Skip to content

Chương 27

TÂY SƠN ĐÁNH GIA ĐỊNH LẦN 2, CHẤM DỨT TRIỀU ĐẠI CHÚA NGUYỄN

      Không chú tâm đến mần chia rẽ ở Thăng Long, Tây Sơn vương theo dõi sự rạn nứt của chú cháu chúa Nguyễn ở Gia Định. Đông Sơn và Hòa Nghĩa đương bất hòa là cơ hội cho Tây Sơn. Tháng 3 năm 1777 Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc cử Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ mang đại quân nam tiến. Đây là lần thứ hai Tây Sơn tiến vào Gia Định. Mười lăm ngàn quân cập vịnh Gềnh Rái thay vì cửa Soài Rạp như Nguyễn Lữ trước đây. Họ tiến quân theo hai ngả. Một: Nguyễn Huệ trực tiếp dẫn cánh quân 8 ngàn người theo sông Lòng Tảo tiến về Sài Gòn. Các tướng đi theo gồm có Lê Văn Hưng và Phạm Văn Tham. Hai: 7 ngàn quân còn lại do Đặng Văn Long chỉ huy ngược sông Thị Vải tiến về Trấn Biên. Đặng Xuân Bảo, Lê Văn Lộc, Trương Văn Đa theo cánh quân nầy.

      Thấy quân Tây Sơn chia làm 2 ngả, Tân Chính vương hội ý với Thái Thượng vương và tướng lãnh. Thái Thượng vương với tư cách chỉ huy tổng quát ở lại Sàỉ Gòn, có tướng Võ Di Nguy bảo vệ.  Lý Tài được lịnh tiến quân về ngã ba Tam Giang tiến xuống sông Lòng Tàu. Đây là đạo quân Hoà Nghĩa với 8 ngàn binh sĩ làm khuynh đảo phe thân Thái Thượng vương, đến nỗi Đông Sơn phải kéo về Ba Giồng ít tháng trước. Tân Chính vương tin đạo quân nầy cầm chân được Nguyễn Huệ, để bản thân ông chỉ huy cự chiến với Đặng Văn Long ở cánh đông dọc theo sông Thị Vải.  Ông đặt bản doanh bên bờ sông nầy, và sai tướng Nguyễn Đại Lữ trải quân theo hành lang ngang. Đó là khu rừng đước dọc theo sông Đồng Tranh nối với Lý Tài ở Lòng Tàu.  Khi chưa trải xong, hành lang nầy đã trở thành một chiến trường ác liệt. Ở đầu Lòng Tàu, Nguyễn Huệ đứng trước đầu thuyền vượt từng con lạch nhỏ chỉ huy cuộc tấn công. Tám ngàn quân kịch chiến với tám ngàn quân trên bùn, rễ cây, lá, và nước.  Lý Tài biết mình đang chiến đấu với ai. Kẻ phản bội nầy quyết đem sức bình sinh chống lại Nguyễn Huệ. Họ Lý cố đem lòng tự hào biển khơi ngày xưa để giữ tinh thần, nhưng quả vẫn còn khiếp sợ. Khi nắng chiều rọi xuống những vệt máu đỏ thẩm, Hoà Nghĩa quân đã tan tác. Họ mất đi hơn một nửa quân số. Nếu Nguyễn Huệ ra lịnh giết Lý Tài trên trận tiền, thì họ Lý đã chết rồi. Nguyễn Huệ muốn bắt sống Lý Tài, nên ông ta đã may mắn thoát được. Số phận không may ấy lại dành lên lưng tướng Nguyễn Đại Lữ. Ông thọ thương rồi chịu chết cùng với hàng trăm binh sĩ dưới quyền, và hàng ngàn binh sĩ của Hoà Nghĩa quân.

      Ở Ngã ba Thị Vải – Đồng Tranh, Tân Chính vương gặp Tây Sơn Đặng Văn Long. Người thợ rèn năm xưa nầy tài lược hơn vị vương tử nhà Nguyễn rất nhiều. Dù được tham tán Nguyễn Đăng Trương cố vấn, nhưng Tân Chính vương cũng không phải là đối thủ của đô đốc Đặng Văn Long. Trận chiến tại sông Thị Vải đến sông Gò Gia đã làm cánh quân của chưởng cơ thủy quân Nguyễn Cửu Tuấn tan tác. Ông Tuấn cùng vô số binh sĩ đã chết ở đây. Tương tự như thế ở đoạn Ký Giang gặp ngòi Nữ Tăng, chưởng cơ Nguyễn Cửu Đàm cũng hi sinh. Mất cả hàng ngàn quân sĩ và ba thuộc tướng cùng một lúc, Tân Chính vương mới biết mình không phải là một chiến tướng chỉ huy. Nỗi hoang mang trước tình thế trước mắt làm vị vương tử hoảng sợ. Thấy có thể nguy hiểm cho một quân vương ở trận tiền, tham tán Nguyễn Đăng Trường xin Tân Chánh vương rút quân về lại Bến Nghé. Họ bỏ lại một chưởng cơ Tống Phước Lương với quân số chưa được một nửa. Điều nầy không khác gì vùng đông Trấn Biên nầy đứng trước giờ thất thủ. Thật vậy, chỉ một ngày sau họ Tống phải rút chạy về Biên Hòa, khi hay tin quân Nguyễn Huệ đang lùng sục Lý Tài ở ngã ba Tam Giang.

      Theo chiến thuật đánh chí tử vào một điểm, Tây Sơn dồn hai mũi đổ bộ lên Nhà Bè. Ngược dòng Đồng Nai, Nguyễn Huệ và Đặng Văn Long tiến chiếm hữu ngạn sông Sài Gòn. Những rạch Bàng, rạch Đĩa, kinh Ruột Ngựa, gò Mai Khâu đều không chặn được bước tiến của họ. Sài Gòn – Bến Nghé bỏ ngỏ. Đây là lần đầu tiên Nguyễn Huệ vào Gia Định, ông biết mình chậm chân hơn Lý Tài và Tân Chính vương trong việc rút chạy. Hai người nầy nhanh chân về Bến nghé và đưa cả Thái Thượng ra đi. Lực lượng nầy chạy ra khỏi lũy Tân Hóa, chạy về Hóc Môn. Từ Cần Giuộc, chưởng cơ Trương Phúc Thận hay tin hai vị chúa chạy nạn, vội vã tiến quân ngược dòng Rạch Cát (sông Cần Giuộc) về cứu giá. Nhưng Tây Sơn nào để yên. Họ từ Bến Nghé tiến dọc theo sông Vàm Thuật truy đuổi đoàn binh thất trận. Trận chiến ở Thới Tam Thôn giữa Tây Sơn và liên quân Lý Tài – Trương Phúc Thận không có kết quả khả quan cho binh triều Nguyễn. Họ giết được một quan tuần sát và chừng vài chục quân lính Tây Sơn, nhưng đổi lại họ chỉ còn là một đám quân tả tơi và ly tán. Mỗi nhóm người chạy tạc mỗi nơi, và không liên lạc được. Lý Tài thu được một số tàn quân chạy về miền tây với hy vọng vừa tránh xa Tây Sơn vừa đến gần Trấn Giang của Mạc Thiên Tứ. Không may cho họ Lý, điều mong đợi của ông không thành. Khi băng qua Lật Giang đến Ba Giồng thì gặp quân Đông Sơn. Oan gia lại gặp oan gia lúc cùng đường. Lý Tài bị chết dưới tay Đỗ Thành Nhân ở một nơi không phải lãnh địa của mình. Cùng lúc ấy, ở địa bàn cù lao Phố cũng có một trận tàn sát một nhánh Hòa Nghĩa quân chạy về đây. Tây Sơn thực hiện điều nầy như là một sự trả thù Lý Tài bội phản. Nó đã liên lụy một cách quá đáng đến nhiều người Tàu ủng hộ họ Lý.

      Mất Hòa Nghĩa quân, nhưng Tân Chính vương gặp lại được quân Cần Giuộc của Trương Phúc Thận vẫn còn ở Ba Giồng. Lúc nầy Nguyễn Đăng Trường, Nguyễn Phúc Xuân, Võ Di Nguy lạc ở đâu không rõ, nhưng vẫn còn Nguyễn Phúc Chí. Ông Chí gặp được cả hai đạo quân của Tống Phước Hòa và Tống Phước Hựu. Hai vị nầy đã lạc cánh quân của Thái thượng vương trong mấy ngày nay. Họ đang tụ lại. Bên cạnh đó, đạo quân của chưởng cơ Tống Phước Thiêm từ Long Hồ cũng kéo đến. Thu gom tất cả những còn lại nầy, Tân Chính vương nghĩ mình đủ sức mạnh. Vị tân vương 18 tuổi quyết định lui quân về địa bàn Rạch Chanh để chống Tây Sơn. Trong lúc ấy thì Thái Thượng vương lạc về Đăng Giang (một vùng thuộc đạo trường đồn/ dinh trường đồn/ tỉnh Định Tường sau nầy) và quanh mình chỉ còn lại mấy đứa cháu Đồng, Ánh, Mân, Thiển, và một tên cai đội mang quốc ấn cùng kim sách. Anh nầy tên Lê Chử, nhưng rất tiếc anh ta cũng không mang giữ được hai thứ quốc hồn nầy bên mình. Anh đã dấu chúng bên dòng sông nhỏ tên Tra Giang trên đường chạy từ Hóc Môn về đây. Liệu rằng còn hay mất khó mà biết được, nhưng nó không phải là mối bận tâm lúc nầy. Chúa Thuần lo tìm được một lực lượng nào có thể bảo vệ được nhóm quân ít ỏi đi theo mình. Rất may, Nguyễn Ánh tìm được Đỗ Thành Nhân trong lúc nầy. Vị thủ lãnh Đông Sơn cũng đang đi tìm chúa Thuần, và cuộc hạnh ngộ nầy thật tuyệt diệu. Đỗ Thành Nhân rước vị chúa mà ông trung thành về Ba Giồng với niềm tin lật lại tình hình.

      Trong lúc mưu sự chưa thành thì cả Rạch Chanh và giồng Tài đều bị Tây Sơn tấn công. Tháng 4 năm 1777, liên quân thủy bộ Tây Sơn tràn qua hai nơi nầy như một cơn lốc xoáy. Nguyễn Huệ từ cửa Đại, Đặng Văn Long từ Lật Giang xoáy tròn cả vùng đất kẹp giữa hai nhánh Rạch Chanh và Bảo Định. Nó xé hai căn cứ của Tân Chánh vương và Thái Thượng vương như xé hai ngôi nhà lá dừa bên sông. Hai cánh quân binh triều Nguyễn tan tác một lần nữa. Giồng lũng Tam Phụ đến 9 xứ biệt nạp của đạo Trường Đồn heo hút những ngày tàn cuộc chiến. Hai vị chúa Nguyễn lại lao đao con đường chạy loạn.

      Dĩ nhiên là tiếp tục đi sâu về miền tây. Thái Thượng vương được Đỗ Thành Nhân hộ giá vượt sông Tiền, và tình cờ gặp được hai nhóm bại binh của Nguyễn Phúc Xuân và Trương Phúc Thận chạy về đây trước đó. Lực lượng mạnh hơn, và họ vượt qua được bên kia sông Hậu đến Trấn Giang. Đô đốc Mạc Thiên Tứ và tham tướng Mạc Tử Dung đón tiếp vị chúa Nguyễn thứ chín với lòng trung thành như đã có. Họ cố tạo một cảm giác an toàn cho chúa Nguyễn Phúc Thuần, nhưng quả thực sự phục hồi Hà Tiên – Trấn Giang sau chiến tranh Xiêm Việt 1772 vẫn còn chậm. Binh lính chưa đủ mạnh đến mức tin cậy, chúa Thuần phái Đỗ Thành Nhân gấp rút đi Bình Khang gọi Châu Văn Tiếp và Trần Văn Thức  tiếp viện. Ông và những đứa cháu Đồng, Ánh…thấp thỏm chờ đợi điều tốt lành hơn ở Trấn Giang. Thời gian nầy họ được cha con Mạc Thiên Tứ bảo vệ.

      Nếu Thái Thượng vương Nguyễn Phúc Thuần chạy sâu tới bên kia bờ Hậu Giang, thì Tân Chính vương còn ở bên nay bờ Tiền Giang. Vị vương tử nầy chỉ chạy đến Trà Tân (Cai Lậy), và được chưởng cơ Tống Phước Thiêm đưa qua sông về Ba Việt (Chợ Lách, Bến Tre). Ba Việt vừa gác đầu lên Hàm Luông, vừa duỗi chân về Cổ Chiên, vừa là địa phận Long Hồ của chưởng cơ Thiêm. Lợi thế ấy, một lần nữa vị vương tử có thể gọi là vị chúa thứ 10 nầy quyết định chống lại Tây Sơn. Ông sai Tống Phước Hựu giữ Mỹ Lung, và Tống Phước Thiêm giữ Hương Đôi. Tự mình đảm trách chỉ huy cuộc chiến với sự tham mưu của ông chú Nguyễn Phúc Chí, và đám quân hộ vệ của Tống Phước Hòa.

      Thời tiết đã chớm thu. Trấn Giang bên bờ sông Hậu và Ba Việt bên bờ sông Tiền trở thành hai cứ điểm của hai chúa Nguyễn. Tình hình nguy khốn lúc bấy giờ làm cả hai chúa và quân tướng hai nơi đều khép lại khoảng cách trong lòng họ. Họ liên lạc với nhau, và đều chờ đợi lực lượng cứu viện từ Bình Khang. Rất tiếc lực lượng nầy không đến được. Dù Bình Thuận, Bình Khang, Phú Yên không bị công phá, nhưng không thể bỏ hết mà đi. Chỉ có tiết chế Phú Yên Trần Văn Thức và  Lê Văn Quân, một thuộc hạ của Tiếp, là hai tướng quân cứu viện. Mỗi người mang theo khoảng một ngàn binh sĩ theo Đỗ Thành Nhân ra khơi. Thuyền đến hải phận Bình Thuận đã bị hải quân Tây Sơn từ Gềnh Rái đón đánh. Nhờ xuôi gió quân Tây Sơn đã đánh tan tành nhóm quân của Đỗ Thành Nhân và Lê Văn Quân. Hai vị nầy may mắn chạy thoát được, nhưng tướng Trần Văn Thức chết lúc đang chiến đấu. Hơn hai trăm binh sĩ còn lại phải đầu hàng. Họ trở thành nhóm hàng binh Tây Sơn đầu tiên, và được gởi đến vùng độn Phước Tuy nằm giữa Sài Gòn và Bình Thuận.

      Cánh quân tiếp viện tan hàng trung tuần tháng 7 năm 1777, thì chỉ ít ngày sau Tây Sơn tấn công quân đồn trú của Tân Chính vương. Địa thế sình lầy giữa hai nhánh sông Hàm Luông và Cổ Chiên không cản được quân Tây Sơn. Họ vượt qua Hàm Luông giữa ban ngày, và đánh chiếm trạm trú phòng Hương Đôi trong chớp nhoáng. Điều nầy xảy ra vì quân Nguyễn vốn khiếp quân Tây Sơn ở Sài Gòn, và không có tướng nào đương cự nổi với hai cây đại đao của Nguyễn Huệ và Đặng Văn Long. Mất Hương Đôi, chưởng cơ Tống Phước Thiêm rút về Ba Việt. Điều nầy giống như một cách dẫn đường không hơn không kém. Giữa những rạch ngòi chằng chịt ở Ba Việt bỗng chốc đã đầy những cờ đào và ánh kiếm. Tây Sơn đã đến.  Cuộc chiến không khoan nhượng xảy ra. Dù Tống Phước Hựu từ Mỹ Lung kịp trở về trợ chiến, nhưng binh triều Tân Chính vương không phải là đối thủ của Tây Sơn. Chưa đầy một canh giờ giao tranh, thiếu phó Tôn Thất Chí và Tống Phước Hựu đều bị tử thương. Nội vệ Nguyễn Mẫn liều mình để đưa Tân Chính vương chạy về tới cánh quân của chưởng cơ Tống Phước Hòa. Mẫn đã hy sinh trong lúc nầy, nhưng vương Dương vẫn đến đường cùng. Chưởng cơ họ Tống chưa kịp mang tàn lực đón vương từ một con rạch nhỏ, thì vương đã bị bắt. Ở bên nầy bờ rạch, vị chưởng cơ từng trấn thủ địa đầu Ô Loan đành bất lực. Ông nhìn Tân Chính vương và 18 người khác bị bắt đi, ông rút kiếm tự kết liễu đời mình. Trong trận Ba Việt nầy chỉ còn một mình cai đội Nguyễn Văn Nhân dẫn được mấy người lính chạy thoát. Đó là một ngày cuối tháng 7 năm 1777.

      Diệt được Tân Chính vương chỉ là mới diệt được một nửa binh triều Nguyễn. Dĩ nhiên Tây Sơn Nguyễn Huệ không dừng lại. Cuộc hành quân Trấn Giang phải tiếp tục. Muốn đến đó phải vượt qua chiều ngang dinh Long Hồ đầy rạch ngòi lau sậy. Lên thuyền xuống nước nhiều chặn, họ đến được châu Doanh bên bờ rạch Măng Thít. Dấu tích cuộc chiến giữa Trần Thượng Xuyên và quân Chân Lạp 80 năm trước chẳng còn gì, nhưng từ đây họ định hướng được con đường ngắn nhất đến Trấn Giang. Lội bộ. Cuộc tiến quân rất vất vả trên đường tắt sình lầy, nhưng các đạo quân Tây Sơn cũng đến được thủ phủ của trấn thành nầy vào thượng tuần tháng 8 năm 1777.

      Quân của Thái Thượng vương nhà Nguyễn vừa mới rút đi. Không ai chỉ chính xác hướng rút lui, nhưng không khó để Tây Sơn tìm được họ. Xâu chuổi những tin tức có được, Nguyễn Huệ đã biết lối truy tìm. Ba ngày sau một cuộc chiến không cân sức bên bờ kênh nhỏ đổ về sông Hậu ở Long Xuyên* (nhắc khác với đạo long xuyên tức cà mau được thành lập năm 1757) đã xảy ra. Số phận của những người bị săn đuổi đã đến chỗ cuối cùng. Chúa Nguyễn Phúc Thuần, vương tử Nguyễn Phúc Đồng, chưởng cơ Trương Phúc Thận, lưu thủ Lượng, và tham mưu Nguyễn Danh Khoáng đều bị bắt. Họ bị xử chết. Không biết người ở bên bờ hữu ngạn Hậu giang có để ý đến chuyện thịnh suy còn mất của dòng chảy lịch sử hay không, nhưng mùa thu năm 1777 ấy, xứ sở nầy vừa chứng kiến sự chấm dứt của vương triều chúa Nguyễn. Nó đã kéo dài đúng 219 năm ở Đàng Trong với những chiến tranh và mở mang bờ cõi.

Cõi nam bắc Tây Sơn trông rõ
Mùa sang xuân chinh chiến nơi nao (1777)
Đất trời Gia Định trêu số phận
Vừa rũ nhung y lại chiến bào

Cập Ghềnh Rái gươm đao sáng loáng
Sông Lòng Tàu, Thị Vải quanh co
Hai đường quân tiến Tây Sơn tiến
Người chết hai bên chẳng hẹn hò

Hai ta địch ai ta ai địch
Ai Tây Sơn ai lại Gia Miêu
Trên rừng ngập mặn bao người chết
Vệt máu trêu chi vệt nắng chiều

Cánh Lòng Tàu bao nhiêu quân tướng
Hòa Nghĩa quân run rét Long Nhương
Lý Tài nợ lớn chàng Nguyễn Huệ
Phải bỏ Đồng Tranh thế cùng đường

Nguyễn Đại Lữ thọ thương chịu chết
Dòng Phụ lưu đã phụ Nguyễn triều
Nhìn qua Thị Vải qua sông Ký
Binh tướng hôm nào (Cửu Đàm Cửu Tuấn) đã vong tiêu

Mất quân tướng mất lòng kiêu hãnh
Tân Chánh vương thu lại Sài Gòn
Cùng quân Thái Thượng ai còn mất
Quang gánh lên đường bỏ nước non

Lũy Tân Hóa không còn yên ổn
Đồng Hóc Môn nỗi khó vương đầy
Ai người hộ giá theo chúa Nguyễn
Ai kẻ đường xa kịp nước mây

Trương Phước Thận còn đầy dũng khí
Kéo quân từ Cần Giuộc về tây
Hẹn quân Hòa Nghĩa hưng binh lại
Đinh dậu xuân phân vận hội nầy (1777)

Tưởng gầy dựng nhưng thời không thuận
Đất bằng yên mà sóng lao xao
Tây Sơn rầm rộ tây Phiên Trấn
Vàm Thuật sông con sắc cờ đào

Thới Tam Thôn hôm nao kịch chiến
Chiều chưa qua mà cuộc đã tàn
Ai đi đường bắc ai ở lại
Ai ngóng đường tây ngóng Trấn Giang

Đường tây rộng sao đi lạc lối
Hòa Nghĩa quân sao ghé Ba Giồng
Chiều lên thủ phủ Đông Sơn ấy
Có kẻ thù nhau chết bến sông

Đường lạc lối không riêng họ Lý
Cả Tân vương lại cả Thượng vương
Đâu đường sông nhỏ đâu sông nhỏ
Nguyễn chúa hai nơi lạc hai đường

Đường sông Chanh, Tân vương chạy đến
Đường sông Đăng, Thái Thượng ngập ngừng
Duyên trời lại gặp quan ngoại hữu
Trở lại Ba Giồng tụ nghĩa quân

Nầy Kì Lân nầy là giồng Yến
Nầy Qua Qua giồng giữa giồng biên
Nơi nao Tam Phụ nhen bếp lửa
Mà lại ra đi chẳng toại nguyền

Duyên như tận con thuyền nhà Nguyễn
Gió Tây Sơn thổi suốt rạch Chanh
Lối xưa hoàng phủ còn tan nát
Huống lọ mong manh chút đất vành

Người cứ chạy kể chi khanh tướng
Bỏ sau lưng từng khúc giang sơn
Ai gom cung kiếm về Ba Vát
Ai đến Trấn Giang ngắm nỗi hờn

Hai chúa Nguyễn từng cơn chờ đợi
Đợi Bình Khang tiếp viện trong mê
Ơn trời không đến không tròn vẹn
Đợi mãi người đi chẳng thấy về

Thế đã thế sang thu đinh dậu (1777)
Chống sao xong ngằn ngặt Tây Sơn
Bên dòng sông biếc Hàm Luông ấy
Cờ kiếm Tây Sơn dậy dập dờn

Bỏ Hương Đôi, Phúc Thiêm rút chạy
Bỏ Mỹ Lung, Phúc Hựu tan hàng
Gom về Ba Việt như về tổ
Trận chiến vô cùng máu chứa chan

Ai nội vệ vội vàng chịu chết
Ai quận công tự sát hi sinh
Bên kia rạch nhỏ con đường nhỏ
Ai bỏ non sông bỏ cả mình!

Bình Ba Việt, Tây Sơn tây tiến
Hẹn Trấn Giang mà diệt Định vương
Đường đi mấy nẻo Long Xuyên đạo
Chúa ở nơi nao chúa cùng đường?* (nói 5 cái long xuyên)

Thành Trấn Giang ai thương ai nhớ
Xứ Đàng Trong ai mất ai còn
Chín đời chúa Nguyễn ai khép lại
Ai khóc ai cười ai nước non!

<<  |  >>