Skip to content

Chương 31

TÂY SƠN ĐÁNH GIA ĐỊNH LẦN THỨ TƯ

      Tết quý mão vừa trôi qua. Mùa xuân đang đến, nhưng hy vọng chuyển thời cơ của vương Ánh không tròn. Gia Định bị tấn công. Đầu tháng hai năm qúy mão, rơi vào giữa tháng 3 năm 1783, Tây Sơn đã cập cửa Cần Giờ. Lần nầy vua Thái Đức giao cho Nguyễn Huệ tổng chỉ huy, nhưng có Nguyễn Lữ đi kèm. Mục đích của vua anh Nguyễn Nhạc vẫn là đánh rồi rút về. Do vậy, Lữ đi theo để giữ chân đứa em bất kham nầy. Năm ngàn tinh binh với các tướng Trương Văn Đa, Đặng Văn Bảo, Lê Văn Kế, Phan Tiến Thận là binh tướng chinh nam lần thứ năm nầy. Chống lại Tây Sơn lần nầy do Lương Sơn tá quốc Châu Văn Tiếp đảm trách. Tiếp khả năng cường tập của Huệ, nên chỉ muốn lấy nhu thắng cương. Suốt từ Cần Giờ, qua Thất Kỳ giang đến Lòng Tảo, Phước Bình, Tân Bình giang đều có quân phục kích. Cả trăm thuyền chiến, nhưng cứ đánh giả vờ để lừa Tây Sơn vào các ổ phục kích. Họ Châu muốn cắt đoàn thuyền Tây Sơn ra từng đoạn. Nguyễn Huệ biết điều nầy, nên những tụ điểm ẩn núp của Tiếp chỉ làm mồi cho những tay Tây Sơn gan dạ. Khi Tây Sơn vào sâu trong song Tân Bình thì Châu Văn Tiếp đang ở Nhà Bè và quyết định đánh bọc hậu. Cơ hội thành công rất lớn, nhưng họ Châu lại thất bại. Nguyễn Huệ không đánh trả mà chỉ dung lực lượng nhỏ để cản lại. Phi đao Đặng Văn Bảo đảm trách công việc nầy. Đại quân còn lại tấn công về hướng Bến Nghé. Đồn Thảo Câu của Dương Công Trừng và đồn Giác Ngư của Nguyễn Phúc Mẫn bị áp lực chưa từng có. Khi Châu Văn Tiếp gần bứt được họ Đặng, thì Nguyễn Huệ đã giải quyết xong chiến trường phía trong. Dương Công Trừng bị bắt, vả Nguyễn Phúc Mẫn bị lật thuyền chìm chết. Châu Văn Tiếp đã chậm hơn Nguyễn Huệ một bước. Khi Tây Sơn dùng toàn lực phản công Nhà Bè, Tiếp chỉ có đường duy nhất là chạy ra biển. Tin nầy bay về Bến Nghé, làm Nguyễn Ánh vội vàng rút chạy.

     Dĩ nhiên là Tây Sơn đuổi theo và cuộc rượt đuổi nầy rút dần khoảng cách, đến nỗi vị vương thượng họ Nguyễn đã lạc mất cung quyến. Ông kéo quân về Ba Giồng, và đi xa hơn về hướng tây. Quân số còn lại chưa tới 100 người gồm cả những bộ tướng thân cận. Tháng 4 năm qúy mão nầy, ông đến Đồng Tuyên* (đnntc/tập 5/103, 105, 110, 113, bảo Tuyên uy/ mộc hóa có tuyên nhơn, tuyên bình, tuyên thạnh). miền tây của dinh Trấn Định. Đó là vùng sình lầy do nguồn sông Bát Chiên (thượng nguồn của vàm cỏ tây) đổ về.  Chính địa thế khó khăn đã làm cho quân Nguyễn không xoay xở kịp, khi Tây Sơn tràn tới. Nguyễn Ánh đã nâng con số tướng lãnh bị chết lên hàng cao nhất kể từ ban đầu. Binh bộ Minh, hữu chi Nguyễn Văn Qúy, chưởng quân Nguyễn Đình Thuyên, tham mưu Trần Đại Huề, phò mã Trương Phước Nhạc đều bị chết. Đó là chưa kể tham tri Hộ bộ Hồ Đồng, tiền quân Huỳnh Tường Đức, và viên quan hầu cận mới tuyển Lê Văn Duyệt bị Tây Sơn bắt đi.

      Sau trận Đồng Tuyên, Nguyễn Ánh chỉ còn các thuộc hạ Tôn Thất Dụ, Nguyễn Kim Phẩm, đi theo. Họ tập hợp được mười mấy người nữa chạy về sông Đăng, khi Tây Sơn đuổi theo phía sau. Nếu lội qua bên kia bờ sẽ tìm về lại Ba Giồng, nhưng nước sông chảy xiết và không có thuyền bè gì. Trong cơn nguy khốn ấy – sử nhà Nguyễn nói – có một con trâu đưa vương Ánh và những tùy tùng qua sông. Đến bờ bên kia, trâu đuối sức vì lớp phù sa dày đặt. Trong lúc con trâu chìm mất, thì được những con cá sấu đưa tất cả lên bờ. Họ đến Ba Giồng, và hay một tin rất tốt: Tống Phước Khuông và Tôn Thất Cốc đã hộ giá được cung quyến vương gia đến Mỹ Tho. Tại vùng biệt nạp cũ nhiều người Tàu nầy, Nguyễn Ánh cũng gặp được cánh quân Hòa Nghĩa của Trần Đỉnh còn sót lại. Đỉnh rất hận Tây Sơn, nhưng không chịu phục Ánh khi Ánh trên đà thất thế. Khi được phân bổ đứng dưới trướng Tôn Thất Cốc, Đỉnh sinh kiêu ngạo. Đỉnh không về Cần Giờ để thám thính như lệnh được ban ra. Trong cách điều quân, bất tuân của thuộc hạ là tối kỵ, nên Ánh sai Cốc giết Đỉnh. Đỉnh chết, lại xảy ra một tai hại khác. Trần Hưng và Lâm Húc, huynh đệ của Trần Đỉnh, quyết định ly khai. Họ dẫn Hòa Nghĩa quân ra đi. Dù Hòa Nghĩa quân là lực lượng nhỏ, nhưng trở thành mối họa lớn trong lúc nầy. Làm sao biết họ không bắt tay với Tây Sơn đang có mặt khắp nơi? Trước tình thế bất ổn như vậy, vương Ánh quyết định bỏ đất liền. Từ Mỹ Tho, đoàn tòng vong tìm cách ra khơi một lần nữa. Họ may mắn đến hòn Khoai an toàn trước khi đến Phú Quốc.

      Lần ra đi nầy có cả cung quyến, nên Phú Quốc cần phải được bảo vệ nhiều hơn. Cái ăn vẫn là điều bức bách trước mắt, mà lương thực mang theo chỉ giới hạn. Ánh sai Nguyễn Kim Phẩm và trưởng công chúa Ngọc Đảo về Hà Tiên để dò la và tìm nguồn thực phẩm. ( Ngọc Đảo là con của chúa Nguyễn Phúc Khoát, và là vợ của cai cơ Trương Phúc Nhạc vừa tử trận. Nhạc hầu như không được nhắc tới trong cuộc phục hưng vì là con trai của quốc phó Trương Phúc Loan. Ông đã từng bị bắt với cha mình, nhưng nhờ công chúa Ngọc Đảo nên chúa Thuần tha tội). Bà Ngọc Đảo ở Hà Tiên khó khăn đi tìm những người quen, nhưng kẻ không tầm cầu lại dễ dàng gặp được.  Ngọc Đảo gặp bọn Trần Hưng – Lâm Húc ở đây. Mối thù mới toanh dành cho Nguyễn Ánh lại đổ trên vai người cô ruột góa phụ của Ánh. Công chúa Ngọc Đảo bị hành hạ đến chết. Nó kéo theo số phận tương tự của Nguyễn Kim Phẩm.

      Cuộc thọ nạn của công chúa Ngọc Đảo gián tiếp giúp Tây Sơn biết được chính xác tình hình và chỗ ở của Nguyễn Ánh. Giống như hòn Khói của Bình khang, hòn Điệp Thạch (Đá Chồng) không tách rời Phú Quốc. Nó nằm phía đông bắc của đảo mà Nguyễn Ánh đã chọn làm nơi trú ẩn cho gần 2 trăm người. Họ được một chỉ huy người Xiêm ly khai với chính quốc giúp đỡ. Ông nầy tên Vinh Li Ma đã nghe tiếng về vị hậu duệ nhà Nguyễn, và chịu thần phục. Đám tàn binh của Li Ma chỉ còn lại chừng khoảng năm bảy chục người, nhưng quen vùng biển đảo Xiêm – Chân, nên cũng đỡ đần cho Ánh trong những lúc ngặt nghèo nầy.

      Tình hình như thế tạo cho Tây Sơn không cần phải mò tìm trong đất liền. Nguyễn Huệ quyết định tấn công vào sào huyệt cuối cùng nầy. Phan Tiến Thận được cử làm tổng binh đưa quân vượt biển. Họ đi từ Krong Kampot Chân Lạp tiến đến bắc đảo, và xuôi thuyền dọc theo bờ đông tới Điệp Thạch.  Họ không cần tránh ánh mắt canh phòng của Nguyễn Ánh. Quân số đông hơn đến 10 lần, trên một ngàn quân Tây Sơn tham chiến. Đó là một ngày giữa tháng 6 năm 1783, mà quân Nguyễn Ánh phải xuống thuyền chiến đấu. Họ không thể thụt lùi về phía trong. Rừng nguyên sinh dày đặc, và Tống Phước Khuông đang dẫn đàn bà và trẻ con đi trốn ở đó.  Ngoài số người hộ vệ cung quyến trong rừng, quân số còn lại quá ít trong cuộc tranh thắng nầy. Con đường tử vong đang chực chờ binh triều Nguyễn. Khi những tiếng hô áp đảo của quân Tây Sơn tiến vào vùng nước cạn, thì mặt biển rõ dần. Đích thân vương thượng Nguyễn Ánh chỉ huy cuộc chống trả. Chỉ nửa canh giờ đã rõ thắng thua. Cái chết không thể nào tránh khỏi dành cho vị vương thượng đang vận nhung phục dính đầy máu. Ông gục ngã giữa những lưỡi kiếm Tây Sơn như một con nai giữa đàn hổ. Tiếp theo ông, từng người, từng người chết theo hoặc bị bắt. Nguyễn Phúc Thiền, Tôn Thất Cốc, chưởng cơ Hoảng, tướng Li Ma đều phải chịu trói. Số phận của những thuộc tướng nầy đã rõ. Trừ Li Ma, các tướng khác đều chửi bới Tây Sơn để chịu chết. Không còn ai chống lại, nhưng một điều mà thống suất Phan Tiến Thận không ngờ lại xảy ra. Người mặc nhung bào mà Tây Sơn giết chết không phải là Nguyễn Ánh. Cai cơ Lê Phước Điển đã làm một Lê Lai ở góc biển Đá Chồng.

      Khi chiến trận xảy ra ở mặt bắc thì mặt nam Phú Quốc, vương Ánh đã ra khơi. Ông được những chiến binh thạo biển hộ giá ra đi. Thuyền vòng qua hòn Thơm, và chạy theo hướng tây bắc. Họ sẽ đến đảo Koh Rong (Cổ Long)* (đntlục nói đến Côn Sơn) bên bờ vịnh Chhak Kampong Som của Chân Lạp. Đoàn tòng vong đặc biệt nầy chỉ 20 người do chiến tướng thuỷ quân Võ Di Nguy điều khiển. Thuyền bơi nhanh, và vương Ánh cũng là một tay chèo. Lúc trời chạng vạng và  Phú Quốc chỉ còn là một chấm nhỏ, người ta mới yên tâm. Thuyền đi suốt đêm. Trời sáng. Bình minh rạng rỡ màu hồng trên biển, nhưng  Nguyễn Ánh buồn rười rượi. Ánh không biết Lê Phước Điển đã chết như thế nào. Người anh rể trung thành nầy đã hi sinh, nhưng những binh tướng còn lại đã ra sao? Họ có thoát được không? Một chút xấu hổ nào đó len trong lòng, nhưng Nguyễn Ánh tự an ủi mình: Dòng Nguyễn vương gia phải được kế tục. Ánh miên man trong những ý nghĩ rời rạc nào nước, nào nhà, nào binh tướng, nào thân thuộc, và chợt thương cho đứa em gái và người chị ruột đã sớm thành góa phụ. Ngọc Tuyền đã lạc Nguyễn Hữu Thụy khi chạy về Giang Lăng từ tháng 4 năm ngoái. Khi Thụy chết ở Chân Lạp tháng 3 vừa rồi, chắc rằng Ngọc Tuyền cũng không hay, và chính số phận của Tuyền thế nào Ánh cũng không rõ.  Riêng chị Ngọc Tú thì sau trận Đồng Tuyên đã lạc mất, và chắc chị chưa biết chồng mình vừa mới hy sinh. Tuyền ở đâu, Tú ở đâu, và những Đồng, Mẫn, Thiền đều đã chết. Lòng Ánh chợt quặn lên một niềm đau ruột thịt.

      Thuyền đến Cổ Long lúc chiều tà. Một vài sợi nắng lọt qua rừng Kiri Sakor chảy xuống mặt biển. Chúng kéo dài thật xa như cố níu ban ngày ở lại. Cập đảo bình yên, Võ Di Nguy cho người đi nghe ngóng tin tức, nhưng cả mươi ngày sau họ mới biết tin. Theo đó, Tây Sơn không bức hại những người họ tìm thấy ở Phú Quốc, nhưng vợ của chưởng cơ Hoảng đã tự sát theo chồng. Đó cũng là lúc thống suất Tây Sơn Phan Tiến Thận bị phạt tội. Thống soái Nguyễn Huệ giáng chức Thận, và ra lịnh phò mã Trương Văn Đa tấn công Cổ Long để tìm cho được Nguyễn Ánh. Vị Long Nhương tướng quân tin tưởng người con trai trưởng của thầy mình. Đa không có cái nhìn cố chấp như cha, và mềm yếu như em gái. Đa mang hơn 300 binh sĩ từ Hương Úc xuống thuyền ( Hương Úc tức Krong Preah, đất mà vua Nặc Tôn trả ơn cho Mạc Thiên Tứ trong lần chiến thắng Nặc Non, và họ Mạc đã dâng lên chúa Nguyễn Phúc Khoát năm 1757). Với một lực lượng phủ đầu, Nguyễn Huệ tin rằng Đa sẽ mang về chiến thắng. Rất tiếc, kết quả lại không như Huệ mong đợi. Tây Sơn đổ bộ vào Cổ Long buộc Nguyễn Ánh lên thuyền chạy trốn. Trên 20 thuyền binh đuổi theo, nhưng bất thần cơn bão biển lại đến. Gió đông bắc ào ào thổi về tây. Sóng đập mạnh vào mạn thuyền làm tiếng vỡ gỗ quá nhỏ nhoi chìm trong tiếng sóng. Vừa mới thấy đó, thì một chiếc thuyền đã mất hẳn. Tương tự như thế, hầu như tất cả đoàn thuyền Tây Sơn đều lâm nạn. May mắn lắm, thuyền Trương Văn Đa mới qua cơn sóng gió. Đến ngày hôm sau, ông tìm đường vào Cổ Long. Lúc nầy mặt biển trống trơn một cách hải hùng. Mười chín thuyền binh Tây Sơn, và chiến thuyền của Nguyễn Ánh không còn bóng dáng.

      Nguyễn Ánh còn sống hay đã chết? Con người nầy đã thoát hiểm như là được sự che chở của thần linh. Giữa lúc thuyền Tây Sơn tan tác, thì thuyền Nguyễn Ánh bị hất tung lên rồi hạ xuống. Có lúc thuyền của họ chui qua hai con sóng ở trên không, rồi bị một cơn sóng thứ ba đẩy tạt về một hướng khác. Võ Di Nguy và tất cả thuyền binh trên tàu đều bất lực trước sức cuồng vũ của thiên nhiên, nhưng như có người dắt thuyền chạy đi.  Cứ thế, không biết bao lâu, họ thoát ra vùng xoáy. Khi mặt sóng dịu dần, thì cả cột buồm và chèo giầm đều mất hết. Thuyền trôi lênh đênh bên cạnh những mảnh ván bập bồng. Sự thoát hiểm màu nhiệm nầy đã đưa họ tấp vào đảo Cổ Cốt (Ko Kut). Nó nằm ở phía tây và không xa Cổ Long bao nhiêu, nhưng thuộc lãnh hải của Xiêm quốc.

      Điều phước báu đến với Nguyễn Ánh, dĩ nhiên Tây Sơn không biết. Trương Văn Đa và Nguyễn Huệ báo thực trạng chiến trận Phú Quốc – Cổ Long về Qui Nhơn. Vua Thái Đức rút Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ trở về. Chiến thắng ở Thảo Câu – Giác Ngư, Bến Nghé, Đồng Tuyên,  Đá Chồng và kết quả ở Cổ Long đủ để Nguyễn Nhạc tin rằng binh triều Nguyễn đã đại bại. Tháng 7 năm 1783, anh em Lữ – Huệ dẫn đại binh về Qui Nhơn. Lần nầy Tây Sơn không mang về thóc lúa, mà họ dẫn hai hàng tướng Hồ Đồng và Huỳnh Tường Đức đi theo.  Gia Định được giao cho phò mã Trương Văn Đa với chưởng tiền tướng quân Đặng Văn Bảo. Tin rút quân của Tây Sơn đã đến tai Nguyễn Ánh. Qủa là một tin vui, Ánh trở về Phú Quốc với lòng tin có sự che chở của thần linh.

 

Xuân qúy mão cờ bay ghềnh rái (1783)
Không Lương Sơn mà lại Tây Sơn
Mấy dòng sông nhỏ xuôi về biển
Có biết nơi nao cuộc tranh hờn

Sông Tân Bình từng cơn oằn oại
Những Giác Ngư – Vàm Cỏ xuôi đông
Tây Sơn xung kích trên từng tuyến
Lồng lộng đao thương vấy máu hồng

Không đủ sức Công Trừng bị bắt
Thuyền lật nghiêng Phúc Mẫn tử thương
Thảo Câu – Cá Dốc không còn nữa
Châu Tiếp đi đâu bỏ chiến trường

Tin như sét đưa về Bến Nghé
Con đường xưa lại tiếp bôn đào
Lạc đâu cung quyến mùa xuân ấy
Để đến Đồng Tuyên hạ lao đao (1783)

Trận chiến ngắn mà hồ tan rã
Trời chớm mưa mà Nguyễn héo người
Bao nhiêu sĩ tử Đồng Tuyên trận
Thì bấy nhiêu lần dấu hổ ngươi

Chưa chiến đấu mà đà bị bắt
Chưa vung gươm mà hóa oan hồn
Còn bao nhiêu lắm về sông Lật
Thân còn khó biết huống càn khôn

Tưởng hết lối nhưng đường lại mở
Bờ sông Đăng vương Nguyễn qua nàn
Con trâu huyền thoại chìm đâu mất
Chú sấu bao lần vẫn giỏi giang!

Đất Ba Giồng vội vàng trở lại
Kịp tin vui từ xứ Mỹ Tho
Có người hộ giá đoàn cung quyến
Họ ở bên kia một chuyến đò

Về Mỹ Tho nửa yên nửa động
Hòa Nghĩa quân Trần Đỉnh sinh lòng
Khinh Thất Cốc xem thường vương Ánh
Đỗ Thành Nhân lặp lại mạng vong

Lòng vương Ánh mấy trong mấy đục
Đến vô cùng cũng tự duyên sinh
Giá mà chinh chiến chưa từng có
Oán chẳng cùng ân vận lấy mình

Đỉnh Phú Quốc lung linh mây nước
Bóng tỷ phu mờ mịt non sông
Lê Lai cứu chúa chưa từng cũ
Lặp lại nơi đây bãi Đá Chồng

Lê Phước Điển không còn sống nữa
Mà Tây Sơn buổi ấy không hay
Ngỡ rằng Ánh chết thôi chinh chiến
Rửa kiếm lau cung vận hội này

Bỗng một sớm tin bay lại khác
Rừng Cổ Long, Nguyễn Ánh giữa trời
Một hòn biển đảo tây Chân Lạp
Thách thức ai người tiếp cuộc chơi

Mũi Hương Úc, Tây Sơn vội tới
Bãi Vũng Thơm quân tướng xuất chinh
Cổ Long sóng dậy chưa từng có
Ngọn gió tây nam đổi thình lình

Chuyển đông bắc cuồng phong cuồng nộ
Mùa chưa thu sao có bão đông
Đất trời vần vũ nghiêng mặt biển
Thuyền chiến mong manh tựa bọt bồng

Lòng tan vỡ như thuyền tan vỡ
Người ra tay trời cũng ra tay
Khi mà biển lặng im như nước
Người lạc đi đâu cuộc biển này

Chàng Nguyễn Ánh ơn may lần nữa
Cuộn phong ba mà tới đất Xiêm
Gió nào đưa đẩy đêm mùa hạ
Cổ Cốt nghiêng nghiêng bóng trăng liềm

Ánh thoát chết ân triêm trời đất
Chờ Tây Sơn trở lại Qui Nhơn
Gom bao tơi tả còn đâu đó
Mong tái trùng hưng trả nỗi hờn

<<  |  >>