Skip to content

Chương 29

NGUYỄN ÁNH XƯNG VƯƠNG Ở GIA ĐỊNH, VÀ NHỮNG DIỄN BIẾN ĐẦU TIÊN

     Từ tháng 5 năm mậu tuất 1778 nầy, lãnh thổ phủ Gia Định được xác định từ Hà Tiên đến Bình Thuận. Đây là thời điểm địa bàn có tên Gia Định rộng nhất trong lịch sử. Nguyễn Ánh mau chóng lập được trật tự, và có nguồn thu nhập ổn định từ nông sản và ngư nghiệp. Bên cạnh đó có sự giúp đỡ của Bá Đa Lộc, nguyên soái Ánh tăng cường thủy bộ binh và đóng chiến thuyền. Có thể nói đến giữa năm 1778, cậu thiếu niên họ Nguyễn long đong của 4 năm trước có một chỗ đứng vững chắc nhất kể từ ngày rời bỏ Phú Xuân.

      Yên tâm với một Gia Định khả quan, tháng 7 năm 1778 Nguyễn Ánh sai cai cơ Lê Văn Điển về Phú Xuân tìm người thân. Họ là những người ruột thịt của Ánh còn thất lạc trong biến cố Giáp Ngọ 1774. Lúc nầy nhà Trịnh, mà đại diện là tổng trấn Phạm Ngô Cầu chủ trương nới lỏng mọi sinh hoạt để chiêu an dân chúng Thuận Hóa. Điều nầy giúp Điển tìm được bà mẹ Nguyễn Thị Hoàn và ba cô chị em gái cuả Ánh trong thời gian ngắn. Họ không còn ở Phú Xuân mà di dời về làng An Du phía bắc Cựu dinh. Bằng số vàng mang theo, Điển dễ dàng xoay xở một cuộc vượt biên dành cho 6 người: Người mẹ, người dì, và ba cô con gái Ngọc Tú, Ngọc Du, Ngọc Tuyền, cùng cô bé hầu cận 12 tuổi Trần Thị Đang. Họ ra khơi vào nam trót lọt.

      Người mẹ Nguyễn Thị Hoàn xiết bao vui mừng khi gặp lại ba đứa con trai Ánh, Thiền, và Mẫn(*), nhưng bà cũng đau lòng khi hay tin đứa con trai khác là Nguyễn Phúc Đồng đã hi sinh. Đây là một đoàn tụ không trọn vẹn, nhưng trong ly tán nầy, còn mong gì hơn. Người mẹ nhìn những đứa con khôn lớn, và mong ước lấp đầy những mất mát. Do vậy, Nguyễn Phúc Ngọc Tú và Nguyễn Phúc Ngọc Tuyền đã sớm kết duyên cùng hai cai cơ Lê Văn Điển và Nguyễn Hữu Thụy. Đã gả chồng cho hai đứa con gái, người mẹ nhìn sang ba đứa con trai. Thiền và Mẫn thì còn quá nhỏ để cưới vợ, nhưng Ánh đã gần 17 tuổi, và hiện nay là linh hồn của cuộc phục hưng. Chuyện lập gia thất cho một thanh niên ở tuổi nầy cũng không phải là sớm, huống gì là một ông hoàng nhiếp chính. Bà mẹ nghĩ thế.

      Vì lý do ấy mà nhan sắc đầu tiên Tống Thị Lan trở thành vợ của Nguyễn Ánh trong mùa thu năm 1778. Ánh chưa từng gặp Lan, mà chỉ nghe Tống Phước Khuông nói về con gái mình từ một năm về trước. Ánh chỉ đoán là Lan rất đẹp, và Lan thì chỉ nghe cha nói về một hậu duệ nhà Nguyễn đang phục hưng. Nếu bảo họ không có tình yêu thì hoàn toàn không đúng, mà ngược lại. Cái nét phong sương của Ánh hòa với dáng dịu dàng của Lan đã làm thăng hoa cho cặp đôi chưa từng yêu ai trước đó. Lan được phong làm nguyên phi, và đôi vợ chồng hậu duệ chúa Nguyễn nầy có đứa con trai đầu lòng trong mùa xuân năm 1779. Đứa bé được đặt tên Nguyễn Phúc Chiêu, nhưng không có phúc ở với cha mẹ. Nếu không may để được nuôi dưỡng đứa con đầu lòng, thì nguyên soái Ánh có những cái may khác. Tháng 4 năm 1779 nầy, ông có thêm một đạo quân mới mà không cần phải trưng binh và huấn luyện. Nguyễn Kim Phẩm và Trần Xuân Trạch mang hơn 300 tay thiện chiến đến đầu quân. Họ là những tay bất mãn nhà Trịnh chạy vào nam, và trở thành những toán quân trung thành. Một thuận lợi khác nữa là bảo hộ trở lại Chân Lạp vào tháng 5 cùng năm 1778. Vốn phe của cố quốc vương Nặc Tôn (Outey II thân Việt trước đây) khởi nghĩa chống lại vua đương nhiệm Nặc Non (Ang Non II thân Xiêm) trong tháng tư, và thất bại. Họ chạy qua Long Hồ cầu cứu.  Đỗ Thành Nhân, Dương Công Trừng, Hồ Văn Lân được cử đi cứu giúp. Quân Nguyễn đánh bại quân triều đình Nặc Non. Vị vua nầy bị bắt giam, và phe khởi nghĩa đưa con cố quốc vương Nặc Tôn là Nặc Ấn (Ang Eng) lên ngôi. Ấn mới 4 tuổi nên Hồ Văn Lân vẫn lưu quân lại thủ đô Oudong để bảo hộ.

      Khi Hồ Văn Lân ở lại Chân Lạp thì Đỗ Thành Nhân rút quân về. Là quan ngoại hữu và là người đến xứ Gia Định sớm nhất trong hàng quan lại, nên Nhân giúp Ánh định lại bản đồ sở tại. Đầu tháng 11 năm kỷ hợi 1779 đồng loạt tiến hành công việc đó ở 4 dinh. Một: dinh Trấn Biên chia làm 4 tổng, Tân Chính, Bình An, Long Thành, Phước An. Hai: dinh Phiên Trấn cũng chia làm 4 Tổng như thế. Đó là Bình Dương, Tân Long, Phước Lộc, Bình Thuận. Ba: đạo Trường Đồn được nâng lên thành dinh Trường Đồn, nhưng vẫn chưa chia rõ ràng như hai dinh trên. Chín khu vực thu thuế sai biệt nhau được gọi là “9 trường biệt nạp” (Qui An, Qui Hóa, Cảnh Dương, Thiên Mụ, Gian Thảo, Hoàng Lạp, Tam Lạp, Bả Cạnh, Tân Thịnh) được bãi bỏ để lập ra huyện Kiến Khang. Đó là vùng tương đương từ Cái Bé,  Cai Lậy đổ dọc về Mỹ Tho kéo đến Gò Công ngày nay. Phần còn lại tức phía tây huyện Kiến Khang đến Chân Lạp, thì chưa định danh rõ. Bốn: dinh Long Hồ đổi tên thành dinh Hoằng Trấn, và dời lỵ sở từ thôn Long Hồ xuống bãi Bà Lúa (cù lao Hoằng Trấn) ở hạ nguồn sông Hậu. Tân dinh Hoằng Trấn được chia làm một châu Định Viễn (phần đất đầu tiên mà vua Nặc Tha đã đổi cho chúa Thụ năm 1732) và 3 tổng Bình An, Bình Dương, Tân An. Dù chưa được hoàn thiện, nhưng Gia Định được sáng sủa hơn, được bài bản hơn, sau lần định lại bản đồ nầy. Nó làm cho chỗ đứng của nhiếp chính vương Nguyễn Ánh càng thêm vững vàng.

      Do vậy, ngày qúy mão của tháng giêng năm canh tý 1780, nguyên soái nhiếp chính vương Nguyễn Ánh xưng vương. Lên ngôi, vương Ánh chính thức đặt phủ lỵ phủ Gia Định tại Bến Nghé thuộc thôn Tân Khai, thay vì ở “dinh” Điều Khiển cũ như chúa Thuần. Theo truyền thống từ thời chúa tiên Nguyễn Hoàng, vương Ánh dùng niên hiệu nhà Lê, nhưng tự quyết mọi việc. Vương phong ngoại hữu Đỗ Thành Nhân làm phụ chính thượng tướng công, Tống Phước Khuông làm ngoại tả tướng công, Trần Đại Thể làm tham nghị, Tống Phước Lương làm nội hữu, Nguyễn Đình Thuyên làm nội tả, Hồ Đồng giữ bộ Lại, Trần Phước Giai giữ bộ Hộ, Nguyễn Nghi giữ bộ Lễ, Trần Minh Triết giữ bộ hình. Riêng bộ binh hoàn toàn nằm trong tay nhà vương, nhưng cũng đặt một người có tên là Minh giữ bộ nầy. Đây có thể gọi là triều đình đầu tiên của vương Ánh, nó củng cố niềm tin phục quốc lấy lại giang sơn.

      Bên canh niềm tin đó, vương Ánh có một niềm vui gia đình. Trong tháng 4 năm 1780 nầy vương phi Tống Thị Lan sinh đứa con trai thứ hai. Đứa con đầu lòng tên Chiêu bị mất lúc vừa mới sinh ra, nên cậu bé thứ hai nầy được gọi là trưởng tử.  Đó là Nguyễn Phúc Cảnh, và được tôn xưng là hoàng tử.  Có thể nói cả công và tư, vương Ánh luôn gặp may mắn kể từ ngày khởi binh tái chiếm Gia Định. Liệu rằng điều may mắn nầy có tiếp tục cho một cuộc đối đầu với Tây Sơn đang ở trước mặt?

      Trong lúc đối đầu với Tây Sơn chưa tới, thì loạn Chân Lạp ở Trà Vinh nổi lên. Ngay trong tháng 4 năm 1780 nầy. Nguyên vùng Trà Vinh là vùng bùn lầy, mà giám quốc Chân Lạp Nặc Nhuận nhường cho chúa Nguyễn Phúc Khoát năm 1757 (coi chương 21/13). Nó thuộc dinh Long Hồ từ đó, nhưng không có hệ thống hành chánh chặt chẽ. Đó là nơi tập trung nhiều người Chân Lạp tha phương. Họ chấp nhận sống trong tình trạng bất ổn định, nhưng được tự do không lệ thuộc vào chính thể nào. Họ có những vị tù trưởng gọi là “ốc nha”, và chỉ chịu chi phối bởi những ốc nha nầy. Do vậy khi vương Ánh buộc tất cả vùng đất “tự do” nằm giữa hoặc nằm trong các dinh vào nề nếp, là đã ép họ vào một kỷ luật mới. Điều nầy đã đưa đến khởi loạn ở Trà Vinh do ốc nha Suất khởi xướng.

      Dĩ nhiên vương Nguyễn Ánh không để một đốm lửa trên vũng dầu. Ông lập tức sai ngoại hữu thượng tướng công Đỗ Thành Nhân, có Dương Công Trừng làm thuộc tướng, đi dẹp loạn. Với lực lượng Đông Sơn, quân triều dễ dàng dẹp tan lực lượng của ốc nha Suất. Đốm lửa Trà Vinh được dập tắt, họ Đỗ chiêu dụ dân chúng các sắc tộc về sinh sống trở lại bình thường. Đó là sự thành công mà vương Nguyễn Ánh mong được lâu dài. Tuy nhiên, mọi thứ đều khó hoàn hảo. Khi dời dinh lỵ đến cù lao Hoằng Trần, thì mới thấy mọi phương tiện hành quân và tiếp viện đều khó khăn hơn ở thôn Long Hồ. Lỵ sở của dinh lại dời về chốn cũ, và vương Ánh cũng đổi tên dinh Hoằng Trấn thành dinh Vĩnh Trấn. Đó là một ngày của tháng 5 năm 1780.

      Lập triều đình, dẹp được loạn, vương Ánh cho người đi thông hiếu với Xiêm quốc. Đây có lẽ là nhà vương muốn tìm một quốc gia bạn công nhận vương triều của mình, rất tiếc chuyến ra đi của hai sứ giả Sâm và Tĩnh lại không thành công. Nguyên vua Xiêm là Taksin (Trình Quốc Anh) đã có quan hệ bình thường với triều đình Đàng Trong sau chiến tranh 1772 – 1773. Ông ta cho hoàng thân Nguyễn Phúc Xuân và gia đình Mạc Thiên Tứ tị nạn ở thủ đô Thonburi sau đại nạn 177, đã chứng minh điều đó. Tuy nhiên, ông Xuân và cha con ông Mạc Thiên Tứ không trở về nước khi vương Ánh chiêu binh chống Tây Sơn năm 1778, làm triều đình Xiêm đặt dấu hỏi.  Chỉ đặt dấu hỏi như thế, nhưng không có gì tệ hại cho đến khi hai sứ Sâm và Tĩnh đến Thonburi vào tháng 6 năm 1780. Hai người nầy bị một quan triều Xiêm tên Bô Ông Giao tố giác mang mật thư của vương Ánh đến Mạc Thiên Tứ và Nguyễn Phúc Xuân. Theo tố giác, chỉ ra rằng ông Tứ và ông Xuân đang là nội ứng của vương Ánh trong lòng Xiêm quốc. Không ai xác quyết rằng sự phát hiện nầy là đúng hay không, nhưng nó làm dấu hỏi trước đây trở nên đậm hơn. Ngay lúc ấy, một thuyền buôn người Xiêm bị quân Nguyễn cướp sạch ở Hà Tiên. Cộng hai điều tệ hại nầy lại, vua Xiêm quyết định trừng trị những người mà ông ta nói là “những con ong trong tay áo”. Nguyễn Phúc Xuân, Mạc Tử Dung, Mạc Tử Thảng là những người bị giết trước nhất. Taksin cũng không tha cho hai sứ giả, và tiếp tục giết những người khác. Bị dồn vào thế chết, cựu tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tứ không để người khác phán tội tử cho mình. Ông tự sát. Điều nầy không làm vua Xiêm chùng tay, ông ta vẫn nghi ngờ, và giết thêm nhiều người trong gia đình họ Mạc. Trước sau, 53 người đã chết chỉ trừ một số trẻ em nhỏ tuổi.  Trong số các trẻ em sống sót đó có 3 người con út và 6 đứa cháu nội của Mạc Thiên Tứ. Điều nầy là một may mắn (!), để về sau người ta còn thấy đứa con trai Mạc Tử Sanh và đứa cháu nội Mạc Công Bính trở về phục vụ cho nhà Nguyễn. Tuy nhiên, kết quả đương thời như thế là một nỗi đau của vương Ánh. Ông bất lực để nhìn con dân mình bị người khác xử chết mà không làm gì được.

      Lúc ấy là mùa thu năm 1780, quân lực của Taksin rất mạnh. Ông ta đã chinh phục vùng bắc Xiêm (Lan Na), 3 tiểu quốc Lào (Luang Brabang, Viêng Chăn, Champasak), và xâm lấn trở lại Chân Lạp. Vương Ánh chỉ biết âm thầm đoạn giao với vua Xiêm, và sai Đỗ Thành Nhân tăng cường thủy quân. Họ Đỗ đã lấy gỗ kiền kiền để đóng một loại thuyền mới. Chúng được gọi là thuyền “trường đà”, có sức chịu đựng và lướt nước nhanh hơn loại thuyền cũ. Ông Nhân cũng liên lạc được các tàu buôn người Bồ Đào Nha giúp mua vũ khí, và học hỏi ở nhóm người Pháp của giáo sĩ Bá Đa Lộc về kỹ nghệ hàng hải. Tưởng những công việc tốt đẹp nầy sẽ nối tiếp con đường phục vụ nhà Nguyễn của họ Đỗ, nhưng đó là những công việc cuối cùng. Khi những chiếc tàu trường đà hạ thuỷ vào tháng giêng năm 1781, thì cũng là lúc vương Nguyễn Ánh nghi ngờ lòng trung thành của vị ngoại hữu phụ chính. Cái hãnh diện của một vị tướng tự mình lập quân đội, cái xem thường Ánh khi Ánh còn là một cậu thiếu niên, cái nhìn về sự cam chịu của vương Ánh đối với vua Xiêm vừa rồi, đã làm Đỗ Thành Nhân tự phụ. Ông vượt qua lòng kính trọng của một tôi thần. Nếu trước đây Ánh không so kè, nhưng lúc nầy thì không thể. Qua những lần cố vấn của cận thần Tống Phước Thiêm, vương Ánh thấy Nhân lộng quyền và nguy hiểm. Vương Ánh quyết định trừ khử. Ông đã có những ngày giả bịnh để chờ quan phụ chính ngoại hữu đến thăm, trong âm mưu tiêu diệt. Tống Phước Thiêm phục vệ sĩ để giết người phụ chính họ Đỗ, ở lần viếng thăm đầu tiên cũng là lần viếng thăm duy nhất. Đó là vào một ngày tháng 3 năm 1781.

      Để chứng tỏ giết Đỗ Thành Nhân chỉ là một cách để trừ loạn tướng, vương Nguyễn Ánh vẫn ân cần với tất cả huynh đệ Đông Sơn. Thuộc tướng sớm nhất của Nhân là Huỳnh Tường Đức được Ánh thương yêu cho đi theo bên mình là một ví dụ. Nguyễn Văn Thành cũng là người đến sớm với Nhân được đối xử tử tế là một ví dụ khác. Lê Văn Quân rất thân với Nhân từ ngày theo lệnh Châu Văn Tiếp vào cứu giá chúa Thuần năm 1777 được trọng dụng là một ví dụ khác nữa. Tuy thế, hai huynh đệ thân thuộc khác của tướng Đỗ Thành Nhân là Đỗ Bảng và Võ Nhàn vẫn không chịu thần phục. Tháng tư năm 1781 họ bí mật mang một số quân trung thành về lại Ba Giồng. Điều nầy xảy ra vì Nguyễn Ánh vừa chia Đông Sơn ra làm 4 quân, và giao cho những người không phải gốc rễ của Đông Sơn chỉ huy. Lê Văn Quân chỉ huy tiền quân, Vũ Doãn Triêm coi hữu quân, Tống Phước Lương coi tả quân, Trương Văn Bác coi hậu quân. Việc làm nầy na na việc làm của Lê Qúy Ly đã chia nhỏ đạo quân Kim Ngô sau khi giết Nguyễn Đa Phương dưới thời Trần mạt. Thế là Đông Sơn không còn nữa. Nó đã sống chết để bảo vệ chúa Nguyễn Phúc Thuần đến vương Nguyễn Ánh tổng cộng được 6 năm. Việc làm của Ánh đúng hay sai cũng trở thành dĩ vãng và nhỏ nhoi, vì thời cuộc lúc ấy dấy lên những điều quan trọng khác.

      Thật vậy, tháng 4 năm 1781 giao thương với các thuyền buôn Bồ Đào Nha bị gián đoạn. Các chủ thuyền ở thuộc địa Ma Cao từ lâu chỉ biết giao dịch qua “ông lớn” họ Đỗ, nên họ chưa sẵn sàng với những thỏa thuận mới. Điều nầy làm cho vương Ánh hụt hẩng, nhưng cũng chính điều nầy làm ông cảm thấy không hối tiếc khi giết Đỗ Thành Nhân. Nó đã đẩy lòng tự phụ của vị vương thượng 19 tuổi lên cao. Không có Đỗ Thành Nhân, không mua được súng từ bọn con buôn người Bồ, vương Ánh vẫn tấn công Bình Khang như dự tính. Giữa tháng 5 năm 1781 cuộc chiến bắt đầu. Từ Bình Thuận, tướng Tôn Thất Dụ được cử làm tiết chế bộ binh tiến quân về Phan Rang tấn công mặt nam Bình Khang. Từ Sài Gòn, tân chưởng cơ Châu Văn Tiếp được cử làm tiết chế thủy quân đổ bộ vào Hòn Khói tấn công đông Bình Khang. Tướng Lê Văn Quân trở về dưới trướng tướng Tiếp trong cuộc hành quân nầy. Một cánh thủy quân khác của chưởng cơ Tống Phước Thiêm đi theo sẵn sàng yểm trợ cho hai đạo thuỷ bộ binh đang trực tiếp tham chiến. Tổng cộng 3 lực lượng hơn 5 ngàn quân, và mục tiêu tấn công là thủ phủ Diên Khánh của Bình Khang do Tây Sơn dựng lập.

      Dĩ nhiên, triều đình Tây Sơn ở Qui Nhơn đã hay tin. Đô đốc Lê Văn Hưng ở Diên Khánh được lịnh bỏ cả trấn phủ, và dồn lực lượng về Hòn Khói. Đó là ý kiến của Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ, và được vua Thái Đức chuẩn thuận. Lối đánh nhanh và đánh dập vào một điểm được áp dụng trong trường hợp nầy. Không những chỉ có quân Bình Khang của đô đốc Hưng, mà đô đốc Ngô Văn Sở từ Phú Yên được lịnh điều động bộ binh tức tốc tới chiến trường. Tướng Lý Văn Bưu mang kỵ binh từ Tuy Viễn, và nữ tướng Bùi Thị Xuân từ Thị Nại cũng được lịnh chuyển voi xuống tàu. Tây Sơn đã đóng được thuyền lớn, và đây là lần thử nghiệm sức chịu đựng của loại thuyền nầy. Bên cạnh đó cũng thử nghiệm khả năng tượng binh sau hai năm rèn luyện. Tất cả đều tiến về bán đảo mà cứ mãi bị gọi là “hòn” bên bờ vịnh Vân Phong. Hứa hẹn một trận chiến không hề nhỏ.

      Trong lúc điểm nóng Hòn Khói đang bập bềnh những cơn sóng chờ đợi, thì mặt trận  bờ bắc Phan Rang đã đi nhanh. Tôn Thất Dụ vượt qua sông cái tiến chiếm núi Chúa rất dễ dàng. Lực lượng địa đầu của Tây Sơn ở đây đã được lịnh bỏ ngỏ. Tướng Dụ cho quân tiếp tục tràn về phía bắc để bắt tay với lực lượng thủy quân của chưởng cơ Tống Phước Thiêm đang cập bến Cam Ranh. Thuỷ bộ gặp nhau và họ nhanh chóng làm chủ đồng bằng Diên Ninh, miền nam của phủ Bình Khang. Dân chúng ở đây đã chứng kiến nhiều lần lui tới của hai bên, nên cũng không có nhiều biến động. Nét ngỡ ngàng một chút rồi thôi. Họ kháo nhau về chuyện Tây Sơn đột ngột bỏ chạy, rồi quân Nguyễn lại đến như chuyện đời thường như từ cả 5 năm về trước. Đồn bót Tây Sơn vắng tanh, dân chúng chẳng thấy làm lạ, nhưng hai tướng thủy bộ nhà Nguyễn sợ rằng có phục binh. Họ chưa dám vượt qua đèo Cù Huân trước mặt. Hai vị nầy vỗ an dân chúng Diên Ninh, và nghe ngóng chiến trường bên kia cửa biển Nha Trang.

      Ở đó, đạo quân của Châu Văn Tiếp cập bến Vân Phong. Họ đổ bộ vào bán đảo Hòn Khói. Vị tân chưởng cơ nam triều có gốc Phù Ly gặp lại huynh đệ Tây Sơn. Họ không lạ lẫm với nhau, nhưng đã ở hai bờ chiến tuyến. Châu Văn Tiếp đã biết Ngô Văn Sở và Bùi Thị Xuân nhân lúc đến thăm thầy Ngô Mạnh từ lúc xa xưa. Lúc đó cô bé Xuân mới tập tành học đứng tấn, ra roi. Sở và Xuân chỉ là những người bạn sơ giao của Tiếp từ ấy, nhưng với Lý Văn Bưu thì quả là có một tình bạn đậm đà. Nguyên gia đình họ Lý và họ gia đình họ Châu (Doãn) cùng huyện Phù Ly, và thân nhau. Họ cùng chuyên nghề buôn ngựa, nhưng gia đình họ Châu yếu thế hơn. Đến đời thân sinh của Châu Văn Tiếp được phụ thân của Lý Văn Bưu giúp vốn khai sinh địa bàn mới ở Phú Yên. Tại vùng đồi núi xuyên nguồn Tà Lương cha con Tiếp phát đạt, và tình bạn Châu Văn Tiếp và Lý Văn Bưu càng thắm thiết. Ngoài tình bạn đồng hương, đồng nghiệp, họ còn đồng cảm về những ưu tư thời cuộc. Hai người đều muốn đất nước đi lên, nhưng không phải là cái nhìn của một kẻ chính trị bá nghiệp. Họ là những dũng sĩ chọn cách xử thế để khuông phò. Rất tiếc họ khác nhau về quan điểm. Lý Văn Bưu muốn dẹp vương triều cũ thờ vương triều mới, Châu Văn Tiếp không muốn thay đổi vương triều Nguyễn mà chỉ dẹp loạn thần Trương Phúc Loan. Thời cuộc đã đưa họ mở rộng ý tưởng ban đầu ấy để trở thành thù địch.

      Gặp nhau ở bán đảo Hòn Khói là lúc họ đã đi quá xa. Tình bạn, nếu được hâm lại, chỉ là nỗi ray rứt về một thời hoa niên. Lúc nầy hai bên đã có súng, nhưng còn rất giới hạn. Kiếm cung vẫn là mấu chốt giải quyết chiến trường. Dù Châu Văn Tiếp là một kiệt tướng và Lê Văn Quân đã từng tham gia nhiều chiến trận, nhưng quân số chỉ có một phần ba của tổng số quân trong cuộc chinh bắc nầy.  Hai lực lượng kia còn ở bên kia bờ sông cái Nha Trang, trong lúc Tây Sơn dùng toàn lực cho Hòn Khói. Kết quả không sai với những tính toán chiến thuật của Nguyễn Huệ. Khi khoảng hai ngàn quân theo họ Châu vừa lên bờ, thì bị cắt đôi với cánh hậu quân còn ở dưới biển. Quân Tây Sơn quá đông, và họ chỉ nhắm vào một mục tiêu như thế, nên thành công dễ dàng. Hơn một ngàn quân Nguyễn còn lại ngoài eo biển bị tấn công tan tác, đến nỗi không còn một tay chèo nào bơi được. Hai huynh đệ Châu Văn Tiếp và Lê Văn Quân vừa lên bờ chưa kịp chuẩn bị thế trận, đã bị đẩy sâu vào đất liền. Họ phải kéo binh chạy tới Diên Khánh, mong gặp cánh quân của Tôn Thất Dự từ Bình Thuận tiến ra. Dĩ nhiên là quân Tây Sơn đuổi theo. Chiến trường Hòn Khói không thực sự máu lửa. Cả thắng và thua theo nhau đuổi về hướng tây nam, bỏ lại Vân Phong những chiếc thuyền chỏng chơ nhìn ra biển.

      Quả như điều họ Châu mong đợi. Tôn Thất Dụ đã đưa quân vượt đèo Cù Huân, khi Tống Phước Thiêm ở lại giữ vùng Diên Ninh mới chiếm. Ông Dụ quyết định đánh phủ đầu Diên Khánh để làm thế ỷ dốc cho chiến trường Hòn Khói. Về địa hình, Diên Khánh là trung tâm của Bình Khang, nên Tây Sơn chọn làm phủ lỵ. Tuy nhiên, ở vào thời kỳ đầu của vua Thái Đức Nguyễn Nhạc, Diên Khánh còn rất sơ sài. Họ chỉ có một đồn quân tên gọi Hoa Bông để bảo vệ phủ trấn. Phó tướng trấn thủ Tây Sơn Lê Trung không đủ sức giữ Hoa Bông phải kéo chạy về hướng bắc. Tôn Thất Dụ thúc quân đuổi theo. Điểm không từng hẹn là Phước Diên ở bên bờ bắc sông cái Nha Trang, lại là nơi kịch chiến giữa binh triều Nguyễn Ánh và binh triều Thái Đức. Lúc nầy người ta mới thấy sự kết hợp của bộ binh, kỵ binh và tượng binh của Tây Sơn. Hai đạo bộ binh của Ngô Văn Sở và Lê Văn Hưng xen kẻ với tượng binh của Bùi Thị Xuân yểm trợ nhau tiến tới, trong lúc kỵ binh của Lý Văn Bưu nhắm vào những tụ điểm của địch. Tây Sơn đã đẩy ngược quân của Tôn Thất Dụ phải băng sông chạy trở lại phía nam. Ông Dụ không thể nào bắt tay với Châu Văn Tiếp, khi hai người còn cách một ngọn đồi. Tây Sơn đánh rát vào từng cánh quân. Tình thế ấy buộc ông Tiếp phải tìm lối thoát. Không may, trên một ngã rẽ phía tây, ông ta lại gặp đoàn kỵ binh của Lý Văn Bưu đón đường. Thật khó tránh một trận chiến trong cuộc gặp gỡ nầy, nhưng đã không xảy ra. Châu Văn Tiếp ngầm cảm ơn Lý Văn Bưu. Ông ta dẫn đoàn bại binh chạy về thượng đạo với hình ảnh người bạn cũ.

      Bình Khang vẫn thuộc về Tây Sơn sau trận chiến nầy, nhưng miền thượng du lại không đủ quân kiểm soát. Trên thượng đạo Diên Lâm, Châu Văn Tiếp bình an dẫn tàn binh trở về cố thổ Tà Lương ở Phú Yên. Tại đây người em gái Châu Thị Đậu và Lê Văn Quân giúp Châu Văn Tiếp củng cố và tồn tại. Người ta không thấy Tây Sơn cất binh tiêu diệt Tà Lương, mà vua Thái Đức đang ra sức kiện toàn quân đội. Nhà vua tỏ ra là một quân vương bình dân nhất trong lịch sử. Trừ những lúc thịnh nộ, ông để tâm đến những người xung quanh với một thân tình, nhất là đối với Nguyễn Huệ. Ông đã khuyên Huệ cưới vợ trong lúc nầy. Ba năm qua Bùi Thị Nhạn vẫn là người con gái duy nhất bên Huệ, chắc nàng đã giúp Huệ quên được chuyện buồn. Họ chính thức thành vợ chồng vào mùa thu năm 1780, khi Huệ 27 và Nhạn 21 tuổi. Họ có đứa con đầu lòng vào mùa hạ năm sau. Đó là cậu con trai Nguyễn Quang Toản.

      Trong lúc Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ cưới vợ ở Qui Nhơn, vương Ánh phải chịu đựng sự thất bại ở Bình Khang. Không những thế, nhà vương còn phải giải quyết cuộc bạo loạn ở dinh Trường Đồn. Nếu vương Ánh cố tình chia Đông Sơn làm bốn, thì cũng có người cố gom những trung thành Đông Sơn trở lại. Đỗ Bảng, Võ Nhàn, và Đỗ Nhàn Trập làm điều nầy. Ông Trập là một thanh niên mới gia nhập Đông Sơn khi đã tàn lụi, quả là một huynh đệ nghĩa khí. Từ căn cứ mật ở Ba Giồng, Đông Sơn vượt qua sông Lương Phú. Họ nhanh chóng đánh chiếm đồn binh và giết cai cơ trấn thủ Tống Văn Phước. Nghĩa binh Đông Sơn ào ạt tiến về thành Trấn Định, dinh lỵ của dinh Trường Đồn. Họ tấn công với lòng trả hận huynh đệ, buộc cả liên quân tiếp viện của nội tả Nguyễn Đình Thuyên và nội hữu Tống Phước Lương đều phải bại trận. Nguyễn Bảng và Võ Nhàn dấy động cả dinh Trường Đồn đến nỗi vương Nguyễn Ánh phải phái thêm hai đạo quân chủ lực của Nguyễn Văn Qúy và Phan Văn Huyên tham chiến. Lần giao tranh với lực lượng đông đảo nầy, cả hai thủ lãnh Đỗ Bảng và Võ Nhàn không chịu nổi. Cả hai ông đều tử thương ở chiến trường, nhưng Đỗ Nhàn Trập chạy thoát. Ông Trập kéo một toán tàn binh lên thuyền tới được Bình Khang đầu quân Tây Sơn. Sau biến loạn nầy dinh Trường Đồn được đổi thành dinh Trấn Định. Nó mang tên của dinh lỵ, nhưng nó cũng hàm ý trấn định được dinh Trường Đồn. Đó là một ngày của trung tuần của tháng 5 nhuận năm tân sửu 1781. Đông Sơn thực sự chấm dứt.

      Dẹp được loạn Đông Sơn ở Trường Đồn, nhưng vương Ánh vẫn có điều không vui. Những hình ảnh của Đỗ Thành Nhân từ Phú Xuân đến Gia Định cứ đậm dần lên. Dù Nhân có lộng quyền, nhưng bao cưu mang tận tụy của con người nầy làm vương Ánh trắc ẩn. Ông nhớ tới tay chèo Đỗ Thành Nhân trong hai chuyến hải hành sinh tử. Từ Phú Xuân đến Quảng Nam và từ Quảng Nam đến Bình Khang. Ông nhớ tới những ngày chú cháu ông có mặt ở Sài Gòn cũng không thiếu hình ảnh của Đỗ Thành Nhân. Nhân đã lập Đông Sơn để chống Tây Sơn. Nhân đã đưa chú Thuần và anh em ông đi khỏi Sài Gòn, khi Lý Tài mang Hòa Nghĩa quân kéo đến ủng hộ hoàng tôn Dương. Ông nhớ tới cuộc gặp gỡ ở Đăng Giang để Nhân đưa chú cháu ông về lại Ba Giồng. Tất cả sự bảo bọc ở trên không phải là sự tận tụy đến sống chết hay sao? Từng buớc, từng bước hiện ra, nhưng ông không thể nói cho quân tướng dưới quyền hay. Tâm trạng nầy ông chỉ có thể chia sẻ được với người mẹ. Ông đến thăm quốc mẫu thường xuyên, và người mẹ hiểu được cái mâu thuẩn trong đứa con quyền lực của mình. Chuyện công và chuyện tư thường lẫn lộn giữa những lần mẹ con gặp nhau. Người mẹ cố tình như thế để xoa dịu đứa con. Bên cạnh một hối tiếc để mất tướng quân Đỗ Thành Nhân, thì những chuyện nho nhỏ trong gia đình cũng  được nhắc đến. Người mẹ đã có lần nói đến cô gái hầu cận Trần Thị Đang của mình trong lúc nầy. Qua đó, Ánh bắt gặp một hương sắc mà vốn chỉ là đứa bé thất lạc của 7 năm về trước.

      Trong biến cố giáp ngọ 1774, bà Nguyễn Thị Hoàn gặp một đứa bé gái lạc mất gia đình. Không biết tin tức gì khác hơn là đứa bé nầy được 5 tuổi, và là con gái của quan hàn lâm Trần Hưng Đạt. Bà Hoàn cùng các cô con gái của mình dắt đứa bé nầy đi theo. Họ đến được An Du, miền bắc dinh Cựu, sau thời gian gian khổ. Đang dần lớn khôn, và được bà Hoàn thương yêu như con. Cơ duyên ấy đã đưa Đang theo bà Hoàn vào Gia Định trong mùa xuân năm 1779. Mùa thu năm tân sửu 1781 nầy, Đang mang hương sắc ngập ngừng của tuổi mười bốn. Vẻ đẹp chưa khai mở của cô đã làm vị vương tử 20 tuổi mê say. Điều nầy cộng với lòng thương yêu sẵn có của quốc mẫu Nguyễn Thị Hoàn, cô chính thức được phong làm Tả cung tần. Trong nhiều dịp, cô được gọi là nhị phi trong vai em của chánh phi Tống Thị Lan.

Có những lúc trăng soi chênh chếch
Nghiêng về đâu những lối Phú Xuân
Nhớ đường nội phủ nghe thơ ấu
Nhớ bến Tư Dung thấy nỗi buồn

Đông giáp ngọ qua rồi tang tóc (1774)
Mà thương đau cứ mãi vẫn còn
Tìm đâu những mảnh kinh thành cũ
Những lối đường xưa những cỏn con

Lòng son sắt đưa về Thuận Hóa
Làng An Du nối được Sài Gòn
Bao năm xa cách bao mừng tủi
Vui vẻ sum vầy mẹ với con

Rồi từ đó Sài Gòn diễn tiến
Duyên ba sinh ai trọn vẹn thề
Ai người họ Tống đi xuất giá
Ai Nguyễn theo chồng bỏ song khuê

Ai những kẻ tây chinh về lại
Ai còn bên đất tháp Oudong
Nghe ra danh trấn Angkor cũ
Đã mất đi đâu thú tang bồng

Đông kỷ hợi đất giồng đất ruộng (1779)
Định biên dinh từ mỗi dinh biên
Ai về Gia Định mùa khô ấy
Chắc thấy đường biên rõ mỗi miền

Bỏ biệt nạp chín trường đất cũ
Lập Kiến Khương một dải bên sông
Trường Đồn mở lớn thành dinh lớn
Lưng dựa Tiền Giang sóng chập chồng

Xuân canh tý không còn ngăn ngại (1780)
Nhiếp chính vương xưng vị thượng vương
Bỏ dinh Điều Khiển về Bến Nghé
Ngưu Chữ – Tân Khai mở Nguyễn đường

Vương phi Tống mùa nầy trở dạ
Sinh hoàng nam một sớm tháng ba
Ơn trời vương đặt tên Phúc Cảnh
Thiên hạ mừng vui vận nước nhà

Tưởng yên bình hóa ra còn loạn
Đâu những ai binh biến Trà Vinh
Những người lưu xứ Chân Miên ấy
Chống trả quân binh dậy bất bình

Quan ngoại hữu Thành Nhân xuất chiến
Giúp Công Trừng an định lưu dân
Trà Vinh trở lại thành yên ổn
Vết nứt Việt Chân cũng mất dần

Thân lân quốc rất cần buổi ấy
Gởi người đi đến xứ Xiêm La
Tiếc rằng Nguyễn sứ không về nữa
Tiếc mối oan khiên Mạc tộc nhà

Thảm thương ấy rồi ra cũng lặng
Chỉ đoạn giao mà tích binh tài
Ngờ đâu nội chính không thuận thảo
Khéo chữ “quân thần” ai giết ai!

Đỗ Thành Nhân trở thành mai một
Nguyễn Ánh vương sao giết nhân tài
Bao năm phò chúa duyên đã tận
Nhân thế ai ngờ vẫn mỉa mai

Huỳnh Tường Đức theo ai mà bỏ
Nguyễn Văn Thành cũng bỏ Đông Sơn
Lê Quân mới quá ân tình vụn
Đỗ Bảng cùng ai luống ngậm hờn

Không Đông Sơn binh triều vẫn tiến
Không súng Bồ quân Nguyễn vẫn đi
Bình Khang một trận thư hùng ấy
Quân Nguyễn nhà nam được những gì

Cánh quân bộ khi yên khi động
Vượt Diên Ninh chiếm mấy đồn thành
Hoa Bông bỏ ngỏ trong thinh lặng
Diên Khánh như là chẳng chiến tranh

Cánh thủy chiến tràn lên Hòn Khói
Vịnh Vân Phong chờ đợi bao giờ
Tây Sơn đuổi Nguyễn về sông cái
Bỏ lại thuyền ai lạc chỏng chơ

Vương thượng Ánh không ngờ thế trận
Kế Long Nhương Nguyễn Huệ khôn lường
Buộc Châu Tiếp chạy về cố thổ
Bỏ Nha Trang mà đáo Tà Lương

Đường chinh chiến mấy ai biết được
Cuộc Bình Khang thất trận chưa qua
Bên trời Gia Định sinh biến động
Người cũ Đông Sơn hóa giặc nhà

Những Đỗ Bảng Võ Nhàn về lại
Hẹn hò nhau mà tế đệ huynh
Ba Giồng trăng phủ vạn hơi sương
Trăm kiếm lung linh một chiến trường

Đánh Lương Phú tháng năm năm nhuận (1781)
Giết cai cơ Tống Phước Nguyễn triều
Bên đường quân tiến về dinh trấn
Người chết vô cùng biết bao nhiêu

Dẫu có thắng nhưng thù khó trả
Hạ chưa qua mà nắng chẳng còn
Bao ngày binh biến như ngọn nến
Cháy vội bùng lên đốt sắt son

Đất Ba Giồng không còn Đỗ Bảng
Làng Phước Yên cũng mất Võ Nhàn
Trường Đồn nay đổi thành Trấn Định
Đông Sơn như thể khói chiều tan

Lòng vương Nguyễn đan xen được mất
Đâu nghĩa ân đâu những vương quyền
Đi đâu mà trải cho thanh thản
Lại khéo vô tình sính nợ duyên

Trần Thị Đang trở thành thứ thiếp
Tả cung tần cung hậu thứ phi
Xuân xanh còn khép như hoa nụ
E ấp chưa khai đủ xuân thì

_____________________________

*theo Nguyễn Phúc tộc Thế Phả, thì Nguyễn Phúc Mẫn không phải con của bà Nguyễn Thị Hoàn, mà là con của người chị. Hai người chị em nầy đều là vợ của Nguyễn Phúc Côn (thân phụ Nguyễn Ánh). Tuy vậy, hai bà vẫn coi các con như con ruột của mình.

<<  |  >>