Skip to content

Chương 30

TÂY SƠN ĐÁNH GIA ĐỊNH LẦN THỨ TƯ

      Phải bận bịu đến cả hai người vợ trẻ, nhưng vương Ánh đã kịp thời can thiệp đến những diễn biến xung quanh. Cuối tháng 10 năm 1781 vua Xiêm Taksin sai tướng Chao Phraya Chakri đi thôn tính Chân Lạp. Xứ bảo hộ nầy cần phải được bảo vệ, nên vương Ánh lập tức có phản ứng.  Khi quân Xiêm chưa tới thủ đô Oudong,  nhà vương đã sai chưởng cơ Nguyễn Hữu Thụy cùng cai cơ Hồ Văn Lân đã dẫn quân tiếp viện đến Lovek. Tại đây ông Thụy được biết tình hình diễn tiến phức tạp ở Xiêm La. Một cuộc đảo chính đương có mặt. Theo đó, anh em của tướng Phraya San ở thành Cổ Lạc (Korat), đông bắc Bangkok (Vọng Các) làm phản. Họ tiến quân về thủ đô Thonburi và bắt giam vua Taksin. Tin nầy quá lớn so với cuộc tiến chiếm Chân Lạp. Do vậy, tại Lovek có một cuộc giảng hòa giữa Chao Phraya Chakri và chưởng cơ Nguyễn Hữu Thụy.  Hai bên đều rút quân về, và quân Nguyễn vẫn giữ nguyên sự bảo hộ của mình ở Chân Lạp. Ông Thụy về bình an, nhưng Chakri về xứ đã đảo lộn trật tự nước Xiêm. Ông nầy vốn là chiến tướng trong chiến tranh Miến – Xiêm, và là người trực tiếp bình định 3 xứ Lào, nên có đủ cái nhìn của một kẻ bá nghiệp. Ông tiêu diệt quân phản loạn Phraya San, và xử tội luôn vua Taksin đang bị phe Phraya San giam giữ. Triều đại Chakri được thành lập, họ dời đô về Vọng Các và giữ thông hiếu với vương triều Nguyễn Ánh.  Mối hận Taksin giết sứ giả và cả nhà họ Mạc, vô tình đã được Chao Phraya Chakri trả giùm cho vương Ánh. Nó góp thêm nhân tố cho vị vương tử họ Nguyễn kết thân với vua Rama đệ nhất (Chao Phraya Chakri) của vương triều Chakri.

      Dù Gia Định thông hiếu trở lại với Xiêm La như thế, nhưng không là mối bận tâm của Tây Sơn. Họ chú ý đến cái chết của Đỗ Thành Nhân và sự tan rã của Đông Sơn nhiều hơn. Rõ ràng đây là sự sứt mẻ không nhỏ của Nguyễn Ánh, nên Tây Sơn tiến hành cuộc hành quân Gia Định vào tháng 3 năm 1782. Ba ngàn thủy bộ Tây Sơn cập bến Gềnh Rái, và đây là lần nam chinh thứ tư. Lần nầy đích thân nhà vua tổng chỉ huy với các thuộc tướng Nguyễn Huệ, Vũ Văn Nhậm và Phạm Ngạn. Dĩ nhiên là Nguyễn Ánh biết điều nầy, nên một cuộc chuẩn bị đối địch tại Thất Ki giang thành hình. Gọi là Thất Kì giang, vì nơi đây có nhiều con sông ngang dọc rất khó hình dung.  Nếu bắt đầu từ hạ nguồn sông Lòng Tàu, người ta thấy có 3 nhánh sông đổ về hướng biển Cần Giờ. Ba nhánh nầy có nhiều kênh rạch nối ngang qua 4 dòng sông khác, mà sông Thị Vãi là chính. Bốn dòng sông nầy từ hướng Đầm Nát – Vũng Gấm (Phước An) và núi Nữ Tăng cũng chảy về biển Cần Giờ. Hai nhóm sông nầy tạo thành rất nhiều nhánh sông chằng chịt nhau, tạo ra rất nhiều ngã ba và ngã tư mà không thể đặt tên được. Khi viết Gia Định Thành Thông Chí, cụ Cấn Trai Trịnh Hoài Đức đã viết đáng đặt tên là sông Hỗn Đồng chứ không chỉ là Thất Kì giang.

      Để có một sự phân biệt tương đối, người ta gọi 3 nhánh sông từ Lòng Tàu chẻ ra là Tam Kì giang, và 4 dòng sông từ Đầm Nát đổ xuống là Tứ Kì giang. Bảy dòng sông nầy có nhiều chỗ gặp nhau rồi tách ra, nhưng cuối cùng nhập lại làm hai nhánh  lớn đổ ra cửa Gềnh Rái.  Gềnh Rái thuận tiện cho việc đổ quân, và bảy con sông nầy là con đường tiến vào cả Trấn Biên và Phiên Trấn. Lần tiến quân nầy Tây Sơn chia làm 2 nhánh.

     Một: vua Thái Đức có hộ giá Phạm Ngạn và tiên phong Nguyễn Văn Kim đi theo. Họ tiến dọc theo Tứ Kí giang để tấn công bát trận thủy binh do thống lĩnh Nguyễn Hữu Thụy từ Trấn Biên đổ xuống. Một số lính trong đạo quân của tướng Thụy là lính Hòa Nghĩa hồi sinh. Đó là nhóm quân của cựu phó tướng Trần Chương mong muốn trả thù cho chánh tướng Lý Tài. Người họ nhắm tới là thủ lãnh Đông Sơn. Kế hoạch của họ chưa thành thì Đỗ Thành Nhân đã chết, nên họ dồn về Tây Sơn cũng là kẻ cựu thù. Do vậy họ dễ dàng chịu đứng dưới trướng phò mã Nguyễn Hữu Thụy với lòng hăng say tác chiến. Cả vùng sông nước Tứ Kỳ giang đều pha máu của Nguyễn và Tây Sơn. Chiến trận trên 4 dòng sông nầy mải miết giằng co. Tây Sơn thí quân không hề ít, nhưng đổi lại, họ giành chiến thắng. Vua Thái Đức đuổi được thống lĩnh Nguyễn Hữu Thuỵ chạy về Lộc Dã rồi về Giang Lăng. Số quân Nguyễn còn lại trên đường chạy nạn nầy cũng trở thành tan tác.

      Hai: Nguyễn Huệ điều động 5 ngàn quân tiến về Tam Kì giang có tiên phong Vũ Văn Nhậm dẫn đầu. Họ đối mặt thống lĩnh Tống Phước Thiêm, mà cai cơ Mạn Hòe đi tiên phong mới là lực lượng đáng sợ. Mạn Hoè (Mamuel) một quân nhân Pháp tình nguyện theo giáo sĩ Bá Đa Lộc trong niềm tin tôn giáo. Ông đi từ Ponchéry đến Phiên Trấn. Nếu không kể Joang đã giúp Ánh có được một số thủ pháo năm 1778, thì Mạn Hoè là quân nhân đầu tiên giúp vương triều Ánh. Lần nầy Mạn Hoè chỉ huy một tàu bọc sắt có trang bị súng điểu thương và thuốc nổ. Quân binh của ông ta là đạo quân Trung Khuông đứng trên tàu ném thủ pháo xuống những thuyền binh Tây Sơn liều lĩnh đến gần. Đoàn tinh binh nầy không kịp cập vào mạn thuyền của Mạn Hoè trước khi nghe những tiếng nổ ngay trên đầu mình. Đó là những chiến sĩ anh hùng hay là những kẻ bị đưa đến đầu súng, nói theo nghĩa nào đều đúng cả. Hàng trăm binh sĩ Tây Sơn đã thiệt mạng trong lối công phá nầy. Trong lúc sự yếu thế đang xảy ra, thì tướng Vũ Văn Nhậm đưa những toán khinh binh lội bộ trên những khu rừng ven sông. Họ không cần tiếp cận mà chỉ giữ khoảng cách bắn được hỏa pháo vào thuyền Mạn Hoè. Họ núp vào những thân cây và thành công như mong đợi. Thuyền của viên cai cơ người Pháp nầy bốc cháy sau hàng loạt trái hỏa pháo của cánh khinh binh Vũ Văn Nhậm. Kết quả tính toán nầy không hề bất ngờ, nên Nguyễn Huệ lập tức xua đại binh tiến về phía trước. Quân Nguyễn tan tác bên tiếng hô vang trời của quân Tây Sơn. Tất cả chiến thuyền Trung Khuông đều bỏ chạy, chỉ còn một lại một thuyền chỉ huy.  Hình ảnh Mạn Hòe xiêu vẹo giữa đám lửa màu khói đen là hình ảnh cuối cùng. Đó là một buổi chiều của tháng năm nhâm dần 1782.

      Cả bộ chỉ huy của tổng binh Tống Phước Thiêm ở đằng sau cũng chạy mất, và vua Thái Đức ra lệnh tiến binh trong đêm. Hơn ba mươi cây số đường sông không làm khó đoàn quân chiến thắng. Từ Thất Ki giang theo sông Lòng Tàu qua sông Phước Bình chỉ còn những chiến đấu lẻ tẻ. Tây Sơn đến ngã ba Tam Giang Nhà Bè lúc mặt trời vừa gác lên dãy rừng thấp phía đông. Bộ chỉ huy tiền phương do đích thân vương Ánh chỉ huy đã rút đi tự lúc nào. Vua Thái Đức ra lệnh theo dấu vết  trên bờ sông Tân Bình truy tìm địch quân. Họ đến Sài Gòn – Bến Nghé vào lúc mặt ở trên đỉnh đầu. Nơi đây đã bỏ ngỏ. Vương Ánh rút ra ngoài lũy Tân Hóa để Tống Phước Thiêm ở lại đoạn hậu. Số phận dường như có chút trớ trêu, Tống Phước Thiêm không chết trong trận Thất Kì giang mà chết lúc nầy. Ông cũng không chết vì Tây Sơn trong lúc đoạn hậu, mà chết vì quân Nguyễn. Những người gốc Đông Sơn dưới trướng đã giết chết họ Tống. Âu, đó cũng là cách rửa hờn huynh đệ.

      Nguyễn Ánh chạy mất, vua Thái Đức cho an định vùng mà Tây Sơn đã hai lần chiếm được. Lúc nầy nhà vua mới để ý đến thái độ của người Minh Hương, họ tỏ ra nửa sợ sệt nửa khinh bỉ đám binh lính của ông. Nhiều gian hàng đóng cửa khi nghe tin những người lính Qui Nhơn đi qua. Ra rằng trong lần “nhập khấu” thứ nhất và thứ hai trước đó, quân Tây Sơn đã nhắm vào những người giàu Minh Hương để cướp giựt. Lần nầy cũng thế. Tiếng kêu cứu bằng tiếng Tàu không đủ để đánh động lương tâm của những tên lính vô kỷ luật. Dù biết binh sĩ của mình tàn bạo, nhưng nhà vua không nghiêm trị đúng mức. Phải chăng do sự mềm yếu của nhà vua, hay ông  đang chú ý tìm cho ra Nguyễn Ánh đang trốn ở đâu.

      Trong lúc Tây Sơn truy tìm Nguyễn Ánh chạy về Trường Đồn, thì trấn thủ Bình Thuận Tôn Thất Dụ kéo quân vào Gia Định. Họ vào tới phía tây thủ phủ Bến Nghé mà các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp đều không hay. Đoàn cựu tinh binh Hòa Nghĩa của phó quân Trần Công Chương dưới trướng ông Du là mũi dùi chính. Khi trại binh Tây Sơn ở Tham Lương, phía ngoài lũy Tân Hóa, phát hiện thì đã quá trễ.  Trấn thủ ở đây là hộ giá Phạm Ngạn đã chết dưới tay vị cựu phó tướng Hòa Nghĩa nầy. Trại Tây Sơn ở Tham Lương tan rã, và hàng trăm binh binh sĩ bỏ thây tại chiến trường. Đổi lại tham tán của tướng Dụ là Hồ Công Siêu bị tử thương.

      Khả năng của đoàn binh Bình Thuận của tướng Du chỉ đến thế rồi thôi. Họ rút biệt dạng khi quân của vua Thái Đức từ Bến Nghé kéo đến. Trong chiến trường đầy máu lửa, thì chết một tướng quân và hàng trăm binh sĩ không phải là một thiệt hại lớn, nhưng một điều đáng tiếc lại xảy ra. Sau cái chết của hộ giá Phạm Ngạn, vua Thái Đức Nguyễn Nhạc đã lạm sát người Minh Hương quá đỗi. Dù bị khinh bỉ là quân ăn cướp, nhưng không nên đánh đổi một cuộc giết người hàng loạt. Từ những vụ cướp của bị nghiêm cấm, vua Thái Đức đổi chiều đến nỗi Nguyễn Huệ và Võ Văn Nhậm không cản được nhà vua. Ông thản nhiên để lính giết người Tàu lên tới hơn số ngàn. Phải chăng cái chết người hộ giá thân tín Phạm Ngạn là giọt nước tràn ly? Giọt nước nầy đã tràn ra sau khi biết bao nhiêu sôi động trong lòng ông. Ông nhớ lại tất cả, từ Tập Đình đã bỏ Tây Sơn ở Hội An, rồi Lý Tài đã phản bội ở Phú Yên. Lý Tài đã dựng lập Tân Chính vương để đối đầu với ông. Quân Hoà Nghĩa theo Nguyễn Ánh đã giết biết bao nhiêu quân Tây Sơn ở Thất Kì giang vừa rồi. Và, nhất là ngay tại Sài Gòn – Bến Nghé, ông gặp những ánh mắt khinh bỉ của người Minh Hương dành cho lính của ông.

      Cuộc lạm sát tháng 3 năm 1782, mà theo người ta nói là xác chết đã làm nghẽn cả một dòng sông. Hình ảnh ấy có thể được nhân thêm lên, nhưng người ta không dám ăn cá tôm dưới sông Sài Gòn là sự thật. Xác chết trôi lình bình. Nếu đem so với lần bị giết ở Đại Phố năm 1777,  thì lần này người Minh Hương chết nhiều hơn gấp bội. Đi đâu người ta cũng nghe nói sự dã man, vô tình thành cái lợi cho Nguyễn Ánh. Không những người Minh Hương hận Tây Sơn, mà cả những lưu dân Việt cũng nghiêng cảm tình về họ Nguyễn. Do vậy Nguyễn Ánh và đoàn tòng vong  Nguyễn Hữu Thuỵ, Nguyễn Văn Thành, Dương Công Trừng, Huỳnh Tường Đức, Nguyễn Kim Phẩm, Cao Phước Trí, Trần Xuân Trạch, Nguyễn Văn Thoại dễ dàng lẩn trốn ở miền sông nước Trấn Định – Vĩnh Trấn. Lúc nầy Nguyễn Ánh còn chừng vài ba trăm quân theo bên mình, và được sự kín đáo giúp đỡ của lưu dân Việt. Cha con người nông phu Lê Văn Toại ở Cái Bè bên bờ sông Tiền đã giúp đoàn tòng vong trong trường hợp nầy. Đó là cơ duyên để hai huynh đệ Lê Văn Duyệt và Lê Văn Phong đi theo Nguyễn Ánh. Ngoài sự tháo vát, Duyệt còn tỏ ra là người mưu lược dù bị có tật bẩm sinh.

      Nhờ sinh sống ở rạch Gầm, Trấn Định, cha con ông Toại đã giúp vương Ánh thắng được quân Tây Sơn một vài trận nhỏ ở quanh vùng. Nguyễn Kim Phẩm đã giết được đô đốc Nguyễn Học của Tây Sơn ở giồng Lữ là trận thành công nhứt. Tại đây, Phẩm cướp được 30 chiến thuyền Tây Sơn. Nhân đà chiến thắng nầy vương Ánh kéo binh về Cần Giờ mong tìm cơ hội phục hận. Đây là cái chí khí của kẻ bất khuất chứ không phải là cái lực của người cầm quân. Nguyễn Ánh không thể nào đọ sức với một Nguyễn Huệ đương có mặt ở Sài Gòn. Vừa vào đến bến Tứ Kỳ giang, Ánh đã trở thành bại binh. Những tiên phong Huỳnh Tường Đức, trung quân Tôn Thất Cốc, hộ giá Nguyễn Kim Phẩm đều nhanh chóng tan hàng. Giữa vùng quanh co sông nước, Nguyễn Huệ đứng nhìn quân Nguyễn rút chạy đi. Ông không tận tình truy giết. Có thể cuộc lạm sát người Minh Hương của vua Thái Đức còn mới toanh đã ảnh hưởng lên tâm tình Nguyễn Huệ. Cũng có thể ánh mắt u uẩn của thầy giáo Hiến về cái chết của Định vương Nguyễn Phúc Thuần đã làm Huệ chùng tay. Con người vừa sắt máu vừa ân tình nầy đã để Nguyễn Ánh chạy thoát.

      Chạy về tới Thảo giang (Vàm Cỏ) và đương ngược dòng sông Lật,  Ánh được lưu thủ Nguyễn Thăng của dinh Vĩnh Trấn đến cứu giá. Thăng đưa đoàn tòng vong về Hậu Giang, nhưng cũng không thể nói là nơi an toàn. Sống loanh quanh mà chỗ nào cũng nghe nói tới Tây Sơn, buộc Nguyễn Ánh nghĩ tới cầu viện vua Xiêm. Nguyễn Hữu Thụy được lịnh dẫn đầu phái đoàn gồm Cao Phước Trí và Trần Xuân Trạch đi Băng Cốc. Nếu tháng giêng có uy tín và sức mạnh để giảng hòa ở Lovek, thì tháng 4 năm 1782 nầy Nguyễn Hữu Thụy chỉ đi cầu viện ở Băng Cốc. Thuyền đi chưa tới lãnh hải Xiêm thì bị quân Chân Lạp chận đánh. Điều nầy xảy ra vì vua Ang Eng (Nặc Ấn) không mặn mà gì với chính quyền bảo hộ Nguyễn Ánh đã suy yếu, trong khi Tây Sơn đang cương cường ở khắp nơi. Cả Thụy, Trí và Trạch đều bị giết. Niềm hy vọng tiếp viện đã mất, tình hình sẽ khốn đốn thêm. Đã đến lúc phải bỏ vùng lục địa mà những vòi bạch tuộc Tây Sơn đương trườn tới. Bằng ngả Gía Khê (Rạch Giá), Nguyễn Ánh ra khơi lần thứ hai. Lần nầy đến Phú Quốc, đó là một ngày hè năm 1782.

      Nguyễn Ánh chạy ra đảo, Tây Sơn làm chủ suốt từ Bình Khang đến Gia Định đến Hà Tiên. Tất cả thuộc hạ của Nguyễn Ánh còn lại trên đất liền đều trốn biệt.  Tôn Thất Du mới giết chết Phạm Ngạn ở Tham Lương cũng không tìm thấy. Vua Thái Đức sè bàn tay ra, nắm Gia Định hoặc bỏ. Bỏ không có nghĩa là bỏ hẳn mà giao cho một thuộc tướng nào đó để rút đại quân về Qui Nhơn. Mặt bắc vẫn còn đó một áp lực của nhà Trịnh. Biết đâu Phạm Ngô Cầu ở Thuận Hóa sẽ nhận lịnh tấn công, khi ta cứ miệt mài ở xứ miền nam nầy. Vua Thái Đức đem điều lo nghĩ nầy bàn với Huệ và Nhậm. Đứa em và thằng rể không dám mạnh miệng phản đối, nhưng đều không bằng lòng. Hai vị tướng quân nầy đều đồng quan điểm phải giữ Gia Định mới làm được việc lớn. Họ có cái nhìn giống nhau. Mặc kệ Huệ và Nhậm nghĩ gì, vua Thái Đức vẫn giữ quyết định của mình. Kết qủa, chỉ để hộ bộ Bá và cựu tướng Đông Sơn Đỗ Nhàn Trập cùng với ba ngàn quân ở lại giữ Gia Định.

      Hộ bộ Bá rành điền thổ, rành từng hạng lưu dân. Tướng quân Đỗ Nhàn Trập vốn là Đông Sơn huynh đệ có thâm thù Nguyễn Ánh. Nhìn chung, họ rành Gia Định và có lòng chiến đấu, nhưng không chắc giữ được xứ sở nầy. Quả vậy, đại quân Tây Sơn rút đi chưa đầy một tháng, Gia Định có loạn. Tháng 6 năm 1782 cai cơ Hồ Văn Lân tiến đánh phủ lỵ Long Hồ, chỉ huy Nguyễn Loan của Tây Sơn ở đây phải bỏ chạy. Lân hợp sức với Dương Công Trừng và Nguyễn Văn Qúy chặn Tây Sơn trên sông Lật Giang cướp cả hàng chục thuyền binh. Tin đưa đến Cần Giờ, và thiếu phó Nguyễn Phúc Mân, em Ánh, đang trốn ở đây cũng đứng dậy. Tương tự như thế những chưởng cơ, cai đội khác đang ẩn trốn cũng nổi lên ở những nơi khác. Tất cả những hoạt động nầy làm suy suyễn cái cái gốc Tây Sơn chưa bén vào vùng đất mới.  Và, chúng đã giúp cho con người tưởng trốn biệt ở Tà Lương lại xuất hiện.

      Từ lúc rút về núi Tà Lương (Lương Sơn), Châu Văn Tiếp lo phòng thủ, nhưng vẫn có hai điều không yên. Một: Tà Lương thuộc Phú Yên nằm trong tầm tay với của Nguyễn Nhạc. Nó đang sống được nhờ rừng rậm, và anh em nhà vua Tây Sơn còn bận bịu nhiều chuyện khác. Hai: liệu rằng vương thượng (Nguyễn Ánh) còn giữ lòng tin với ta khi ta bình yên giữa vùng địch, vương có hiểu rằng vùng thượng đạo không có mặt của chính quyền Tây Sơn? Hai điều lo lắng nầy đã làm họ Châu luôn luôn tìm cách ra đi. Bằng lực lượng cơ hữu cộng thêm với nhóm huynh đệ Nguyễn Long – Phạm Văn Sĩ, quân đội Tà Lương ra khơi. Long và Sĩ là người Ê-Đê, nhưng không đồng tình với bà chúa Hỏa chỉ quanh quẩn ở Thạch Thành.

      Chuyến đi của Tiếp trót lọt vì duyên hải Phú Yên từng là nơi hoạt động của huynh đệ Tà Lương. Họ ra đi vào tháng 6 năm 1782, khi quân binh vua Thái Đức chưa về tới, và đến Cần Giờ an toàn với gần năm trăm binh sĩ. Dĩ nhiên là có Châu Thị Đậu và Lê Văn Quân.  Sợ rằng Nguyễn Ánh chưa đủ sức tin, họ Châu giương cờ “ Lương Sơn Tá Quốc” để tỏ lòng trung thành.  Ông mau mắn đi tìm thái phó Tôn Thất Mân để làm gạch nối. Quân số từ đó nhanh chóng tăng lên tới ba ngàn người nhờ các nơi tụ về. Tại Thất Kỳ giang, Châu Văn Tiếp lãnh đạo cuộc phản công, và nới rộng vùng hoạt động. Cờ “Lương Sơn Tá Quốc” phất phới giữa ban ngày trên sông Phước Bình tiến về Sài Gòn. Trước thế lực ồ ạt đó, hộ bộ Bá của Tây Sơn bàn với tướng quân Đỗ Nhàn Trập rút lui, nhưng vị cựu tướng Đông Sơn không bằng lòng. Trập dẫn quân ngăn địch, và trận chiến xảy ra cả thủy và bộ dọc từ ngã ba Tam Giang Nhà Bè xuôi theo sông Phước Bình. Lực lượng không tương đồng vì quân Tây Sơn chỉ có 3 ngàn mà phải trải ra khắp Gia Định. Điều nầy đã dẫn đến Tây Sơn Đỗ Nhàn Trập không thể trở về Sài Gòn – Bến Nghé. Đó là một ngày đầu thu nhâm dần 1782. Người ta nói Trập và Bá chạy về đến Qui Nhơn. Không biết điều đó có đúng hay không, nhưng từ nay, hai người nầy không còn được nhắc lại trong suốt cuộc chiến.

      Trong khi phải có mặt ở Sài Gòn – Bến Nghé để bình định vùng tái chiếm, Tiếp cho người rước Nguyễn Ánh từ Phú Quốc trở về. Tại cửa biển Cần Giờ quân thần gặp nhau, và lòng tin của Ánh dành cho Tiếp không hề bị sứt mẻ. Dĩ nhiên là nhờ Tiếp vừa lấy lại Sài Gòn – Bến Nghé cho Ánh. Từ đây, Châu Văn Tiếp giữ chức ngoại tả chưởng dinh cùng các trung thần kỳ cựu phòng thủ thủ phủ Gia Định. Họ Châu đã giúp vương Ánh lập hai đồn binh dọc theo hạ nguồn sông Tân Bình trong kế hoạch phòng thủ nầy. Bờ nam, đồn Thảo Câu do Dương Công Trừng chỉ huy. Bờ bắc, đồn Giác Ngư do Tôn Thất Mân điều Khiển. Nhìn chung, tài nghệ của Châu Văn Tiếp và lực lượng phòng thủ Sài Gòn – Bến Nghé làm Nguyễn Ánh yên tâm. Ông thấy khả năng của Tiếp không thua gì Đỗ Thành Nhân, ông hy vọng một thủ phủ Gia Định vững chắc vào mùa xuân quý mão 1783 sắp tới.

Khi nạp thiếp mùa thu tân sửu (1781)
Thì sang đông giặc đến Oudong
Tưởng rằng tranh chiến cùng Vọng Các
Mà bước sang xuân có thuận đồng

Vua Xiêm mới bang giao với Nguyễn
Tình chưa keo thì đụng Tây Sơn
Ngàn ngàn quân đổ lên Ghềnh Rái
Một Thất Kỳ giang mấy oán hờn

Nguyễn Tây Sơn hai đường quân tiến
Nguyễn Gia Miêu hai lối xông pha
Bao nhiêu xác bỏ bên rừng mặn
Một Phú Lang Sa chết xa nhà

Chàng Mạn Hòe đi theo cha Cả
Giúp Nguyễn vương quản đội Trung Khuông
Duyên nào đưa đẩy về đông ấy
Lỡ hẹn về tây biết mấy buồn!

Mạn Hòe chết Trung Khuông cũng mất
Tống Phước Thiêm chủ soái lui binh
Bao người ngả xuống bên Lòng Tảo
Bao kẻ trôi sông ngược Phước Bình

Bến Tam Giang quân binh tan rã
Sóng Nhà Bè lại cuộn quanh co
Bao người rút được về Bến Nghé
Mà để ra đi chẳng hẹn hò

Bỏ thủ phủ Nguyễn về Tân Hóa
Đường di quân không có lọc lừa
Thế mà trong toán trung quân ấy
Có kẻ vì người lấy nợ xưa

Chưởng cơ Tống chết giờ thoát chết
Buồn như ai trận chiến Tham Lương
Tây Sơn tướng Phạm đang chiến thắng
Mà chết không hay cuối chiến trường

Hộ giá Ngạn bỏ đồn bỏ lũy
Giọt nước tràn chảy xuống vành ly
Thù đâu lại đổ Minh Hương ấy
Mà để Tây Sơn một vết tì

Người Gia Định vì sao giúp Nguyễn
Đường lưu vong đâu dễ thoát nàn
Phải chăng tì vết Tây Sơn ấy
Nhỏ xuống chiến trường thêm vấy loang

Chàng Nguyễn Ánh chạy về Trấn Định
Trường Đồn xưa mấy những lưu dân
Nhớ ơn tiên Nguyễn công khai phá
Giúp Ánh cơ may những mấy lần

Những Văn Duyệt – Văn Phong dân ngụ
Người họ Lê lưu lạc sông Tiền
Đi theo Nguyễn Ánh từ dạo ấy
Âu cũng vô cùng dải nhân duyên

Thắng Nguyễn Học Tây Sơn đô đốc
Cướp thuyền binh mà trở Cần Giờ
Con sông bốn nhánh còn tanh máu
Nên nước sông buồn cũng ngẩn ngơ

Ánh thoát chết chạy về sông Lật
Được quan binh Vĩnh Trấn cứu nàn
Tạ trời đã đến Long Hồ cũ
Nhưng vẫn còn đây những gian nan

Vượt Phú Quốc vội vàng mùa hạ (1782)
Lúc Ang Eng đổi thế giữa đường
Cầu Xiêm mà chết vì Chân Lạp
Sứ giả ba người chết thảm thương

Tưởng mất hết nhưng còn ơn phước
Ở Tà Lương còn kẻ trung kiên
Một cờ tá quốc trung trinh tới
Một tướng họ Châu dạ sắt nguyền

Phò vương Nguyễn, Châu về Gia Định
Trận Sài Gòn phân rõ hơn thua
Tây Sơn Nhàn Trập không còn nữa
Gia Định như qua gió chuyển mùa

Đổi thế trận, Châu dần thắng thế
Hạ nhâm dần Bến Nghé sang tay (1782)
Ánh vương trở lại từ Phú Quốc
Hẹn thắp mùa xuân qúy mão này (1783)

<<  |  >>