ Phạm. Vì đau khổ với cả hai người con gái ấy mà đến với Bùi Thị Nhạn, nhưng Huệ yêu thương người vợ nầy biết chừng nào. Đứa con trai Nguyễn Quang Toản 3 tuổi, và Nguyễn Quang Thiều 2 tuổi không phải là những gạch nối qúy báu đó hay sao? Nhìn chung Huệ đa cảm hơn một người đàn ông bình thường, nên Ngọc Hân không cần đặt hưng vong vương tộc nhà Lê trong tình yêu nầy. Một thân hình mảnh khảnh, một gương mặt trái soan, một giọng Thăng Long nhè nhẹ đã cuốn Huệ vào những ngày kỳ diệu ở vùng kinh đô Đông Kinh nầy.

Cuộc chinh chiến từng cơn biến loạn
Từ khởi binh cho đến lúc này
Giang sơn một cõi Đàng Trong cũ
Đất đã thu về trong nắm tay

Này Gia Định này là Thuận Hóa
Này giang sơn lồng lộng bao la
Khi xưa Nguyễn chúa từng hãnh diện
Đứng ở Phú Xuân ngắm Bắc Hà

Nguyễn Phúc Khoát ngắm ra đất bắc
Mong xưng vương cho kịp Trịnh vương
Long Nhương không phải người năm trước
Mở rộng giang sơn há khác thường?

Hữu tướng Chỉnh tường trình giỏi dở
Đâu sĩ phu tướng lĩnh Bắc Hà
Khắp trong thiên hạ xin đừng ngại
Tài giỏi đi rồi chớ lo xa

Đâu tự thủy sơn hà một họ
Đâu từ xưa không kẻ tranh hùng
Kéo quân vượt tuyến mà chinh bắc
“Địa Ký” viết rồi Trịnh cáo chung

Đoàn quân tiến song song bộ thủy
Vượt Nghệ An Thanh Hóa giữa trời
Sơn Nam bị mất miền duyên hải
Vị Hoàng quân Trịnh loạn nơi nơi

Chiếm Vị Hoàng tiến về phố Hiến
gặp Liễn công nhà Trịnh đương đầu
Chiến trường sông Luộc dòng sông nhỏ
Tây Sơn cùng Trịnh chảy về đâu

Nào Tích Nhưỡng, Tự Quyền, Kim Dận
Bỏ phố xưa bỏ tới Ân Thi
Duy Tiên – Kim Động đều mất hết
Tây Sơn tây tiến khó ai bì

Đường quân tiến chia đi hai ngả
Ngả Nam Dư lại ngả Vạn Xuân
Bên dòng Thúy Ái bờ nam ấy
Quân Trịnh về đâu trận chiến buồn

Nào lão tướng Phùng cơ cự địch
Nào Tự Quyền, Tam Phủ hộ quân
Bao người trai trẻ thông binh pháp
Mà cuộc lui binh chẳng thể ngừng

Mất Vạn Phúc, Tây Long cũng mất
Lầu Ngũ Long chúa Trịnh ra sao
Chiến bào không sắc không oanh liệt
Bỏ ngỏ mà đi bỏ phủ trào

Cửa Tuyên Vũ vượt hào Tuyên Vũ
Hồ Minh Đường tựa gã dân đinh
Yên Hoa ô cửa mờ sương khói
Hạ Lôi thế sự khéo nhân tình

Đây Nguyễn Noãn trung trinh nhà chúa
Đây tuần Trang thực dụng muôn phần
Thương thay họ Lý thiêm sai ấy
Thờ chúa vô cùng tế sống thân!

Tin lan rộng dần dần đất bắc
Khóc Đoan Nam như Quán mấy người
Hoài về vương Trịnh bao trăn trở
Hận Chỉnh đem về nợ gươm tươi

Đỗ Thế Long là người bạn cũ
Chỉnh ban ân sao lại phụ lòng
So ra bắc tiến kinh thành ấy
Trong đục hai chiều đục lấn trong

Sợ Nguyễn Huệ, muôn lòng im ắng
Đến vua Lê còn gả Huyền Trân
Se duyên Hữu Chỉnh đà mai mối
Để bắc nhường nam mấy bội phần

Lê công chúa Huyền Trân xuân sắc
Tuổi tròn trăng mười sáu lấy chồng
Ban sơ vâng lịnh lời hoàng phụ
Thân gái theo chồng giữ núi sông

Lầu Ngũ Long không còn phủ Trịnh
Cuộc nhân duyên không tính đo lường
Không còn nợ nước trao thân gái
Mà mỗi quan hoài mỗi yêu thương

<<  |  >>