Skip to content

Chương 32

TÂY SƠN ĐÁNH GIA ĐỊNH LẦN THỨ 6: TRẬN RẠCH GẦM VÀ NGUYỄN ÁNH LƯU VONG

      Tháng 8 năm 1783, Nguyễn Ánh từ Cổ Cốt về lại Phú Quốc. Nhà vương gặp lại mẹ, vợ con và những binh tướng còn lại. Tất cả những người trốn trong rừng nầy đều an toàn, trừ một người đàn bà tự tử. Tây Sơn không truy giết họ, khi ngỡ rằng Nguyễn Ánh đã chết. Tất cả chưa tới 100 người, nhưng không đủ gạo để ăn. Đó là những ngày họ sống nhờ vào củ chuối củ mài trên rừng. Thiếu thốn quá mức đã làm nhiều đứa bé nhanh chóng còi cọc, kể cả các hoàng tử. Nếu hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh đã tròn 4 tuổi còn chịu đựng được, thì hai đứa em khác mẹ của cậu đã xanh xao. Nguyễn Phúc Hy chỉ như là một que tăm, và Nguyễn Phúc Tuấn vừa chết khi chưa đến ngày thôi nôi. Hai đứa bé nầy không phải là con của của chánh phi Tống Thị Lan hoặc nhị phi Trần Thị Đang. Mẹ chúng là hai người phụ nữ khác nhau đã có ân tình với Nguyễn Ánh trên đường bôn tẩu. Việc nước thì mờ mịt, việc nhà thì nheo nhóc bên hông như thế làm Nguyễn Ánh thất vọng. Dù tin có thần linh phù hộ sau lần thoát chết ở Cổ Long, nhưng Ánh cứ mãi lo lắng. Trong lúc cùng túng nầy, nhà vương nghĩ đến giáo sĩ Bá Đa Lộc, và cho người đi tìm. Thư mời được chuyển bằng tay đến vị giáo sĩ nầy. Ông ta đang có mặt ở họ đạo Chan Bun (Chanthaburi) bên miền tây sông Welu, Xiêm quốc

      Bá Đa Lộc đến Phú Quốc vào đầu tháng 9 năm 1783, nhưng không hứa hẹn điều gì. Nhớ đến cái chết một mình của Mạn Hòe trên chiến thuyền, vị giáo sĩ nầy không mấy tin tưởng vào tinh thần đồng minh của binh triều Nguyễn.  Bên cạnh đó ông còn đang bận bịu việc truyền đạo ở Pondichéry, Madras, và các vùng bên bờ đông vịnh Bengal. Do vậy, lời hứa trước đây về việc trình lên triều đình Pháp không còn thôi thúc như trước. Cả về đạo về đời. Đứng trước một thực tế không thuận tiện ấy, Ánh xin giao hoàng tử Cảnh và quốc triện để tỏ lòng thành thật. Vị giáo sĩ ngỡ ngàng trước đề nghị nầy. Ông ta đo lường lòng thiết tha của vị hậu duệ Đàng Trong. Phải chăng Nguyễn Ánh đặt tình nước hơn tình nhà? Phải chăng Nguyễn Ánh muốn đứa bé truyền thừa Nguyễn Phúc Cảnh được sống sót, khi cảm thấy sự chiến đấu đến lúc tuyệt vọng? Cái văn hóa Á Đông mà ông biết, cũng có thể xảy ra trong tình huống nầy. Bằng cách nào thì  Bá Đa Lộc chẳng muốn nghĩ thêm, ông chỉ thấy mầm thuận lợi cho nước Pháp và việc truyền đạo của ông.  Từ mất tin tưởng đến bằng lòng giúp Ánh, vị giáo sĩ hứa sẽ về nước đạo đạt ý nguyện của Ánh lên vua Louis 16. Ông đưa hoàng tử Cảnh đến Chan Bun, với đoàn tùy tùng 3 người. Họ là phó vệ úy Nguyễn Văn Nhân, cai cơ Nguyễn Văn Liêm, và người thông ngôn Trần Văn Học.

     Cuộc chia tay với niềm đau thắt ruột, nhưng kỳ vọng lại xa vời làm vương Ánh hụt hẫng. Nhìn ánh mắt vời vợi của đệ nhất vương phi Tống Thị Lan, nhà vương thấy mình có lỗi. Dứt đứa bé từ tay người mẹ để đi làm quốc sự thay mình, có nên hay không? Tâm trạng dằn vặt ấy làm Ánh muốn lên đường làm một điều gì đó bù lại điều bất công nầy. Ánh quyết định ra đi. Vị vương tử đã giao cho người vợ nửa dật vàng, để giữ niềm tin trùng phùng mai hậu. Cùng với một nhóm thuộc hạ, Ánh tự lái thuyền đi tìm đại sự. Ánh quyết định chạy về hướng Cần Giờ dò thám quân địch trước mọi tính toán khác. Thuyền nhỏ không làm chủ được sức gió, thuyền Ánh lạc đến tận cửa biển Ma Li, Bình Thuận. Họ đến đó vào cuối tháng 9 năm 1783. Chưa biết tình hình địch thế nào đã bị địch phát hiện. Phải một phen chạy trối chết ngoài biển khơi suốt 7 ngày đêm, đến nỗi không còn một giọt nước để cầm hơi. Thất vọng chồng lên thất vọng. Giữa sóng nước trùng trùng, cơn khát đang là một tai họa. Theo sử nhà Nguyễn nói thì ngay lúc nầy Ánh ngửa mặt lên trời mà khấn rằng: “Ta nếu có phận làm vua thì xin cho thuyền nầy dạt vào bờ để cứu lấy mạng cho cả thuyền, nếu không thì chìm đắm giữa biển cũng cam lòng. Sau lời khấn, thuyền chèo vào được gần bờ, và dòng nước ngọt sủi lên. Nhờ đó thuyền binh được sống sót trở về lại Phú Quốc. Công việc trải nghiệm nầy được kể cho mọi người nghe, và bà mẹ Nguyễn Thị Hoàn đoan chắc một lần nữa là trời đã giúp. Đó cũng là lúc các thuộc tướng của Ánh trốn tránh ở đất liền dần dần nổi dậy, khi Tây Sơn Trương Văn Đa không đủ quân trang trải.

      Tháng 10 năm 1783 chưởng cơ Hồ Văn Lân phá được Tân Châu (cù lao Giêng), của lưu thủ Tây Sơn Nguyễn Hóa. Chưởng cơ Tôn Thất Hội chiếm và giữ được đồn Tinh Phụ của Nguyễn Kế Nhuận ở giồng Sao. Đặc biệt, con người mất biệt sau trận thất bại ở ngã ba Tam Giang Nhà Bè lại có tin về. Châu Văn Tiếp đang ở Vọng Các gởi mật biểu về vương Ánh. Theo đó Xiêm vương Rama đệ nhất mời vương Ánh sang Vọng Các để bàn chuyện giúp đỡ chống Tây Sơn. Nhớ lại. Lúc Nguyễn Huệ phản công ở Nhà Bè tháng 3 năm 1783, quân binh của Tiếp tan hàng. Tiếp chỉ còn mươi thuộc hạ trở lại Cần Giờ. Nhờ biết tiếng Xiêm từ lúc giao dịch đường biển ở Phú Yên, Châu Văn Tiếp đón được thuyền buôn người Xiêm. Cuộc du hành không dự tính của Tiếp dẫn đến một cơ hội mới. Tiếp đến Băng Cốc đã nhanh chóng tìm được những người Xiêm từng quen biết Nguyễn Hữu Thụy trước đây. Họ là những người cùng chưởng cơ Thụy giảng hòa ở Lovek khi Xiêm xâm lấn Chân Lạp năm 1781. Tiếp nhờ họ làm trung gian xin gặp vua Rama đệ nhất. Qua sự khẩn cầu của Tiếp, nhà vua Xiêm bằng lòng mời vị  “chiêu Nam Cốc” (tên người Xiêm gọi các chúa Đàng Trong) Nguyễn Ánh qua thăm thủ đô nước mình.

      Nguyễn Ánh đến Xiêm vào tháng 3 năm 1784 với tư cách một vị chúa Đàng Trong. Đi theo ông gồm Tôn Thất Hội, Hồ Văn Bôi, tướng gốc Chân Lạp Nguyễn Văn Tồn, và một số người nữa. Qua cuộc tiếp xúc với vị quốc vương vừa lập ra triều đại Chakri, đưa đến một tình hình sáng sủa cho binh triều Nguyễn. Theo đó vua nước Xiêm sẽ cử ba tướng chiêu Tăng, chiêu Sương và chiêu Thùy Biện dẫn 3 vạn quân qua Đại Việt giúp Ánh. Dĩ nhiên trong số quân Xiêm nầy có cả quân Chân Lạp. Họ bị đồng hóa vào quân Xiêm vì vua Nặc Ấn đã chạy qua Xiêm tỵ nạn trong cuộc tấn công của Java trong tháng 3 năm 1783. Chiêu Thùy Biện, gốc Khmer, là người của Xiêm quốc đã được cử tới đánh đuổi quân xâm lăng Java. Ông nầy chiến thắng, và được lịnh ở lại Oudong làm nhiếp chính thay vua Nặc Ấn. Điều nầy có nghĩa là tân vương Xiêm quốc đã chinh phục được Chân Lạp, và Ánh hiểu mình đang mất ảnh hưởng ở đất nước chùa tháp nầy. Đổi lại, ngoài việc gởi quân chống Tây Sơn, vua Rama I còn trả tất cả con cháu nhà Mạc đang ở đất Xiêm sau ngày tập sát năm 1780 về cho Nguyễn Ánh. Trong số người nầy có Mạc Tử Sinh. Sinh là đứa bé duy nhất trên 5 tuổi được vua Xiêm cũ (Taksin) tha chết năm xưa, và vua Xiêm mới Rama thứ nhất  (lúc ấy còn là tướng Chao Phraya Chakri) đem về nuôi. Ánh phong Sinh làm cai cơ như là nhớ ơn cựu thần Mạc Thiên Tứ, thân phụ của Sinh.

      Có được sự tiếp viện hùng hậu của Xiêm, tháng 7 năm 1784, liên quân Nguyễn – Xiêm tấn công Gia Định. Trên danh nghĩa, liên quân nầy đặt dưới quyền tổng chỉ huy của thượng vương Nguyễn Ánh, và chia làm hai đường tiến quân. Một: Nhiếp chính chiêu Thùy Biện dẫn trên một vạn bộ binh Xiêm – Chân theo dòng sông hậu từ Nam Vang tiến xuống Vĩnh Trấn (Long Hồ). Hai: Thống quân chiêu Thăng và tiên phong chiêu Sương dẫn hai vạn thủy quân Xiêm từ căn cứ Chan Bun cập cửa Rạch Giá tiến về Long Xuyên (Cà Mau).  Nguyễn Ánh đi theo đoàn quân thứ hai nầy, và trên thực tế, ông chỉ có quyền hạn trên hai ngàn binh sĩ lưu vong dưới quyền. Ông phong Châu Văn Tiếp hàm đại đô đốc điều bát lộ quân (Việt), và Lê Văn Quân giữ vai tham tán. Trên đường liên quân Xiêm – Nguyễn tấn công, hầu hết quân Tây Sơn phải đầu hàng. Chỉ lèo tèo những đội quân nhỏ cố chạy về Trấn Giang, nhưng cũng bị địch quân rượt theo. Tại đây, Châu Văn Tiếp đuổi được đô đốc Tây Sơn Nguyễn Hóa chạy về bên kia bờ sông Hậu. Vừa qua sông, Nguyễn Hóa gặp quân chiêu Thùy Biện từ mặt tây đổ xuống phải chạy đến Định Viễn bên sông Tiền. Ở một cánh khác, chiêu Thăng dí Tây Sơn chạy về Trấn Di và Ba Thắc. Hầu như cả miệt nam sông Hậu đã thuộc về Nguyễn, và vương Ánh giao vùng mới tái chiếm nầy cho Mạc Tử Sanh. Sanh được cử làm tham tướng lo an định xứ sở nhiều dấu tích của cha ông. Trong lúc ấy đại quân Xiêm – Nguyễn tiến sang bờ bắc sông Hậu, nhưng cuộc chiến vẫn không thực sự xảy ra ở đây. Quân Tây Sơn quá ít, chỉ lo co cụm từng vùng để giữ đất. Tình trạng đó sinh ra một chiến trường da beo bất lợi cho Tây Sơn khắp cả dinh Vĩnh Trấn. Họ mất Trà Ôn vào tháng 8, và mất Sa Đéc vào tháng 9 năm 1784.  Phò mã Trương Văn Đa và đô đốc Đặng Văn Bảo phải rút về Măng Thít cố thủ.

      Cuối tháng 10, khi những cơn mưa giảm dần, Châu Văn Tiếp nhận lịnh tấn công căn cứ Tây Sơn ở Măng Thít. Đây là điều lặp lại của 85 năm trước, nhưng khác đối thủ. Năm 1699 quân Chân Lạp dùng rạch Măng Thít để tấn công Châu Doanh của Trần Thượng Xuyên thuộc binh triều Nguyễn. Nay binh triều Nguyễn tấn công Tây Sơn trên con rạch ngày xưa, nhưng nay đã là một dòng sông. Trên doanh trại tân lập chằng chịt sông nước, cuộc chiến không hề nhỏ. Trương Văn Đa được chân truyền cả văn lẫn võ của người cha Trương Văn Hiến, nên đủ mưu lược để bày binh bố trận. Đô đốc Đặng Xuân Bảo đã từng được Nguyễn Huệ coi như huynh đệ nhờ khí phách và tài năng. Liệu hai Tây Sơn nầy có chống trả nổi một đoàn quân lạ từ Vọng Các, và một Châu Văn Tiếp đã nổi tiếng ở Tà Lương và biển cả Phú Yên?

      Nhờ viện binh Xiêm, quân Nguyễn áp đảo Tây Sơn. Họ chiếm hết Vũng Liêm, và đang tiến qua sông Măng Thít. Quyết không để doanh trại bị phá hủy, Trương Văn Đa và Đặng Xuân Bảo dùng thủy quân kịch chiến với Tiếp. Dù Đặng Xuân Bảo vẫn linh hoạt với cây đại đao, nhưng không thể nào phá thế thượng phong của họ Châu. Thuyền chòng chành, nhưng Châu Văn Tiếp luôn luôn chiếm ưu thế vì quân số đôi bên quá chênh lệch. Lừa lúc họ Đặng muốn thoát áp lực để đổi thế trận, lưỡi kiếm Châu Văn Tiếp đã rạch một đường trên vai vị tướng Tây Sơn nầy. Tưởng Tây Sơn lâm nguy, nhưng điều bất ngờ xảy ra. Trương Văn Đa vừa thắng chiêu Sương một đường gươm, đã kịp thời tiến về giúp Đặng Xuân Bảo. Cả hai như quên hết những thương tích bên mình, họ dồn hết sức bình sinh vào kẻ thù trước mặt. Với hai đường vừa đao vừa kiếm chân truyền của hai tướng Tây Sơn trẻ, tình thế đã lật ngược. Châu Văn Tiếp gục ngã trên thuyền chỉ còn kịp thốt lên “Trời chưa muốn dẹp giặc Tây Sơn sao?”

      Diệt được Châu Văn Tiếp, Tây Sơn lấy lại tinh thần. Họ truy đuổi thuyền binh của chiêu Sương, trong lúc chiêu Tăng và Lê Văn Quân ở hai chiến trường khác. Nguyễn Ánh không dám xua quân tiến lên. Ông rút quân về Vũng Liêm, và đưa Lê Văn Quân lên làm khâm sai tổng nhung thay thế Châu Văn Tiếp. Đó là một ngày đầu tháng 11 năm 1784. Lúc nầy một số kẻ thất lạc ở trận Đồng Tuyên tìm về được, trong đó có Lê Văn Duyệt. Tuy Duyệt không bình thường về cơ thể, nhưng là người có khả năng về binh bị. Duyệt giúp tổng nhung Lê Văn Quân tiến mạnh về hướng bắc. Họ tiến chiếm Trà Tân và  Ba Lai ở đầu nhánh Hàm Luông. Cùng lúc ấy Nguyễn Văn Thành cũng tìm đến sau một thời gian thất lạc. Ông Thành lấy uy tín của mình trong hàng ngũ Đông Sơn xưa, chiêu dụ những huynh đệ ly khai sau vụ Nguyễn Bảng và Võ Nhàn. Cũng không ít Đông Sơn cũ trở về phò Nguyễn trong lúc nầy. Nhìn chung, người ta có cảm tưởng như Nguyễn Ánh lấy lại uy thế sau khi thất bại trận Măng Thít, nhưng vị vương tử nầy laị gặp một trở ngại khác. Ở Trà Tân, nay đã là tổng hành dinh liên quân, ông mất đi gạch nối với hai tướng quân Xiêm La. Chiêu Tăng và chiêu Sương trên nguyên tắc dưới quyền Nguyễn vương, nhưng chỉ trọng Châu Văn Tiếp. Tiếp nói được tiếng Xiêm, nên đã giải quyết được những bất hòa để trở nên thân thiện. Bên cạnh đó, Tiếp là một hãn tướng nên uy oai của ông cũng làm binh tướng Xiêm La nể vì. Mất ông, chiêu Sương và chiêu Tăng tự ý xuất quân, và thả lỏng cho binh lính nhiễu loạn dân chúng. Những ngày bắt đầu mùa khô năm 1784, quân Xiêm cướp của và cưỡng hiếp phụ nữ, mà không kiêng gì ông “chiêu Nam Cốc” họ Nguyễn.

      Sự hung hãn của quân Xiêm làm Nguyễn Ánh bực dọc chịu đựng, nhưng như một mồi lửa chích lên ý niệm dân tộc của triều đình Qui Nhơn. Đầu tháng 12 năm giáp thìn rơi vào giữa tháng 1 năm 1785, Qui Nhơn gởi viện binh. Vua Thái Đức phái Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ mang 2 vạn binh đến Sài Gòn. Tuy gọi là viện binh cho lưu thủ Trương Văn Đa, nhưng đây mới là lực lượng chính. Nó là lần chinh nam thứ sáu. Lần nầy có Đặng Văn Trấn và Phạm Văn Tham làm tham tán. Nguyễn Huệ được phò mã Trương Văn Đa báo cáo tình hình da beo ở khắp nơi. Theo thường lệ, vị Long Nhương tướng quân sẽ đánh thẳng vào hành dinh đầu não Trà Tân, nhưng lần nầy không phải như thế. Địa thế Trà Tân nằm trên một đảo dài (mà về sau có tên xã Ngũ Hiệp) bên bờ nam sông Tiền rất khó tiến đánh. Nó không những thuận tiện cho phòng thủ, mà quân số Xiêm – Nguyễn ở đây rất đông. Điều nầy khiến Nguyễn Huệ thay đổi kế hoạch. Nhử địch ra ngoài để tiêu diệt là chiến thuật được đặt ra.

      Ông dựng một đồn quân nhỏ tại Mỹ Tho làm miếng mồi cho quân Xiêm. Nhìn nó như là nơi cư trú của một gia đình nai hoang trước miệng cọp. Đồn chỉ cách Trà Tân chừng vài chục cây số. Từ Trà Tân, dọc theo sông Tiền là con đường xuôi đông rất thuận tiện cho một cuộc tấn công. Nguyễn Huệ không nghi ngờ gì về một cuộc “làm cỏ Mỹ Tho” của quân Xiêm sẽ xảy ra bằng nhiều nguồn tin, trong đó có nguồn tin của hàng tướng Lê Xuân Giác. Để chuẩn bị cho một cuộc phục kích, Long Nhương tướng quân đã dấu quân hai bên bờ sông Tiền. Bờ bắc từ cửa chi lưu Rạch Gầm (Sầm Giang) đến cửa rạch Xoài Mút (Xuy Miệt). Bờ nam, ở cù lao Thới Sơn và cồn Rồng.

      Thời gian chờ đợi không lâu. Chỉ sau ít lần đuổi quân Tây Sơn đánh phá Trà Tân, quân Xiêm quyết tràn qua Mỹ Tho để thực hiện cuộc chinh phạt. Đó là một ngày trung tuần tháp chạp năm giáp thìn, rơi vào cuối tháng 1 năm 1785. Trời chưa sáng. Người ta chuẩn bị cho tết ất tỵ bằng một trận đánh. Gần ba vạn quân trên 300 chiến thuyền, quân Xiêm đã ồ ạt xuôi đông. Cánh tiên phong đã qua khỏi cửa Xoài Mút, mà cánh quân tập hậu còn ở cửa Rạch Gầm. Chúng đang nằm trong tầm ngắm của bộ chỉ huy Tây Sơn. Giờ tấn công đã đến. Pháo lệnh từ bộ chỉ huy vừa bắn ra, thì hàng trăm trái kích pháo đã nhắm đúng mục tiêu quân Xiêm ở giữa dòng. Đạn ầm ầm vang ra từ bờ nam sông Tiền dọc theo Thới Sơn và các đảo nhỏ. Đoàn quân Xiêm lập tức xáo động. Ngay từ phút đầu số tử thương đã lên tới hàng ngàn người. Họ cố gắng bắn trả lại vào những mục tiêu không chuẩn xác trên bờ nam. Đạn pháo hai bên chỉ thế rồi thôi. Loại vũ khí hạn chế nầy phải nhường chỗ cho một trận chiến giáo gươm cổ điển.

      Quân Tây Sơn ồ ạt từ Rạch Gầm và Xoài Mút đổ ra sông Tiền. Khó để nói quân số bên nào nhiều hơn, nhưng Tây Sơn chủ động chiến trường. Nhờ yếu tố bất ngờ và không gánh lấy phần thương tích vừa rồi, Tây Sơn thắng trên từng cánh quân. Máu loang cả mặt sông khi trời hừng sáng. Lúc nầy người ta mới thấy rõ liên quân Xiêm – Nguyễn quá rời rạc. Số lính Xiêm tăng phái cho Khâm sai tổng nhung Lê Văn Quân không hề nghe lệnh ông. Họ chèo thuyền về những cánh quân đồng ngôn ngữ, thành một đám quân vô tổ chức. Những đội quân Nguyễn trực tiếp tham chiến bị chìm trong đoàn quân Xiêm đông đảo hơn nhiều lần. Tương tự như thế, số quân Chân Lạp cũng không sẵn sàng chết cho chiêu Thùy Biện. Ông Biện được hiểu là phản bội dân tộc Chân Lạp không hơn không kém. Riêng quân thuần Xiêm khiếp đảm lối đánh ồ ạt của Tây Sơn. Chiến trận kéo qua từng giờ theo từng nhóm quân. Giữa dòng Tiền Giang mênh mông, Tây Sơn đánh bạt từng đội quân Xiêm về từng mỗi lối. Tuy thế, thống quân chiêu Tăng không phải là một tướng tồi. Ông ta cố liên kết những cánh quân rời rạc, và tận dụng những trái đạn pháo còn sót lại.  Điều nầy không giúp cho quân Xiêm vựt dậy, nó chỉ giúp cho sự kháng cự của họ kéo dài thêm từng giờ thoi thóp. Khi mặt trời dịu xuống, quân Xiêm chỉ còn lại những đám tàn quân heo hút.

      Dù quân Nguyễn ít tổn thất hơn quân Xiêm, nhưng đây là thất bại rất lớn của Nguyễn Ánh. Thật vậy. Ở Trà Tân chờ tin vui, ông sững sờ khi hay tin thất bại. Tin tức bại vong ở Rạch Gầm càng lúc càng rõ đưa về bộ tổng chỉ huy. Theo đó liên quân Xiêm – Nguyễn tử vong lên đến gần hai vạn người, trong đó có cai cơ Nguyễn Văn Oai. Những chiêu Tăng, chiêu Sương, chiêu Thùy Biện, Lê Văn Quân, Nguyễn Văn Thành, Tôn Thất Hội… đều thất lạc. Đây là một tin dữ. Số quân Xiêm trú phòng ở đảo dài không đợi lịnh của Ánh đã bỏ đảo hàng loạt. Sợ Tây Sơn thừa thắng tấn công, Ánh cũng vội vã ra đi. Cuộc đời bôn tẩu của vị hậu duệ nhà Nguyễn Gia Miêu lại nối dài. Lần nầy chỉ còn lại khoảng vài trăm người trong đó có Trần Phước Giai, Lê Văn Duyệt… Duyệt chỉ thuộc đường ở vùng sông nước Tiền Giang, nhưng là người can trường kể cả liều lĩnh. Ông dẫn Ánh vượt những xóm làng heo hút về miền nam. Họ đến bờ bắc dòng Cổ Chiên thì trời đã cuối chiều. Mọi người mệt lả giữa quang cảnh hoang sơ. Đây là lần di tản như lần từ Đồng Tuyên trở lại Ba Giồng lần trước. Lúc ấy có con trâu và con cá sấu cõng qua dòng Đăng Giang nhỏ hẹp, nhưng bây giờ vắng tanh trước mênh mang của đôi bờ Cổ Chiên. Ước vọng thúc bách phải qua bên kia sông, nhưng không tìm thấy một con đò. Tiếng ếch nhái kêu hoang bên tiếng sóng thì thầm làm lòng Nguyễn vương chùng xuống. Theo những sợi nắng mỏng manh, Ánh thẩn thờ đưa mắt về bên kia bờ. Con đường phục quốc sẽ về đâu khi mọi thứ đều ngăn sông cách trở!

      Trời tối dần. Không những Ánh lo sợ, mà người dẫn đường Lê Văn Duyệt cũng hoảng hốt. Chàng thanh niên 21 tuổi họ Lê đã biết mình đưa vị vương thượng đi sai đường. Phải quay trở lại, nhưng lối trở về thì rừng nước chông chênh và quá xa. Giữa lúc thất vọng ấy, thì họ thấy một ánh đèn ở thật xa. Đó là cơ duyên để Trương Tấn Bửu gặp được vương thượng Nguyễn Ánh. Bửu vốn là một nông dân, nhưng giàu tính khai phá. Ông ở tận bên nhánh Hàm Luông, và qua vùng hoang sơ Cổ Chiên để lập nghiệp.  Qua những đò ngang đò dọc hôm sau, Trương Tấn Bửu đã đưa vương Ánh về tới Trấn Giang, nơi tham tướng Mạc Tử Sanh vừa tạo được những đội binh tân lập. Tuy nhiên, giống như chúa Thuần chạy nạn tám năm về trước, Trấn Giang vẫn không yên. Tin cho biết Tây Sơn Nguyễn Văn Trấn đã dẫn quân truy đuổi. Điều nầy buộc Nguyễn Ánh phải chạy về Hà Tiên, dù ở đó bọn cướp biển và nhóm Hòa Nghĩa quân còn lại đương phá rối. Trong lúc thê thảm giữa những ngày đầu năm năm 1785 như thế, Ánh lại nghe tin đứa con Nguyễn Phúc Cảnh vẫn chưa tới Pháp quốc vì có những bất ổn ở quốc gia nầy (ảnh hưởng của thời tiền cách mạng Pháp 1789). Giám mục Bá Đa Lộc phải giữ hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh tại Pondichéry, thuộc địa của Pháp bên bờ Nam Ấn. Nỗi chông chênh chồng lên nỗi buồn, Ánh cùng đoàn tòng vong ra khơi đến Thổ Châu. Không biết trong mùa xuân năm 1785 nầy, vị hậu duệ của các tiên triều chúa Nguyễn nghĩ gì giữa trời nước mênh mông hải đảo.

      Ánh chưa kịp toan tính, Thổ Châu bị Tây Sơn tấn công. Đã quen với nhiều lần di tản, Ánh chạy được đến Cổ Cốt. Tại hòn đảo đã một lần cứu thoát Ánh trước đây, Ánh gặp may mắn một lần nữa. Ánh được một cai cơ tên Trung, chạy qua Xiêm trước đó hay tin. Ông Trung vốn là cậu của Châu Văn Tiếp, và nói được tiếng Xiêm. Ông nầy rước Ánh về Vọng Các, và không khó để Ánh gặp lại Xiêm vương Rama đệ nhất. Nếu lần trước còn bàn về vấn đề tăng viện và phục quốc, thì lần nầy chỉ nói đến nương náu ở đất người. Vua Rama I bằng lòng cấp đất Long Kỳ (Đồng Khoai), ở phía nam Vọng Các cho Ánh và thuộc hạ đi theo. Họ là những Tôn Thất Huy, Tôn Thất Hội, Trương Phước Dĩnh, Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Văn Thành, Tô Văn Đoài, Lê Văn Duyệt, Trần Phước Giai, Nguyễn Đức Xuyên…và một số khác. Ở Đồng Khoai họ phải tự túc canh tác, và không ai biết nơi nầy có giúp được gì cho cuộc đời trôi nổi của vị vương tử họ Nguyễn hay không. Điều đó không làm bận lòng vị vua khai sáng triều Tây Sơn. Dù biết Ánh còn tồn tại ở đất Xiêm, nhưng vua Thái Đức rút Nguyễn Huệ trở về.  Lần nầy, Gia Định được giao cho đô úy Đặng Văn Trấn và tham đốc Trần Tú trấn giữ.

Về Phú Quốc tạ ơn trời đất
Khấn tổ tiên phò hộ phục hưng
Tay đưa ra với chừng gang tấc
Mà những cầu mong đến mấy từng

Rõ hiểu được mỏng manh thân phận
Cầu nhà ai ở tận phương tây
Qua người giáo sĩ Adran ấy
Gởi đứa con thơ giữa độ nầy

Đây là tín, là thư, là hoàng tử
Gởi Louis vua Pháp tỏ tường
Người đi vạn dặm mong manh lắm
Kẻ ở quê nhà rỏ nhớ thương

Xót người vợ đáu đau lòng mẹ
Ngẫm con thơ số phận ấu tằm
Tơ kia khó kéo thành vuông lụa
Nửa dật vàng y hẹn trăm năm

Rồi một sớm dặm ngàn biển sóng
Thuyền ra khơi mơ những nước non
Khéo chi mà đến Ma Li lạ
Bình Thuận gieo neo giá sống còn

Trời biển rộng sao thân nhỏ quá
Bảy ngày đêm lạc lối quay về
Lời nguyền trên biển chưa từng chắc
Nước ngọt bồng lên giấc thiêng mê

Về Phú Quốc mùa thu qúy mão (1783)
Vừa thu phân lại có tin mừng
Tân Châu lấy lại bờ sông trước
Tinh Phụ chiếm đồn bãi sau lưng

Đất Gia Định như bừng trở giấc
Xuân nhâm thìn Ánh đến Xiêm La (1784)
Vốn từ Châu Tiếp ai cầu trước
Hò hẹn mang quân trở lại nhà

Hạ nhâm thìn quân chia hai ngả (1784)
Một Nam vang một ngả Long Xuyên
Sông Khoa chắc nhớ ngày năm trước
Chú sấu bò lên cản mạn thuyền!

Long Xuyên bỏ ngỏ Hà Tiên bỏ
Đất những ngày xưa Mạc Cửu đâu
Trên từng sông rạch Tây Sơn rút
Thênh thang quân Nguyễn trả cơ cầu

Mạc Tử Sanh trở thành tham tướng
Hồn ông cha còn lại chút nầy
Bên kia sông Hậu về Vĩnh Trấn
Tây Sơn từng bước chịu vòng vây

Nầy Vũng Liêm, Trà Ôn, Sa Đéc
Kia Trấn Di, Ba Thắc không còn
Bên dòng Mân Thít thu binh lại
Tây Sơn khó giữ dải nước non

Dòng sông cũ trăm năm thuở trước
Nguyễn thắng Chân nay thắng Tây Sơn
Trương Đa, Đặng Bảo đành thất thế
Quân ít gươm đao cũng tủi hờn

Ơn trời đất không riêng cho Nguyễn
Tướng Tây Sơn cũng có phận nhờ
Hai chàng kiếm sĩ người Tuy Viễn
Khép lại Tà Lương đến ngẩn ngơ

Nguyễn phục quốc không còn Châu Tiếp
Lê Văn Quân quyền soái tổng nhung
Duyên trời chưa phụ vương triều Nguyễn
Thất tán Đồng Tuyên đã về cùng

Lê Văn Duyệt được sung binh bị
Nguyễn Văn Thành chiêu tập đệ huynh
Đông về chiếm được Trà Tân đảo
Chưa kịp sang xuân lộ bất bình

Vốn binh sĩ nhà Xiêm ỷ thế
Cả không kiêng vương Nguyễn tổng Lê
Hai chiêu Xiêm tướng hùa theo lính
Lê dân tang tóc những tứ bề

Tin vang dội đưa về Tuy Viễn
Nguyễn Tây Sơn thần tốc xuất chinh
Bao ngàn quân lính về Bến Nghé
Ngắm đến binh Xiêm dõi tình hình

Đâu Xoài Mút – Rạch Gầm phục kích
Đâu Trà Tân địch cất quân đi
Tây Sơn hải chiến liên Xiêm – Nguyễn
Sóng dậy Tiền Giang tiết đông thì

Xuân ất tị chưa về Trấn Định (1785)
Nước sông Tiền đã chảy mùa khô
Nước trong thấy được bao ngàn kiếm
Chìm xuống nghiêng nghiêng lịm ba đào

Đường lưu lạc lao đao thêm nữa
Nguyễn Ánh vương vội vã ra đi
Xuân về không có giờ trừ tịch
Rong duỗi sang Xiêm ngụ Long Kỳ

Nguyễn vương Ánh ra đi Xiêm quốc
Đường lưu vong mấy đỗi lê thê
Trời nam Gia Định giao Đặng Trấn
Tây Sơn Nguyễn Huệ kéo binh về

<<  |  >>