Skip to content

Chương 28

ÁNH CHIẾM LẠI GIA ĐỊNH, NHẠC LÊN NGÔI HOÀNG ĐẾ, TÂY SƠN TẤN CÔNG GIA ĐỊNH LẦN THỨ BA

      Tháng 9 năm 1777. Tàn tận. Binh triều Nguyễn hầu như chẳng còn ai. Nguyễn Phúc Xuân, cha con Mạc Thiên Tứ lạc mỗi nơi mỗi nhóm. Cậu thiếu niên Nguyễn Ánh và hai đứa em nhỏ, cùng một vài người nữa lại ở nhóm khác. Ngoài Mạc Thiên Tứ không có ai đáng mặt nguy hiểm, nên không là mối quan tâm lớn của Nguyễn Huệ. Ông cho truy tìm họ như truy tìm một đám tàn binh nhỏ, mà điểm chú ý được chỉa vào cha con họ Mạc. Việc trước mắt là bình định Gia Định. Nguyễn Huệ chỉnh đốn toàn bộ vùng mới chiếm. Ông giải quyết mọi việc rất nhanh. Trong vòng nửa tháng ông xác định ở đâu là yếu điểm, ở đâu là đường huyết mạch, và giao vùng đất mới cho các thuộc tướng trông coi. Họ là tổng đốc Chu, hổ tướng Hãn, tư khấu Uy, điều khiển Hòa và cai cơ Chấn*. Khi Gia Định đã không còn gươm đao, Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ kéo binh về Qui Nhơn theo lệnh của vương anh. Đoàn quân chiến thắng được Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc, quân lính, và dân chúng tung hô.

      Nguyễn Huệ đã thành người hùng, nhưng người thanh niên 24 tuổi nầy trăn trở khôn nguôi. Bằng cách nào từ một đứa bé thôn dã như ta đã lật đổ một vương triều? Chính ta đã giết hai vị chúa mà thiên hạ đã tôn thờ. Tay ta còn dính máu. Huệ nhớ tới thầy giáo Trương Văn Hiến và cảm thấy có lỗi với ông. Ông dạy ta trung quân, ông dạy cho ta cách xử thế. Liệu xử thế như thế có đúng không? Ta phải ghé thăm An Thái để nói nỗi lòng của ta với thầy. Quân binh nhà Nguyễn vẫn còn, và không hiếm người dân Gia Định có lòng hoài Nguyễn. Họ nhìn vào Thái Thượng vương và Tân Chính vương như những ngọn đèn mà họ đi theo. Ta không thể nào làm khác hơn là phải diệt đi những ngọn đèn đó. Chắc rằng thầy sẽ hiểu cho ta. Ta sẽ giải thích với Thái An cho nàng bớt sợ hãi. Nàng không có ý niệm sâu sắc gì về lịch sử, nàng chỉ sợ chiến tranh và sợ ta giết người. Chắc nàng sẽ hiểu cho ta. Nghĩ thế, Huệ đến thăm thầy giáo Hiến. Quả, ngoài dự đoán của Huệ. Ông Hiến không phân tích đúng sai, không bàng hoàng mà chỉ yên lặng. Ông yên lặng nhìn xa xăm vào một thời nào đó. Thỉnh thoảng, lại nói thầm đôi câu tỏ ra căm hờn Trương Phúc Loan. Ông đem vị quyền thần nầy làm cái thớt, để chặt những thứ gì mà ông không nói ra. Huệ hiểu, Huệ thấy đắng cổ họng. Và buổi gặp gỡ trở nên khô cứng hơn, khi Huệ biết bà giáo Hiến và cả Thái An đều tránh mặt.  Huệ ra về trong nỗi buồn rười rượi. Vị tướng quân được mọi người tung hô đã ở lỳ trong phủ thành Qui Nhơn nhiều ngày. Phủ thành nầy không còn là trung tâm quyền lực, mà chỉ là những dãy nhà dành cho quân đội. Đó là lúc tướng quân Nguyễn Huệ gặp con bé Thọ Hương. Đứa cháu đến thăm chú. Người chú không đá động gì đến người chồng hờ hoàng tôn Dương của đứa cháu, và cuộc chiến vừa rồi. Người chú nợ đứa cháu một câu hỏi, mà nó không dám hỏi ra. Có một khoảng trống giữa hai chú cháu vốn rất thân thiện từ trước. Ông khỏa lấp khoảng trống nầy bằng cách hỏi thăm những người mà cả hai chú cháu đều quen biết. Bùi Thị Xuân và Phạm Thị Liên được nhắc tới trong trường hợp nầy. Hương cho hay Xuân vẫn luyện tập võ nghệ và hạnh phúc bên chồng, nhưng Liên đã rút lui đời quân ngũ trở về nhà. Lúc đầu Liên thường hay đi chùa, nhưng sau đó thì mất biệt. Huệ u uẩn nghĩ đến người con gái họ Phạm, và biết nàng thất vọng về mình. Mỗi người rời xa Huệ bằng mỗi cách khác nhau. Giữa hào quang và nỗi buồn thật riêng ấy, một người con gái khác đã đến với Huệ: Bùi Thị Nhạn. Nhạn vốn là cô ruột nhưng chỉ bằng tuổi Bùi Thị Xuân, nên cô cháu họ rất thân nhau. Qua Xuân, Huệ đến với Nhạn như một kẻ bị xua đuổi gặp được một mái nhà. Nhạn không đẹp như Thái An, không hiền như Liên, nhưng là một bông hoa xuân thì. Nhạn là người yêu thứ 3 và trở thành người vợ chính thức của Nguyễn Huệ giữa một ngày cuối đông năm 1777.

      Trong lúc Nguyễn Huệ cưới vợ ở Qui Nhơn thì cha con Mạc Thiên Tứ, Nguyễn Phúc Xuân, và anh em Nguyễn Ánh ở đâu? Những người chết hụt ở Long Xuyên đã thất lạc nhau.  Mãi nhiều ngày sau cha con họ Mạc và nhóm của hoàng thân Xuân mới gặp nhau ở Hòn Đất, Hà Tiên. Họ dùng thuyền trốn qua Xiêm La, khi không gặp thêm nhóm nào khác. Riêng Nguyễn Ánh và hai người em thì vẫn lẩn trốn ở đạo Long Xuyên và đạo Kiên Giang. Đây có thể nói là thời kỳ bắt đầu của một Gia Long nhà Nguyễn. Hai cái chết của Thái Thượng vương Nguyễn Phúc Thuần và Tân Chính vương Nguyễn Phúc Dương là nỗi đau, nhưng cũng là cái may của nhà Nguyễn Gia Miêu. Sự chia rẽ như một vết nứt nhỏ, nhưng nó sẽ mở toang ra nếu hai người nầy còn sống. Vô hình trung Nguyễn Ánh đã gom lại hai lực lượng của nhà Nguyễn làm một. Không những thế ông còn là ngọn đuốc bừng sáng cho những người đứng ngoài sự chia rẽ đó. Họ là những người vượt biên vào miền Nam sau biến cố Giáp Ngọ 74, nhưng không chọn ngã về bên nào.

      Tất cả sự tập hợp nầy chưa thành hình, đó là chuyện về sau. Ngay mùa thu năm 1777 ấy, Nguyễn Ánh đang còn là một con nai mắc nạn. Ánh được một người đội trưởng trong trận chiến cuối cùng cứu đi. Đó là Dương Công Trừng. Nhờ là người ở đạo Long Xuyên nên thuộc đường, Trừng đưa anh em Ánh chạy thoát khi chúa Thuần bị bắt. Trừng đưa Ánh chạy về hướng tây, và đến bờ sông Khoa trong đêm. Phải trốn nhiều ngày trong đầm lầy rừng rú, Nguyễn Ánh mới dám giả dạng đi ra vùng dân cư. Sử nhà Nguyễn nói trong một đêm ông đã 3 lần dùng thuyền đi trốn, nhưng cả 3 lần đều bị một con cá sấu cản lại. Sáng hôm sau mới hay quân Nguyễn Huệ đang lục soát con đường mà Nguyễn Ánh định đi qua. Điều nầy hàm ý Nguyễn Ánh có mạng đế vương được thần linh che chở, nhưng chưa hẳn điều nầy đã đúng. Sự thật, nhiều người dân vùng sông nước vẫn nghĩ tới những vị tiên chúa nhà Nguyễn khai phá phương Nam mà Dương Công Trừng là một. Nhờ những người vô danh nầy mới đưa Ánh đến thầy giảng Tánh và cha Paul Hồ Văn Nghị ở họ đaọ Hà Tiên. Với đức tin và lòng bác ái, hai vị nầy tiếp tay giúp Ánh. Họ lén lút nuôi ăn, và nuôi dưỡng lòng tin an lành trong lòng Ánh.

      Qua những ngày gian khó trong rừng, giúp Ánh dày dạn thêm. Ánh tìm cách rời bỏ vùng lục địa càng sớm càng tốt. Qua cha Nghị, Ánh có được những tay chèo tín cẩn đưa anh em ông đến được đảo Thổ Châu. Đảo nầy đã được Mạc Cửu dâng cho chúa Nguyễn Phúc Chu trong hệ thống trấn Hà Tiên từ năm 1708. Trong nhiều thập niên sau đó Thổ Châu là nơi truyền đạo Thiên Chúa lý tưởng trong khi đất liền đang bị cấm. Hệ thống truyền đạo từ Pondichéry, thuộc địa Pháp ở Ấn Độ, tỏa rộng đến các nước Đông Nam Á rất có hiệu quả ở các đảo ngoài khơi. Nhờ vậy, ngay trong những ngày đầu đến đảo trong mùa xuân năm 1778, Ánh gặp được một vị thừa sai mới vừa rời Chân Lạp ghé lại đây: Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc). Ông nầy đã từng lập họ đạo Hòn Đất ở Hà Tiên và là bề trên của cha Nghị, nên dễ dàng hiểu được nhân thân, nỗi khổ, và nguyện vọng của Ánh. Ánh được hứa sẽ được hội truyền giáo Pháp vận động vua Louis XVI giúp đỡ tạo thanh thế. Tương lai với nhiều hi vọng còn xa, nhưng ngay lúc bấy giờ linh mục Bá Đa Lộc đã làm một điều thực tế. Ông giới thiệu một người Pháp tên Joang ở Chân Lạp đến giúp Ánh (theo sử ký Đại Nam Việt, khuyết danh). Joang biết chế tạo một loại trái phá nhỏ gọn, nhưng có thể sát hại nhiều người. Được sự giúp đỡ nầy, Ánh sắp đặt trở về Long Xuyên chiêu binh.

      Trong cuộc chiêu quân âm thầm ấy, Dương Công Trừng thừa lịnh Ánh tìm lại những tướng sĩ thất lạc và những người bạn mới. Rất khó để tìm những người chưa từng quen biết trong lúc nầy. Chỉ duy có Nguyễn Văn Thoại là người mới, số còn lại đều là những người cũ thất lạc. Họ là những Tống Phước Lương, Hồ Văn Lân, Nguyễn Văn Hoằng, Nguyễn Văn Nhân, Võ Di Nguy, Tô Văn Đoài, Tôn Thất Cốc, và một số quân sĩ khác. Trong sự chiêu tập âm thầm  ấy, Ánh gặp lại Đỗ Thành Nhân hơi muộn hơn những người đầu tiên kia. Nhớ lại. Lần chúa Thuần sai Đỗ Thành Nhân đi Bình Khang cầu viện, khi trở về gặp Tây Sơn trên biển Bình Thuận. Trần Văn Thức tử thương, Nhân và Lê Văn Quân mang số binh tiếp viện còn lại đến Trấn Giang mong hộ giá chúa Thuần. Chưa về đến nơi, Đỗ Thành Nhân đã nghe tin số phận của vị chúa Nguyễn thứ chín nầy. Sẵn đã thù Tây Sơn, nên cái tin đau nhói ấy đã làm người thủ lãnh Đông Sơn hừng hực căm thù. Đỗ Thành Nhân đưa Lê Văn Quân về Ba Giồng, gom huynh đệ quyết mất còn với Nguyễn Huệ. Bản thân Đông Sơn không đủ chính nghĩa và không đủ mạnh để làm một cuộc phục hưng, nên Nhân đi tìm Ánh. Dĩ nhiên Ánh là chúa và Nhân là thần, nhưng trong lòng Nhân không đủ kính trọng như đã từng với chúa Thuần. Ánh biết điều nầy, nhưng bỏ qua. Lúc nầy không phải là lúc so kè hơn thiệt. Ngoài huynh đệ Đông Sơn trong lần tái tụ ấy, Ánh còn thêm được một lực lượng khác.

      Đó là lực lượng từ Phú Xuân đã lần lượt vào Gia Định sau biến cố giáp ngọ 1774. Họ là những người cố chạy theo triều đình lưu vong Nguyễn Phúc Thuần bằng những chuyến tàu ra khơi tự túc. Họ đánh đổi số mạng với biển khơi, với quân Trịnh và quân Tây Sơn suốt từ Thuận Hóa đến Bình Thuận. Họ tìm đến Gia Định là một mực trung thành với nhà chúa Nguyễn. Trong số đó có quận công Tống Phước Khuông, một ngoại thích được tiếng liêm khiết và tài năng. Ông nầy nguyên là anh rể của chúa Thuần, chồng của công nữ Ngọc Quận đã mất. Ông và người vợ sau họ Lê cùng các con đến Sài Gòn vào mùa đông năm 1776, đó là thời gian hai chú cháu Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương đã chia rẽ. Tống Phước Khuông thất vọng. Ông và nhiều người đồng tâm trạng như Tôn Thất Hội, Trần Đại Thể, Phạm Văn Nhân sống lặng lẽ không nghiêng về bên nào. Nếu trong thời gian ấy họ chỉ sống với chút tước phẩm cũ không thực dụng, thì dưới một Nguyễn Ánh phục hưng họ nhập cuộc.

      Với những lực lượng đến từ nhiều nơi cộng với vũ khí do Joang cung cấp, Nguyễn Ánh quyết định khởi sự. Tháng 10 năm đinh dậu 1777 quân sĩ cùng các tướng Tống Phước Lương, Đỗ Thành Nhân và Tống Phước Khuông đều mặc đồ tang đi đánh giặc.  Thủ phủ Long Hồ bị đánh úp khi đám quân áo trắng đã ém quân từ những ngày trước. Điều khiển Hòa (Tây Sơn) không phải là tay tầm thường, nhưng sức mạnh của thủ pháo đã làm ông thất bại. Tương tự như Long Hồ, ở Trường Đồn, Trấn Biên, Phiên Trấn, quân Tây Sơn đều chịu chung số phận. Chỉ một tháng quân Nguyễn Ánh đánh thốc từ Hà Tiên lên Sài Gòn. Từng loạt trái đạn cầm tay đã quyết định tình hình. Tàn quân Tây Sơn phải rút về Qui Nhơn đầu tháng 12 năm 1777. Sự chiến thắng và sự thất bại nầy đã khiến cả hai bên chú ý thêm về lực lượng phương tây. Trước đây cả Nguyễn và Trịnh đều buôn bán súng ống với thuyền buôn Bồ Đồ Nha, và công ty Đông Ấn Hà Lan, nhưng sự ngăn cấm truyền giáo đã làm giới hạn. Nay thì khác, cái nhìn đã thay đổi.

      Chiếm được Sài Gòn vào cuối năm trước thì đầu năm sau, năm 1778, Nguyễn Ánh được ba quân tôn xưng đại nguyên soái giữ quyền nhiếp chính. Để có thêm uy tín kêu gọi quốc dân, vị nhiếp chính 16 tuổi nầy thực hiện hai việc. Một: cho người đi tìm ấn quốc Đại Việt Quốc Nguyễn Chúa Vĩnh Trấn Chi Bảo đã bị thất lạc năm 1777.  Một cai cơ hầu cận Định vương Nguyễn Phúc Thuần, đã chôn quốc ấn và kim sách ở Tra Giang thuộc Phiên Trấn trên đường chạy nạn. Hai: dâng tôn thụy hiệu Anh Mẫn Huệ Hòa Hiếu Định Vương lên vị chúa quá cố nầy. Làm hai điều có tính thiêng liêng nầy cộng với quân đội đương có, cộng với sự giúp đỡ của giáo sĩ Bá Đa Lộc là quả một chuyện lớn. Nó được cả danh và phẩm. Thách thức Tây Sơn trong những ngày tới.

      Tây Sơn thì sao? nhớ lại mùa hè năm 1777. Khi Trần Văn Thức và Lê Văn Quân đem binh sĩ Bình Khang đi cứu viện Trấn Giang thì Nguyễn Nhạc tấn công Phú Yên. Dù Châu Văn Tiếp và người em gái Doãn Thị Đậu tài ba, nhưng không đủ quân số trang trải cả Phú Yên, Bình Khang và Bình Thuận. Quân Tây Sơn do Trần Quang Diệu chỉ huy vượt đèo Cù Mông. Họ tràn qua Đồng Xuân, Tuy Hòa, Nha Trang, Cam Ranh, Phan Thiết chỉ trong vòng 15 ngày. Sự chóng vánh nầy xảy ra vì Châu Văn Tiếp đặt ưu tiên việc đi cứu chúa Thuần, nên các địa danh nêu trên không có lực lượng thiện chiến. Các vị huynh trưởng của Châu Văn Tiếp là Doãn Chữ, Doãn Chấn và Doãn Húc đều bị chết trong thất bại nầy.

      Còn lại, gồm những đoàn binh thất trận, họ Châu mang tất cả chạy vào Gia Định. Nó kịp lúc Nguyễn Ánh cần quân tiến chiếm Sài Gòn như đã nói ở trên. Lực lượng Châu Văn Tiếp đã giúp Lê Văn Quân thành một vị tướng nổi trội trong mắt Ánh vào dịp nầy.  Được và mất chồng lên nhau. Tháng 12 năm 1777 quân Nguyễn lấy được Gia Định trở lại, nhưng lại mất từ đèo Cù Mông đến Phan Thiết vào tay Tây Sơn. Nếu đem lên bàn cân, quả Tây Sơn đã bị thiệt về nguồn lương thực. Nhưng chính điều thiệt hại nầy làm cho anh em Tây Sơn nhận chân một điều: cần phải tương nhượng với các giáo sĩ phương tây.  Không phải “thằng Chủng” đã thắng ở Gia Định chỉ bằng những trái đạn lạ cầm tay đó hay sao?

      Tuy nhiên, việc giao tiếp với người tây phương lại gặp khó khăn. Vốn xuất thân từ đạo quân áo vải và cũng không ưa một tín ngưỡng ngoại nhập, nên Tây Sơn không có một sự giao thiệp với các thuyền buôn nước ngoài. Nguyễn Nhạc băn khoăn trước tình huống ấy, nhưng Nguyễn Huệ nhìn bối cảnh trước mắt dễ dàng hơn. Tại Qui Nhơn, Nguyễn Huệ bàn với anh mình nên lên ngôi hoàng đế. Phải có địa vị nầy để tăng sức mạnh lòng quân, để phủ đầu một đại nguyên soái Nguyễn Ánh ở Gia Định, và để có đủ uy tín để giao dịch với những giáo sĩ và bọn lái buôn phương tây. Tháng giêng  năm 1778 Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc được quân tướng tôn lên ngôi vua. Ông đặt niên hiệu Thái Đức, và cho đắp kiên cố thành Đồ Bàn thành một kinh thành. Người ta đặt thành nầy là thành Hoàng Đế. Nó uy nghi bên cạnh những bước đầu canh tân của một ông vua từ hàng dân dã. Thuế giảm. Thả tù. Giáo sĩ Thiên Chúa không còn bị cấm đi ngoài đường. Đổi lại, những thùng súng điểu thương đầu tiên đưọc mang lên bờ từ những thuyền buôn cập bến Thị Nại.

      Có được vũ khí mới để đối đầu với thủ pháo của Nguyễn Ánh, cuộc nam chinh lần thứ ba được thực hiện. Lần nầy Nguyễn Huệ không đi. Ông phải ở lại Qui Nhơn để giúp vua anh kiện toàn một triều đình mới. Tổng đốc Chu chỉ huy cuộc hành quân nầy.  Đầu tháng 2 năm mậu tuất rơi vào giữa tháng 3 năm 1778, ông Chu với hai phó tướng, tư khấu Uy, và hộ giá Phạm Ngạn  mang ba ngàn quân lên đường. Mục tiêu là Sài Gòn – Bến Nghé. Biết được điều nầy, vị đại nguyên soái 17 tuổi Nguyễn Ánh sẵn sàng đối địch. Một lực lượng dàn quân trên kênh Thông ở phía đông thủ phủ Bến Nghé do tướng Châu Văn Tiếp và phó Tống Phước Lương chỉ huy. Sài Gòn và mặt nam giao cho Đông Sơn Nguyễn Thành Nhân trấn giữ. Phía đông Sài Gòn ở đoạn sông Phước Bình do Trần Phượng trải quân. Phượng vốn là phó tướng của Lý Tài ngày trước, dẫn Hòa Nghĩa quân còn lại giúp Nguyễn Ánh. Mặt đông bắc hướng về Trấn Biên do Nguyễn Văn Thành đảm trách. Bản thân đại nguyên soái Nguyễn Ánh lui về bên bờ Lật Giang để tổng chỉ huy. Ông dựng cờ “Tam Quân Tư Mệnh” để điều động quân tướng các nơi. Cai cơ Dương Công Trừng, Nguyễn Văn Thoại, Lê Văn Quân đi theo nguyên soái, và sẵn sàng yểm trợ cho bất cứ mặt trận nào.

      Khi Tây Sơn cập cửa Ghềnh Rái, hầu như các đơn vị tiền phương Nguyễn đều bỏ ngỏ. Tây Sơn tiến dọc theo Lòng Tàu không có đồn chốt nào chịu đựng được nửa canh giờ. Các đồn chốt nầy rút lui. Họ đón đường đánh du kích trả đũa, nhưng không có kết quả.  Mãi đến khi đến sông Phước Bình mới gặp Hòa Nghĩa quân của Trần Phượng. Tinh thần biển khơi vẫn còn sót lại, Hoà Nghĩa quân đã kịch chiến với Tây Sơn. Rất tiếc, Trần Phượng không phải là Lý Tài, mà Phạm Ngạn là tay trợ thủ có hạng của thủ lãnh Nguyễn Nhạc trước đây. Họ Phạm đã đuổi Hòa Nghĩa quân chạy vào chi lưu Phước Lộc. Dù thắng được Trần Phượng, nhưng Phạm Ngạn lại tiến sâu vào vùng không phải là mục tiêu. Trong lúc đó tổng đốc Chu và tư khấu Uy ngược dòng Phước Bình tiến về ngã ba Nhà Bè. Tại đây hai lực lượng nầy bị Nguyễn Văn Hoằng chặn lại. Chiến trận ở ngã ba Tam Giang nầy không lớn, Tây Sơn chỉ bị dụ đuổi theo ngược dòng sông Phước Long (sông Đồng Nai) thay vì tiến về sông Tân Bình (sông sài Gòn).  Họ  tiếp tục đuổi theo quân ông Hoằng trên dòng sông chia hai bờ Trấn Biên và Phiên Trấn.

      Quả vậy, khi trở lại Bến Nghé quân số của tổng đốc Chu chỉ còn trên một ngàn người, và không liên lạc được với Phạm Ngạn ở Phước Lộc.  Vị tổng đốc Tây Sơn họ Chu không lường được trận chiến Bến Nghé.  Quân nhà Nguyễn đã có những thuyền chiến vẽ hình hình lân hình rồng đậu ở sông Bến Nghé. Không những họ dàn quân ở đó, Châu Văn Tiếp còn ém quân bên từng đụn sình lầy để chờ Tây Sơn. Họ trồi lên như từng đàn nhân ngư biến trận. Chưa kịp phản ứng trước lối dàn quân lạ, thì Tây Sơn gặp Đông Sơn do đích thân Đỗ Thành Nhân từ Sài Gòn ào ào kéo tới. Đông Sơn tận sức ra tay, khi Tây Sơn còn ngơ ngác với đạo quân dính đầy bùn của Châu Văn Tiếp. Quân Nguyễn làm chủ tình hình mau chóng. Cả tổng đốc Chu, và tư khấu Uy cùng hàng trăm quân lính tử thương ở đây. Tất cả số còn lại đầu hàng. Chiến thắng nầy đã giúp chiến trường đi một bước rất nhanh đến các nơi khác. Lẻ tẻ dọc theo hạ nguồn sông Tân Bình những tướng Liêm, Lăng (Không rõ họ) đều bị chết. Chỉ một mình tướng Phạm Ngạn chưa kịp dẫn quân về Bến Nghé thoát được. Quân họ Phạm trở lại Ghềnh Rái chỉ còn là một đám tàn binh, nhưng may mắn chạy về được Qui Nhơn. Trên đà chiến thắng đó, đầu tháng 5 năm 1778  Lê Văn Quân tái chiến Bình Thuận. Chiến thắng nầy cũng rất mau chóng, làm Nguyễn Ánh hài lòng. Với sự tin tưởng vào một tài năng mới, vị đại nguyên soái họ Nguyễn rút Lê Văn Quân về cho những cuộc hành quân khác.  Ông giao  Bình Thuận cho thống nhung Nguyễn Văn Hoằng có chưởng tiền quân Tôn Thất Dụ phụ tá. Xứ sở mới vừa tái chiếm nầy trực thuộc phủ Gia Định cả về mặt hành chính lúc bấy giờ.

Đất Gia Định không còn chinh chiến
Khải hoàn quân một sớm trở về
Qui Nhơn cờ lộng vui chiến thắng
Có kẻ trong lòng lặng tái tê

Thầy giáo Hiến trông về kinh cũ
Thương Nguyễn triều thương tiếc Định vương
Nghe rằng giam lỏng chùa sắc tứ
Sao lại oan khiên ở giữa đường

Tướng Long Nhương không lường cớ sự
Nghe râm ran từng mỗi mất còn
Tình đi theo cách riêng từng cách
Người mất xa người tận cỏn con

Là chiến tướng như non như núi
Lại mong manh như hạt sương rơi
Buồn thiu căn gác Qui thành phủ
Để mỗi đời đi mỗi phận đời

Bùi Thị Nhạn trở thành phu phụ
Chuyện trăm năm nào biết mai sau
Đương thời tàn Nguyễn ra sao nhỉ
Gia Định làm chi những tháng ngày

Sau cuộc chiến Hà Tiên đứng đợi
Mấy ai đi ai đứng ai về
Kẻ đi thủ phủ thành Vọng Các
Kẻ mất sơn hà lạc sơn khê

Chàng Nguyễn Ánh về đâu rừng nước
Đâu sông Khoa đâu đất phù sa
Đâu đàn cá sấu đêm huyền thoại
Đâu những mong manh dựng Nguyễn nhà

Từ Long Xuyên băng qua Rạch Giá
Ở Hà Tiên hay ở Kiên Giang
Ở đâu gặp được cha Hồ Nghị
Duyên phận từ đây lắm nghĩ bàn

Vị quốc vị nhà lời phi thị
Bán non bán nước chữ thị phi
Giá mà ai biết lời của biển
Chắc biết ngày xưa Ánh nghĩ gì

Ánh đã gặp ai người giáo sĩ
Ở nơi đâu Phú Quốc Thổ Chu
Mênh mông muôn sóng lời vương vấn
Huống lọ Gia Miêu bỏ hận thù

Cuộc chiến hẹn mùa thu trở lại
Mượn súng gươm từ độ xuân về
Nửa năm hoài Nguyễn gom cũ mới
Tang trắng công đồn chiếm lại quê

Từ Long Xuyên đi về Sa Đéc
Trận Long Hồ binh lửa sục sôi
Trấn Biên Phiên Trấn theo nhau vỡ
Mậu tuất tinh mơ đổi chủ rồi (1778)

Xuân mậu tuất không còn Nguyễn chúa
Mà nơi nơi tụ nghĩa nhân quần
Bao người ẩn náu ngày chia rẽ
Nay tụ quân về quân với quân

Nguyễn Phúc Ánh chưa từng mong đợi
Mà chính danh lại cũng chính vương
Ơn trời tìm được kim quốc ấn
Bùn đất sông Tra lấm đoạn trường

Được quốc ấn truy tôn người chú
Nguyễn Định vương như đã nối dài
Mượn người giáo sĩ tây phương ấy
Hẹn lấy sơn hà trong sớm mai

Nguyễn hò hẹn, Tây Sơn nào chẳng
Phải khéo khôn để đứng giữa trời
Dung giáo sĩ đợi thuyền mua súng
Cuộc hùng tranh há chỉ cuộc chơi!

Xuân mậu tuất giữa trời Tuy Viễn (1778)
Thành Đồ Bàn Nguyễn Nhạc lên ngôi
Nguyên niên Thái Đức đi chinh chiến
Một trận chinh nam đã sắp rồi

Xuân chưa hết ngàn quân đã tiến (1778)
Nào khấu Uy, Phạm Ngạn, tổng Chu
Đường qua mấy nhánh qua Phiên Trấn
Quân tướng nam chinh bỗng rối mù

Sông Phước Bình sao về Phước Lộc
Đến Nhà Bè sao ghé Trấn Biên
Nguyễn quân dụ dỗ mà không nói
Để lạc quanh co tới trận tiền

Đâu Bến Nghé đâu dinh Điều Khiển
Đâu Sài Gòn đâu những sông con
Tổng Chu mờ mịt cơn mạt vận
Quân Nguyễn vang danh trận sống còn

Danh đã có phận đà cũng có
Nguyễn triều xưa thức dậy quyền oai
Tràn qua Bình Thuận gom trở lại
Gia Định thênh thang giấc đông đoài

________________________________________

*Đây là tên các vị tướng Tây Sơn viết theo Đại Nam Thực Lục của sử quán nhà Nguyễn

<<  |  >>