Skip to content

Chương 33

TÂY SƠN CHIẾM THUẬN HÓA

      Tháng 4 năm ất tị 1785, Nguyễn Huệ kéo binh về tới Qui Nhơn. Họ mang theo chiến thắng Rạch Gầm vang dội, làm cho vua Thái Đức có cái nhìn tự tin hơn. Người thủ lãnh xứ Kiên Thành ngày xưa nghĩ đến Thuận Hóa. Nó vốn là một phần thân thể không thể tách rời của Đàng Trong từ hơn 200 năm trước. Phải lấy lại nó. Lãnh thổ Đàng Trong phải trả cho người Đàng Trong. Vua Thái Đức nghĩ như thế, và đem việc nầy bàn với hai em Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Ông nói muốn thu hồi lại Thuận Hóa là chạm trán với một địch thủ có độ dài lịch sử gấp 20 lần hơn Tây Sơn. So với Gia Định, Thuận Hóa nhỏ hơn nhưng gay go hơn. Ngoài đối đầu về mặt quân sự với quân Trịnh, còn phải bứt bỏ ý thức phù Lê. Muốn chiếm giữ vùng nầy cần phải có một quân đội mạnh về cả quân sự và chính trị. Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đồng quan điểm với vua anh, và dần dần bàn đến những tiến trình về sau. Người anh hai Nguyễn Nhạc nói với hai em: “Gia Định đã yên rồi, thôi nữa giao cho chú Bảy, còn chú Tám thì lo Thuận Hóa, đuổi quân Trịnh về bắc, không cho nó lấn qua sông Gianh nữa”. Câu nói về chuyện lớn mà như chuyện chơi của vua anh làm Nguyễn Lữ suy nghĩ. Trong ba anh em, Lữ tự biết mình là người yếu nhất về mọi mặt, trừ một chút nhận thức về tâm linh. Ông muốn sống bình yên bên trong một triều đại sẵn có, và không hề nghĩ mình sẽ đứng riêng một vùng nào. Ở một vị trí không có nhiều trách nhiệm đời thường, ông sẽ có thì giờ tìm về mối đạo đương thiết tha trong lòng ông. Nếu Nguyễn Lữ nghĩ như thế, thì người em út Nguyễn Huệ nghĩ gì? Người ta chỉ thấy Huệ thoáng nhìn vua anh rồi thôi. Qua cuộc họp gia đình ấy, họ chuẩn bị quân đội chờ ngày xuất chinh. Thời gian chính xác chưa xác định, nhưng thuận tiện nhất có lẽ sẽ là mùa gió bắc năm sau. Muốn thế, từ mùa hạ năm ất tị 1785 nầy phải nhìn mình và nhìn người. Ở đó, Bắc Hà bây giờ ra sao?

      Thụt lùi về mùa xuân năm 1776, khi lão tướng Hoàng Ngũ Phúc giao Thuận Hóa lại phó tướng Bùi Thế Đạt để trở về Đông Kinh (Thăng Long). Ông kéo theo đứa cháu Hoàng Đình Bảo và người thư ký Nguyễn Hữu Chỉnh đi theo. Nửa đường vị tướng trọng tuổi nầy qua đời, nên đứa cháu và người thư ký được chúa Sâm sắp đặt cho những công việc khác. Hoàng Đình Bảo làm trấn thủ Nghệ An, và Chỉnh được đi theo Bảo giữ chức Hữu tham quân xứ Nghệ. Không phải vì Bảo là cháu của quận Việp, mà chúa Sâm cho Bảo trở thành trấn thủ một trấn lúc bấy giờ. Tự thân Bảo đã có tài kiêm văn võ. Năm 1765 Bảo trúng cách khoa thi hương, năm 1766 Bảo đậu tạo sĩ. Cùng năm nầy Bảo được chúa Trịnh Doanh gả con gái (em  Trịnh Sâm) và được phong tước Huy quận công. Với tài sức và liên hệ họ hàng như thế, nên chỉ một năm sau quận Huy về giữ trấn Sơn Nam hạ. Đây là một trong 5 trấn nội (Sơn Nam thượng, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Nam hạ), có mặt biển và đường sông quan trọng. Nguyễn Hữu Chỉnh cũng được đi theo Huy quận công trong lúc nầy. Chỉnh giữ đội quân Tiền Trung trông coi mặt biển. Sang mùa xuân năm 1778, thì con đường hoạn lộ của Bảo gắn liền với phủ chúa. Tháng 2 năm 1778 Hoàng Đình Bảo về giữ đạo quân Trung Nhuệ trông coi việc nội phủ. Điều nầy vô tình thay thế một phần vụ của quân Tam Phủ vốn đã có nhiều đời gắn liền với phủ chúa. Dĩ nhiên là chúa Sâm biết việc mình làm. Ông muốn quân bình mọi thế lực xung quanh, nên đã làm như thế. Dù không có một chức vụ lớn ở triều đình, nhưng Hoàng Đình Bảo trở thành người luôn ở gần bên chúa.

      Khi Bảo về phủ chúa khiến Nguyễn Hữu Chỉnh nuôi hi vọng. Ngoài cái bằng hương cống, Chỉnh giỏi thơ văn, có tài đối đáp, khéo xoay xở, có khả năng quân sự, thậm chí có nhiều mưu lược. Không phải thống quân Hoàng Ngũ Phúc đã phái Chỉnh đi sứ Tây Sơn thay cho tiến sĩ Phan Huy Ích năm 1775 đó hay sao? Hữu tham quân cho Hoàng Đình Bảo ở Nghệ An cũng là một chức vụ quan trọng. Nhiệm vụ hiện tại trông coi mặt biển Sơn Nam hạ thì càng quan trọng hơn. Đây là cửa ngỏ đi vào phố Hiến và Thăng Long. Với sức học và tài năng, Chỉnh tự hào cả Bắc Hà không có mấy người lỗi lạc được như Chỉnh. Do vậy khi Hoàng Đình Bảo về phủ chúa, Chỉnh tin chúa Sâm sẽ cử Chỉnh giữ chức trấn thủ Sơn Nam hạ. Rất tiếc điều tốt lành đó không xảy ra, mà còn tệ hơn nữa. Khi Bảo về phủ chúa, chúa Sâm đưa Chỉnh về Nghệ An giữ chức cơ trưởng cơ đội Tiền Ninh.

      Cơ đội Tiền Ninh ở huyện Quỳnh Lưu không thể nào bằng đội quân Tiền Trung của dinh Sơn Nam Hạ. Có gần quê nhà, nhưng không phải là chọn lựa của Chỉnh. Chỉnh muốn làm trấn thủ một dinh trấn để tiến thân, nhưng lịnh chúa còn hơn cả lịnh vua lúc bấy giờ. Chỉnh ra đi, và không hiểu đây là sự chuyển đổi nhân sự bình thường, hay vì một nguyên nhân nào khác. Đường công danh bỗng dưng bị rơi xuống. Dù vậy, Chỉnh quyết biến môi trường biển khơi hiện tại có lợi cho mình. Chỉnh tập luyện thuyền binh, và bơi lội miệt mài ngoài biển đến nỗi hơn một năm sau, năm 1780, Chỉnh có hỗn danh là “cắt biển”.  Lúc nầy Chỉnh vẫn được tin tức ở kinh thành, nhờ giữ được liên lạc với quận Huy.

      Qua đó, Chỉnh được biết trưởng tử Trịnh Khải đã 17 tuổi, mà chúa Sâm chưa chọn làm thế tử. Trong lúc ấy đứa con út Trịnh Cán mới 3 tuổi, mà chúa Sâm có ý dành ngôi thế tử cho Cán. Có nhiều nguyên nhân để xảy ra sự thể nầy, nhưng nguyên nhân lớn nhất vẫn là chúa Sâm mê mệt tuyên phi Đặng Thị Huệ, mẹ của Cán. Huệ chỉ mới đôi mươi, và thừa hưởng một nhan sắc chưa từng có trong lịch sử phi tần. Tất cả những ân sủng của cha nghiêng về mẹ con đứa em Trịnh Cán, làm Trịnh Khải âm thầm nuôi dưỡng thế lực.  Tháng 8 năm canh tý 1780,  Khải liên kết được với trấn thủ Sơn Tây Nguyễn Khản và trấn thủ Kinh Bắc Nguyễn Khắc Tuân. Họ chuẩn bị khởi loạn để giành lại quyền ưu tiên cho người con trưởng nầy. Công việc chưa đến đâu thì bị cựu thị giảng của Khải là Ngô Thời Nhậm đang là đốc đồng Kinh Bắc phát hiện. Người ta nói rằng Nhậm đi báo việc nầy với chúa Trịnh Sâm, và người cha Ngô Thì Sĩ cản lại mà không được. Người ta cũng nói ông Sĩ cho việc làm của Nhậm là xấu hổ gia môn nên ông Sĩ tự tử. Hai điều trên không biết có đúng hay không, nhưng chúa Sâm biết được việc làm của Khải và ông Ngô Thì Sĩ chết trong lúc đó là sự thật.

      Đầu tháng 9 năm canh tý 1780, chuá Sâm đem việc khởi loạn của Khải ra nghị xét. Những “thẩm phán” là những người thân cận nhất của phủ chúa. Trong lúc Nguyễn thái phi, mẹ Trịnh Sâm, quyết bảo bọc cho đứa cháu đích tôn Trịnh Khải, thì Hoàng Đình Bảo chiều theo cái ý dành cho Trịnh Cán đã có sẵn trong lòng chúa Trịnh Sâm. Phủ chúa xôn xao. Người ta nghe rằng chúa Sâm quyết không nghe theo lời mẹ. Ông ta thà giao ngôi chúa cho người anh họ Trịnh Bồng (con của chúa Trịnh Giang), chứ không giao cho nghịch tử Trịnh Khải. Cuộc tranh biện nhiều ngày, và nhiều người tin rằng tiếng nói của thái phi hợp lý hơn. Thật vậy, với một cái nhìn công bình thì Trịnh Khải xứng đáng được giữ ngôi thế tử. Việc khởi loạn chỉ do lòng yêu thương không công bằng của chúa Sâm mà ra. Nhưng, tiếng nói của người mẹ vẫn bị giới hạn trước hình bóng của người vợ trẻ. Nét đẹp kiêu sa của tuyên phi Đặng Thị Huệ như viên sỏi có trọng lượng lăn vào bàn cân. Kết quả là Cán được phong làm thế tử, và nhiều người dính líu tới Khải bị chúa Sâm giáng cấp, giam lỏng hoặc giết chết. Riêng Khải bị giáng xuống làm con út và bị quản thúc như một người tù. Đó là một ngày giữa tháng 9 của mùa thu năm canh tý 1780. Người ta gọi những diễn biến nầy là vụ án Canh Tý.

      Sau vụ án Canh Tý sức khoẻ của chúa Sâm sa sút. Ông yếu hẳn đi cho đến chết vào một ngày mùa thu của hai năm sau, năm 1782. Trước khi qua đời, ông uỷ thác Huy quận công Hoàng Đình Bảo lập Trịnh Cán kế vị. Cán lên ngôi chúa tức Điện Đô vương lúc mới hơn 5 tuổi. Người mẹ Đặng Thị Huệ trở thành thái phi nhiếp chính, và nội thần Hoàng Đình Bảo là quan phụ chính.  Riêng đứa “con út” Trịnh Khải bị đem giam lỏng ở lầu Tả Xuyên nghiêm ngặt hơn. Khải chỉ vào được phủ đường trong 3 thời khắc cúng cha mỗi ngày, nhiên hậu không được đi đâu. Tất cả những diễn tiến như thế đều do một tay Hoàng Đình Bảo sắp xếp, dù trong phủ chúa còn có những đại thần: Trịnh Kiều, Nguyễn Hoàn, Lê Phan Phiên, Tạ Danh Thùy…

      Nếu Hoàng Đình Bảo loại được những đại công thần phù Trịnh giữa triều, thì lại thua đi bởi một nhóm loạn quân. Dù đã từng trấn thủ Nghệ An và trấn thủ Sơn Nam hạ, nhưng khi đến đỉnh cao bậc nhất của danh vọng, Bảo chỉ cầm một nhóm Trung Nhuệ quân. Lính Tam Phủ biết kẻ hở nầy nên đã ra tay. Họ đã từng phục vụ nhà Trịnh mấy đời, bỗng thấy gai mắt khi thấy một người không phải Trịnh nắm quyền phủ Trịnh. Bên cạnh đó, họ còn nghe đồn đại giữa quan phụ chính Hoàng Đình Bảo và thái hậu họ Đặng có những dan díu bất chánh. Câu vè dân gian len qua trong lòng phố chợ Đông Kinh mà họ đã từng nghe là một thí dụ: “Trăm quan ít sáng nhiều mờ. Để cho Huy quận vào rờ chính cung”. Họ nổi máu anh hùng đường phố. Chỉ một biện lại Nguyễn Bằng chỉ huy đã thành công. Ông nầy dẫn lính Tam Phủ nhập nội phủ với sự đồng thuận không chính thức của bà Hoa Dung thái thái phi họ Nguyễn (mẹ Trịnh Sâm, người từ đầu đã ủng hộ đứa cháu đích tôn Trịnh Khải). Quân Tam Phủ mau chóng áp đảo quân lính hộ vệ quận công Hoàng Đình Bảo. Vị phụ chính nầy bị giết trong sự điên cuồng của đám đông bên cửa thành, trong khi mẹ con của bà thái phi Đặng Thị Huệ – Điện Đô vương Trịnh Cán lên đường chạy trốn. Nội quan Đặng Đình Thiệu, tạo sĩ Đặng Tiến Đông và nhóm thân thuộc cố đưa mẹ con thái phi họ Đặng ra khỏi kinh thành.

      Trịnh Khải được cứu thoát trong lúc nầy, và được tôn phò lên làm chúa. Diễn biến phế lập ngôi chúa Trịnh nầy không phải là chuyện nhỏ, nhưng vua Lê Hiến Tông không dám quan tâm tới. Như thường lệ, ông phong cho tân chúa Trịnh Khải tước hiệu Đoan Nam vương, và kỳ vọng vị chúa mới lo việc nước. Rất tiếc, không như điều mong đợi của vị vua trọng tuổi nhất của nhà Lê. Chúa Trịnh Khải không phải là người giỏi giang như ông nội và cha. Ông lập Nguyễn Khản, người giúp ông khởi loạn Canh Tý 1780, làm tham tụng, và người cậu ruột Dương Khuông giữ quyền nội phủ sự. Tuy thế, cả chúa Khải và hai vị đại thần mới không có khả năng kiềm hãm lòng hiếu động của quân Tam Phủ. Họ có nhiều yêu sách và muốn thay đổi, trong đó có một thay đổi đáng nhớ: Phế lập thái tử. Nhớ lại, năm 1771,  Trịnh Sâm giết thái tử Lê Duy Vĩ, và bắt giam các con của vị thái tử nầy. Ông ta lập Lê Duy Cận, em Vĩ, lên làm tân thái tử tính đến nay đã 10 năm. Quân Tam Phủ chẳng phải bất mãn gì thái tử Lê Duy Cận, nhưng thích đổi mới.  Họ ùn ùn kéo quân vào nhà giam. Họ giải thoát các hoàng tôn của vua Lê Hiển Tông, và xin lập đích tôn của nhà vua lên làm thái tử. Trước sự đã rồi, vua Lê Hiến Tông phế con trai Lê Duy Cận làm Sùng Nhượng công, và làm lễ đăng quang thế tử cho cháu đích tôn Lê Duy Khiêm. Đó là một ngày đầu tháng chạp năm nhâm dần, rơi vào tháng một năm 1783.

      Đã hơn 10 năm trong ngục thất, Khiêm bàng hoàng trước những đổi thay, nhưng trong một cái nhìn thực tế vị tân thái tử đã mang ơn quân Tam Phủ. Được đà, đám binh kiêu ngạo nầy đi lùng sục những ai có liên quan với Hoàng Đình Bảo và thái phi Đặng Thị Huệ. Mẹ con của thái phi và những người đi theo bảo vệ đều bị bắt. Bị đưa về tới phủ chúa, cựu phi tần Đặng Thị Huệ không chịu khuất phục. Bà bị bà cựu chánh phi (vợ chánh của chúa Sâm) hành hạ, trong lúc chúa Trịnh Khải xử chết nhiều người có dính líu tới bà. Đặng Đình Thiệu bị xử chết làm người em của ông là Đặng Tiến Đông cũng phải bỏ trốn. Điều nầy làm tất cả những ai từng được ân ưu của Huy quận công Hoàng Đình Bảo đều run sợ. Một thuộc tướng của quận Huy ở Sơn Nam là Nguyễn Viết Tuyển chạy về Nghệ An báo cho Nguyễn Hữu Chỉnh để tìm cách xoay xở.

      Ở vào tình thể không thể ngồi yên để bị bắt, Chỉnh nhanh chóng đi gặp quan trấn thủ Nghệ An lúc bấy giờ là Vũ Tá Giao. Giao vốn là thuộc hạ của Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc trước đây nên sẽ bị vạ lây, nhưng Chỉnh trấn an Giao bằng hai cách. Một: Với tư cách trấn thủ Nghệ An, Giao liên lạc với phó trấn thủ Hoàng Đình Thể của Thuận Hóa để mưu đại sự. Thể cũng là người của quận Việp, nên là người đồng hội đồng thuyền với Giao và Chỉnh. Theo đó, Thể sẽ tìm cách giết chết trấn thủ Phạm Ngô Cầu trong lúc quân thủy bộ Nghệ An tiến vào Thuận Hóa. Chỉnh đoan chắc với Giao cánh thủy binh của mình rất thiện chiến, sẽ tận sức giúp Giao làm chủ tình hình. Lúc đã làm chủ hai dinh liền biên Nghệ An và Thuận Hóa, thì không phải được cả một “nước” rồi sao? Lúc ấy thì đâu còn sợ gì một xứ bắc hà, hay một xứ nam hà. Thấy kế sách của Chỉnh táo bạo và nguy hiểm quá, Giao nói mình không kham nổi, xin Chỉnh nói kế sách thứ hai. Chỉnh đáp gọn lỏn: “ Ngoài kế ấy ra, chỉ còn một cách bỏ nước mà đi thôi!” Giao hỏi lại: “Nhưng mà đi đâu?” Lần nầy Chỉnh đáp mông lung, nhưng quả là thái độ của kẻ khác người: “thiên hạ vạn nước, lo gì không chỗ để đi?”. Rốt cuộc Giao vẫn ở Nghệ An để chờ số phận, riêng Chỉnh mang gia đình và thân thuộc ra khơi.

      Nguyễn Hữu Chỉnh đi Qui Nhơn. Vì đã từng quen biết Nhạc và Huệ trong lần đi sứ năm 1775, Chỉnh đến thành Hoàng Đế xin tị nạn. Vua Thái Đức nhớ tới tài văn chương và đối đáp lanh lợi của Chỉnh mà đâm ngại. Ông còn nhớ như in lúc tiếp đón Nguyễn Hữu Chỉnh vào tháng 5 năm 1775.  Lúc ấy Chỉnh thừa lịnh Hoàng Ngũ Phúc làm sứ giả ban ấn kiếm của chúa Trịnh Sâm, và Nhạc muốn giữ thể diện của một tướng soái. Sợ rằng không đối đáp nổi với một sứ giả của chính quyền Đông Kinh, Nguyễn Nhạc phải mời thầy giáo Trương Văn Hiến để tiếp Chỉnh. Quả Chỉnh khôn ngoan, ma mãnh mà thầy giáo Hiến phải chật vật đối phó. Vua Thái Đức đem điều nghi ngại nầy hỏi ý kiến Nguyễn Huệ, nhưng vị Long Nhương tướng quân há sợ một tài lược như thế hay sao!

      Với sự đồng tình của Nguyễn Huệ, vua Tây Sơn cho Chỉnh đứng dưới trướng của mình từ những ngày tháng của mùa xuân năm 1783. Nhờ sự hiểu biết về tình hình bắc hà, nhờ có cái nhìn tinh tế về thời cuộc, nhờ tài biện luận, nhờ đem vợ con theo đến Qui Nhơn, Chỉnh được vua Thái Đức Nguyễn Nhạc tin tưởng nhiều hơn. Tuy thế, Chỉnh vẫn hiểu rằng lòng tin nầy chỉ ở một mức độ giới hạn. Bằng chứng là trong các cuộc nam chinh năm 1783, 1784, 1785, Chỉnh không được tham mưu hoặc trực tiếp tham chiến. Để tạo niềm tin với Tây Sơn hơn nữa, mùa thu năm 1785 Chỉnh đã giết một một người em rể cũng là một người bạn từ Đông Kinh vào thăm mình.

      Nguyên trên danh nghĩa, Tây Sơn vẫn là thuộc triều của triều đình Lê – Trịnh từ khi chịu hàng Hoàng Ngũ Phúc năm 1775.  Do vậy việc đi lại giữa Đông Kinh, Phú Xuân và Qui Nhơn không ngăn ngại. Tàu buôn qua lại từ cửa sông Hồng, cửa Eo, cửa Hội An, và cửa Thị Nại thường khi tấp nập, Người em rể cũng là quan lại của phủ chúa theo các thuyền nầy vào thăm Chỉnh. Qua người em nầy, Chỉnh biết Bắc Hà ở vào những năm 1784 – 85 như một mớ tơ vò. Theo đó quân Tam Phủ tăng tốc lộng hành, ép bức kẻ khác làm loạn cả Đông Kinh. Quốc cữu Dương Khuông cùng bồi tụng Nguyễn Khản ra sức dẹp cái sức mạnh kiêu binh nầy, nhưng không thành công. Dẹp thì cứ dẹp, nhưng lộng thì cứ lộng. Một lần để tỏ rõ quyền hạn của mình, hai vị công thần nêu trên lập án giết đi 7 kẻ gây rối. Điều nầy như một mồi lửa quăng vào đống rơm. Những tay vô pháp vô cương trong lực lượng Tam Phủ kéo đến đốt nhà Dương Khuông. Vị quốc cữu của phủ chúa phải chạy vào cung Dương thái phi, chị ruột của mình, nương náu. Số phận của bồi tụng của Nguyễn Khản cũng không khá hơn, Khản phải lưu lạc về Sơn Tây lẩn trốn. Tại đây, người em Nguyễn Điều đương là tổng trấn bơm tinh thần cho kẻ thất thế. Theo đó, một mặt kêu gọi quân ngoại thành về bảo vệ thủ đô, mặt khác báo cho chúa Trịnh Khải tùy liệu mà phối hợp. các tướng Trương Tuân ở Kinh Bắc, Trịnh Tự Quyền ở Hải Dương, Hoàng Phùng Cơ ở Sơn Nam đều hưởng ứng. Họ Hoàng có nhiệm vụ đón chúa Trịnh Khải ra ngoại thành trước khi tấn công. Rất tiếc điều nầy bị lộ. Tại cửa Tây Long, Hoàng Phùng Cơ không gặp mặt chúa phải rút trở lại Sơn Nam. Họ Hoàng không hề biết chúa Khải được quân Tam Phủ “mời” về nội phủ. Đó là một ngày cuối xuân năm 1784.

      Ở thế cùng Trịnh Khải phải xử Dương Khuông trở thành thứ dân, và đuổi Nguyễn Khản về quê nhà Tiên Điền. Đây là một hòa giải kỳ kèo giữa quân Tam Phủ và chúa Khải, qua sự mềm dẻo của tân tham tụng Bùi Huy Bích và tân bồi tụng Trần Công Xán. Ông Bích và ông Xán làm dịu sức lộng hành của quân Tam Phủ, nhưng mùa lúa tháng 8 năm 1785 ấy lại thất thu. Nạn đói xảy ra ở Bắc Hà. Nó tạo cho một xã hội thêm người ăn xin và ăn cướp. Ở đó có một ông vua Lê Hiển Tông già nua bịnh hoạn, và một chúa Trịnh Khải bị trói tay bởi đám loạn quân. Tình hình như thế không thể nào can thiệp cho Thuận Hóa, nếu có một biến cố xảy ra.

      Sau khi biết đầy đủ những xáo trộn ở đất bắc như thế, Chỉnh hàn huyên với người em rể về những ly tán thời cuộc như một kẻ sĩ đau lòng. Trong một chiếu rượu chia tay, người ta thấy đó là bữa tiệc ân tình đầy ắp tình huynh đệ. Không hề có một chỉ dấu trước, nhưng lúc mãn tiệc Chỉnh bảo với người em rể là Chỉnh kết thúc mạng sống của anh ta. Đơn giản, chỉ vì tội đi dò la tình hình Tây Sơn cho chúa Trịnh Khải. Chỉnh nói như chơi và người em rể tưởng như đùa, nhưng ông ta bị lôi ra chém là sự thật.  Điều nầy xảy ra chỉ duy nhất với lý do Chỉnh muốn lấy lòng Tây Sơn. Nhìn cách dùng thủ đoạn của Chỉnh, Tây Sơn thấy Chỉnh có chỗ dùng được. Thật vậy, những mưu mẹo của con người nầy đã góp một phần trong lần tấn công thành Phú Xuân năm 1786.

      Đầu mùa hạ năm bính ngọ 1786, Nguyễn Huệ thừa lệnh vua Thái Đức chuẩn bị cho chiến dịch chiếm Thuận Hóa rất tỉ mỉ. Mục tiêu chính là thành Phú Xuân. Công phá thành nầy do đích thân Nguyễn Huệ chỉ huy với hai tả hữu tướng quân Vũ Văn Nhậm và Nguyễn Hữu Chỉnh. Mặt nam: Hải Vân – Lăng Cô do Phạm Văn Hưng từ phủ Điện Bàn kéo ra. Mặt bắc: Cựu dinh do Phan Văn Lân.  Từ dinh trạm Quảng Bình đến sông Gianh do Ngô Văn Sở chịu trách nhiệm. Ông Lân và ông Sở có nhiệm vụ khoá chặt lực lượng địa phương ở đầu bắc không cho tiếp viện Phú Xuân. Ngoài ra còn một lực lượng trừ bị neo quân ở cồn Cỏ, ngoài khơi Cựu dinh. Nguyễn Lữ và Nguyễn Văn Tuyết ở đây, sẵn sàng tiếp viện khi cần. Dưới trướng tướng Tuyết có cả hai hàng tướng Hồ Đồng và Nguyễn Huỳnh Đức. Họ chưa có nhiệm vụ gì trực tiếp, dù đã có 3 năm thuần phục ở Qui Nhơn.

      Với lực lượng như thế, nếu không có Chỉnh, Tây Sơn cũng có thể chiếm được Thuận Hóa. Nhưng, Chỉnh đã góp một bàn tay rất ngoạn mục trong việc chiếm vùng địa đầu nầy. Vốn tổng trấn Thuận Hóa Phạm Ngô Cầu rất hoang mang, khi theo dõi tình hình Đông Kinh. Cầu biết rõ vị chúa đương nhiệm Trịnh Khải sẽ không làm được gì khi Thuận Hóa có biến. Dĩ nhiên cũng không cậy vào bọn Tam Phủ lộng hành. Biết được tâm trạng của vị trấn thủ biên địa, Chỉnh mưu kế đánh mạnh vào tâm lý ai cầu của con người. Khi khó khăn mà không thể nương vào ai, người ta cầu tới đấng siêu nhiên là chuyện thường. Phạm Ngô Cầu không tránh khỏi. Một thầy bói giả tiếp cận được với vị quan họ Phạm qua những tay con buôn từng quen biết với chỉnh. Ông ta nói về thịnh suy cuộc đất Thuận Hóa và vận mệnh nhiều hung ít kiết của đương kim quan trấn. Nó  liên quan đến những tiền trào chúa Nguyễn, và cả những hồn Chàm ở trên núi cao. Không khó để ông ta xúi quan trấn họ Phạm lập đàn chay 7 ngày đêm giải oan và cầu phước. Một ngôi chùa thanh u trên núi Hương Uyển ở thượng nguồn sông Hương được chọn làm nơi lập đàn.

      Đàn tràng được tổ chức vào trung tuần tháng 4 năm bính ngọ, rơi vào những ngày cuối của tháng 5 năm 1786. Đích thân quan tổng trấn “đứng chịu” đàn, và binh lính ngày đêm thường trực để chu tất. Đến đêm thứ sáu, khi qua thời lễ khuya, quan tổng trấn và mọi người đi nghỉ.  Dọc hai bên đàn tràng chỉ còn lại những người lính trực đêm. Ở đó mỗi bên có một dãy bàn dài thờ chư vị hương linh với nhiều bát nhang quyện khói. Những người lính trực đêm chỉ có một nhiệm vụ duy nhất, thắp hương và gạt tàn. Trên bàn phật, tượng đức từ phụ ngồi yên với ánh mắt bao dung, Hai bên và sau lưng ngài những lá phướn không lay động. Đêm trên đồi Hương Uyển yên tĩnh. Nếu có một ai đó nhìn về Phú Xuân chỉ thấy một màn đêm bao trùm, và càng không thể thấy một điều gì xa hơn ngoài cửa biển.

      Thế mà, ở đó đã không yên. Năm ngàn quân Tây Sơn đổ vào cửa Eo dưới sự thống lãnh tướng quân Nguyễn Huệ. Lính đồn trú ở cửa biển nầy còn đang ngơ ngẩn thì đã bị tước vũ khí. Cuộc chiến ở đây như đá đè lấy trứng. Lính phòng vệ bỏ chạy khi chưa biết đối thủ của mình là ai. Mãi đến khi Tây Sơn tả tướng Vũ Văn Nhậm đụng độ với quân phòng thủ ở cuối nguồn sông Bồ, họ mới biết ai là ai. Lúc nầy hữu tướng Nguyễn Hữu Chỉnh đã ở bờ nam sông Hương gần phủ thành. Trời sáng hẳn, và tiếng gươm đao đã chạm nhau. Phú Xuân chìm trong hỗn loạn. Dân, lính ùn ùn kéo chạy theo nhiều ngả. Trước cuộc tấn công bất ngờ của đối phương, phó trấn Hoàng Đình Thể quả là một chỉ huy có tài.  Ông điềm tĩnh điều động quân tướng bảo vệ thành. Chỉ là dinh lỵ của một dinh, nhưng thành Phú Xuân vẫn còn giữ những kiên cố của thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Từ pháo đài cửa bắc quân Trịnh nả đạn về Hương Vinh, Quảng Thành. Tả tướng quân Tây Sơn Vũ Văn Nhậm ở đây không vượt qua được sông Bồ. Từ cửa nam pháo đạn vẫn tiếp tục yểm trợ cho tướng bảo vệ nam thành Vũ Tá Kiên. Quân của Tây Sơn Nguyễn Hữu Chỉnh không vượt qua được Vĩnh Lại.

      Dưới lối đánh tốc chiến của thống soái Nguyễn Huệ, nhưng Tây Sơn hai mặt phải đành ngưng lại vì đạn pháo Phú Xuân. Ở tả ngạn sông Hương, Nguyễn Huệ và Vũ Văn Nhậm rải quân ra ẩn núp. Bên hữu ngạn, Nguyễn Hữu Chỉnh cũng làm tương tự. Các vị tướng Tây Sơn nầy đương chờ áp lực pháo của địch giảm xuống, và chờ đợi kết quả kế hoạch ly gián của Chỉnh mà Huệ không mấy tin tưởng.  Đó là việc hai bức thư dụ hàng đã gởi từ trước. Bức thứ nhất của vua Tây Sơn Thái Đức gởi dụ hàng tổng trấn dinh Thuận Hóa Phạm Ngô Cầu. Bức thứ hai của Nguyễn Hữu Chỉnh gởi người bạn Hoàng Đỉnh Thể. Mối tương thân giữa Chỉnh và Thể khi cùng đứng dưới trướng Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc, được nhắc nhở chân tình trong bức thứ hai nầy. Cả hai bức thư đều khéo léo trao lầm người nhận như một sự vô tình.  Phạm Ngô Cầu và Hoàng Đình Thể không phải là những tướng tồi, hai ông đã từng là chiến tướng tây bắc. Sau đó một người từng làm trấn thủ Sơn Nam, và người còn lại đã nổi tiếng ở trận Cẩm Sa. Hai ông đã được chúa Sâm đưa vào Phú Xuân với sự chọn lựa. Liệu rằng với tài năng và sự được tín cẩn ấy có bị lung lạc bởi hai bức thư của Nguyễn Hữu Chỉnh?

      Từ đàn tràng trở về, bên cạnh lá thư gởi nhầm của Chỉnh dụ hàng tướng Thể, tổng trấn họ Phạm nhận được tin rất bi quan. Ngoài đại quân của Nguyễn Huệ tấn công Phú Xuân còn hai đạo quân nữa. Mặt bắc, Phan Văn Lân đã đổ quân trên bờ Ô Lâu chặn đường tiếp viện từ Ái Tử. Mặt nam, lực lượng địa đầu Tây Sơn ở Điện Bàn tấn công đồn biên phòng Hải Vân. Đô đốc Tây Sơn Phạm Văn Hưng vượt sông Cu Đê, chinh phục đỉnh đèo lúc tờ mờ sáng. Trấn quân nhà Trịnh ở đây là Hoàng Nghĩa Hồ đã tử thương, chỉ còn một số rất ít chạy về được Phú Xuân.

      Lúc nầy phó tướng Hoàng Đình Thể và thuộc tướng Nguyễn Trọng Đương đã ở thành để ngăn cản quân địch tiến về cửa bắc. Quan tổng trấn họ Phạm đăm chiêu, và lên mặt thành quan sát. Phía cửa tây kéo về chùa Thiên Mụ yên tĩnh. Cửa nam, Vũ Tá Kiên đang thắng thế. Ông ta đẩy quân Tây Sơn Nguyễn Hữu Chỉnh chạy lui về đường thiên lý bắc nam, xa hẳn phủ thành. Kiên đã đi quá xa. Đây có thể là mưu kế của đối phương chăng?  Vị tổng trấn không có thì giờ suy nghĩ tiếp. Ở cửa bắc, Tây Sơn đã ào ào tiến tới. Phó tổng trấn Hoàng Đình Thể không còn thuận lợi. Dưới trướng họ Hoàng là hai người con đều là tạo sĩ, nhưng đã núng thế.  Hoàng Đình Duệ và Hoàng Đình Khuê đều thông hiểu binh pháp và giỏi võ nghệ như cha, nhưng không đối địch được với Tây Sơn Vũ Văn Nhậm. Tương tự như thế, Hoàng Đình Thể và Nguyễn Trọng Đương không giành ưu thế được với Nguyễn Huệ. Trận chiến gươm kề gươm  đã làm pháo xạ không có kết quả. Nếu rơi trúng vài ba quân lính Tây Sơn, thì cũng giết đi số lính quân triều tương tự. Ba cha con họ Hoàng và đốc thị Đương tận lực chiến đấu, nhưng vòng vây cứ khép lại. Họ bị đẩy lui sát chân thành.

      Với một ý chí quyết bảo vệ thành Phú Xuân, tướng Hoàng Đình Thể xin điều tất cả binh đội ra cửa bắc. Tại pháo đài trung tâm, tổng trấn Phạm Ngô Cầu cân nhắc để rồi không thỏa mãn lời yêu cầu của vị phó trấn. Chắc vị phó trấn họ Hoàng không biết tướng Vũ Tá Kiên ở cửa nam đã đi quá xa, đã bỏ trống cửa nầy. Tương tự, hai cửa đông và tây không còn đủ quân tướng canh giữ. Trong thời gian chần chừ của tổng trấn, ba cha con phó trấn Hoàng Đình Thể đã không tránh được những đường kiếm của những hãn tướng Tây Sơn. Trước khi chết họ Hoàng còn kịp thấy màu cờ trắng trên mặt thành. Ông chợt nghĩ đến lá thư gởi nhầm của vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc mà ông đã xé đi. Ông mang theo câu hỏi nhập nhòa về lòng tín cẩn mà ông dành cho quan trấn thủ.

      Khi tướng Hoàng Đình Thể chết và tướng Phạm Ngô Cầu đầu hàng, tình hình vẫn rối loạn. Nếu người từ Cầu Hai, người từ Bác Vọng ở hai đầu nam bắc chạy về Phú Xuân, thì ở phủ thành nầy có nhiều người lại chạy ngược về hai hướng ấy. Tin xa hơn nữa là lính ở đồn Cát và đồn Ái Tử đã bị Tây Sơn Phan Văn Lân giết hết. Tin ở Cựu dinh không biết có chính xác hay không, nhưng có người chạy về từ Quảng Bình bảo chắc rằng Tây Sơn Ngô Văn Sở không tha ai ở vùng dinh Trạm nầy. Tin cứ chồng lên tin, làm người ta nhớ đến tin Tây Sơn đã tập sát người Minh Hương ở Sài Gòn từ nhiều năm trước. Nỗi lo sợ về Tây Sơn được thổi phồng, sinh ra cuộc chạy loạn. Cứ thế người chạy theo người càng lúc càng đông. Gồng gánh và tiếng khóc trẻ con đầy đường. Bên cạnh đó cũng phải kể những đám hôi của từ những kẻ bất lương. Đứng trước hỗn loạn ấy, con người lanh lợi Nguyễn Hữu Chỉnh cố đi tìm những danh sĩ từng có uy tín ở Phú Xuân để giúp Nguyễn Huệ an định tình hình. Chỉnh thất bại khi tìm gặp Đặng Đức Siêu, người cùng gốc Hoài Nhơn với Nguyễn Huệ, nhưng thành công với hai người khác. Đó là Nguyễn Hữu Thận ở Hải Lăng và Trần Văn Kỷ ở Hương Trà. Thận là một nhà thâm nho, nhưng chuyên nghiên cứu về lịch pháp nên chưa trực tiếp giúp Nguyễn Huệ trong lúc nầy. Riêng Trần Văn Kỷ thì lại khác. Ông Kỷ không đỗ tiến sĩ khoá mùa thu năm 1778 ở Đông Kinh, nhưng là người có thực tài về chính trị và hành chính. Ông cùng hàng tướng Hồ Đồng, vốn là tham tri bộ Lại của Nguyễn Ánh, đã giúp san bằng những gập ghềnh của Phú Xuân trong lúc nầy.

      Chiêu bài “người Đàng Trong bảo vệ người Đàng Trong” lập tức được tung ra. Với giọng Huế trầm bỗng của Kỷ, người kẻ Huế mau chóng tin tưởng vị danh sĩ nầy. Cái cảm giác bị bóc lột dưới thời quốc phó Trương Phúc Loan chẳng gì tốt đẹp, nhưng khi nghe nói người Đàng Trong trở về người ta lại dễ nghe theo. Sau cuộc chạy loạn chưa quá lan rộng, người Thuận Hóa như quên đi thiệt hại của chiến tranh. Họ thấy Tây Sơn không tàn ác như tin đồn. Họ hân hoan đón vận hội mới. Những tay buôn được dịp bán cờ đào, mà không biết ở đâu chúng có ngay từ những giờ phút đầu. Cờ càng lúc treo càng nhiều, và tình hình dần ổn định, tuy nhiên không tránh khỏi những vụ trả thù lẻ tẻ. Người ta nhắm vào những người lính Trịnh gốc bắc đã có lần tạo ra ân oán riêng tư.  Đám người này tìm cách chạy về bên kia bờ sông Gianh.

Về Qui Nhơn tháng tư ất tị (1785)
Người Tây Sơn nhìn ngắm ra xa
Ngắm về Thuận Hóa mà thương tiếc
Những đã mười năm cách quan hà

Đâu kẻ Huế cung ngơi chúa Nguyễn
Đâu sông Gianh cũng vốn Đàng Trong
Nối liền đất Quảng từ xưa ấy
Lấy lại nhân thiên chắc thuận lòng

Lòng muốn thế liệu thời có thế
Nhìn Đông Kinh nhà Trịnh ra sao
Từ khi Kinh Bắc về phủ chúa
Một Đặng tuyên phi tạo hý trào

Thu đinh dậu phi sinh hài tử (1777)
Giá khuynh thành hay giá sắt son
Hài nhi đỏ hỏn mà thay trưởng
Thiên cổ xưa nay khéo đường mòn

Đâu son sắt những người phù trưởng
Đâu tài ba lộ bắc lộ tây
Chưa gom binh mã đà bị lộ
Trịnh Khải mùa thu chuốc hận nầy

Thu canh tý Khải thành con út (1780)
Cán lên ba thế tử đông cung
Giai nhân sức mạnh như muôn trước
Ngẫm nhân gian mấy thứ vô cùng?

Thu nhâm dần đông cung năm tuổi (1782)
Tức vị vương tức Điện Đô vương
Ra rằng Sâm chúa vừa tạ thế
Để lại di ngôn rất tỏ tường

Hoàng Đình Bảo trở thành phụ chính
Đặng Tuyên phi thái hậu uy quyền
Bắt giam Trịnh Khải ngừa bất trắc
Đâu ở thành tây đâu Tả Xuyên

Đông nhâm dần như yên như động (1782)
Lòng trung quân khéo đã hai đường
Ai theo con trưởng chàng Trịnh Khải
Ai giúp đương triều Điện Đô vương

Quân Tam Phủ cương cường mấy kẻ
Vốn trung trinh nhà Trịnh mấy đời
Suy tôn Trịnh Khải thành quân chủ
Kéo tới thành tây thử cuộc chơi

Được thái thái sau lưng ủng hộ
Đem quân đi phủ chúa đột thành
Thư hùng một trận phân thua thắng
Khép lại tranh giành em với anh

Quận Huy chết, Tuyên phi bị bắt
Điện Đô vương theo mẹ phục hàng
Bao người dính líu thành liên lụy
Mấy kẻ gần xa chịu ly tan

Nguyễn hữu Chỉnh chịu hàng Tuy Viễn
Đặng Tiến Đông cũng đến Tây Sơn
Trong khi phủ chúa vua phong tước
Đoan Nam vương chắc đủ thỏa hờn

Xuân qúy mão ơn trời yên ổn (1783)
Dù kiêu binh nổi máu yêng hùng
Phá ngục thất cứu người tôn thất
Đổi trừ quân, trung lọ bất trung

Lê Duy Khiêm trở thành thái tử
Nối nghiệp cha Duy Vĩ thuở nào
Bao năm tù ngục bao lâu nữa
Bỗng thấy ngai vàng tựa chiêm bao

Ơn tái tạo vừa vua vừa chúa
Lòng kiêu căng mau chóng thành hình
Vua Lê chúa Trịnh đành bất lực
Đất bắc vô cùng loạn kiêu binh

Thế đã đến Tây Sơn toan tính
Chiếm Phú Xuân một sớm hôm nào
Một ngày mùa hạ năm bính ngọ (1786)
Kẻ Huế vờn lên gió binh đao

Hữu tướng Chỉnh bày mưu vẽ kế
Lá thư quen đem gởi nhầm người
Lên chùa cầu phước chưa thành phước
Phủ thành họa đến máu còn tươi

Hoàng Đình Thể hy sinh ngoài cổng
Phạm Ngô Cầu cờ trắng trong dinh
Mười năm Thuận Hóa thành đất bắc
Nay trả trời nam cũng thuận tình

Sau chính biến loạn hồ như có
Người xôn xao như thể chưa yên
Vân Trình làng nhỏ bên sông nhỏ
Hữu Chỉnh hôm nao đến cầu hiền

Trần Văn Kỷ sơ duyên Nguyễn Huệ
Giúp Phú Xuân xoa dịu nỗi hờn
Chắc là sẽ xóa lằn ranh lớn
Chúa Nguyễn, Trịnh triều, Nguyễn Tây Sơn

<<  |  >>