Skip to content

Chương 27

TÂY SƠN ĐÁNH GIA ĐỊNH LẦN 2, CHẤM DỨT TRIỀU ĐẠI CHÚA NGUYỄN

      Không chú tâm đến mầm chia rẽ của nhà Trịnh ở Đông Kinh (Thăng Long), Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc theo dõi sự rạn nứt và tình hình ở Gia Định. Theo đó, sự bằng lòng làm Thái Thượng vương của chúa Nguyễn Phúc Thuần đã làm những người trung thành với ông mất phương hướng. Đông Sơn vẫn nằm ở Ba Giồng, cha con Mạc Thiên Tích im lặng ở Hà Tiên, Những người như Võ Di Nguy – Tô Văn Đoài thì không thấy xuất hiện. Quyền lực nằm trong tay Tân Chánh vương, và ông ta tỏ ra là người chịu đương đầu với khó khăn.

      Đầu tháng 3 năm 1777 tân vương chuyển một cánh quân lớn đến Long Thành, thuộc miền đông Trấn Biên. Đây là một điều phối chiến thuật, khi nghe tin Tây Sơn sẽ tấn công Bến Nghé bằng đường thượng đạo. Trên năm ngàn quân được trưng dụng, và đích thân tân vương Nguyễn Phúc Dương chỉ huy cánh quân nầy. Tham mưu Nguyễn Đăng Trường, ngoại tả Nguyễn Cửu Đàm, chưởng cơ Trường đà Nguyễn Đại Lữ, chưởng cơ thủy quân Nguyễn Cửu Tuấn, chưởng cơ bộ binh Tống Phước Lương là những thuộc tướng đi theo. Tân Chánh vương đặt bản doanh ở chân núi Nữ Tăng, và trải quân dọc theo sông Thị Vãi ở phía đông.  Tương tự,  sông Đồng Tranh ở phía tây và sông Ký Giang ở phía bắc  ngọn núi chỉ huy  nầy đều có quân canh giữ.

      Không hoàn toàn chính xác như tin Tân Chánh vương có được, nhưng Tây Sơn tấn công Bến Nghé là có thật. Trung tuần tháng 3 năm 1777 Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ được lịnh mang đại quân nam tiến. Đây là lần thứ hai Tây Sơn tiến vào Gia Định, nhưng là lần thứ nhất Nguyễn Huệ xuất chinh. Mười lăm ngàn quân cập vịnh Gềnh Rái, thay vì di chuyển đường bộ từ Bình Thuận như tin đồn. Họ tiến quân theo hai ngả. Một: Nguyễn Huệ trực tiếp dẫn cánh quân 8 ngàn người tiến theo sông Lòng Tàu. Lê Văn Hưng và Phạm Văn Tham là hai tướng phụ tá. Hai: 7 ngàn quân còn lại do Đặng Văn Long chỉ huy ngược lên sông Thị Vãi. Đặng Xuân Bảo, Lê Văn Lộc, Trương Văn Đa theo cánh quân nầy.

      Thấy quân Tây Sơn không chuyển quân theo thượng đạo, Tân Chánh vương lập tức thay đổi kế hoạch. Ông ra lịnh Lý Tài mang quân bản bộ từ Sài Gòn tiến về sông Lòng Tàu. Đây là đạo quân Hòa Nghĩa với 8 ngàn binh sĩ, đã từng làm Đông Sơn Đỗ Thành Nhân phải kéo binh về Ba Giồng ít tháng trước. Tân Chính vương tin đạo quân nầy cầm chân được Nguyễn Huệ. Bản thân vương, từ Long Thành tiến xuống cự chiến với Tây Sơn Đặng Văn Long từ Ghềnh Rái đi lên. Nguyễn Đại Lữ được lịnh trải quân theo hành lang ngang, để bắt tay với Lý Tài. Đó là khu rừng đước dọc theo sông Đồng Tranh nối với Lòng Tàu.

      Khi chưa trải quân xong, hành lang ngang nầy đã trở thành một chiến trường ác liệt. Ở đầu Lòng Tàu, Nguyễn Huệ đứng trước đầu thuyền vượt từng con lạch nhỏ chỉ huy cuộc tấn công. Tám ngàn quân kịch chiến với tám ngàn quân. Họ đánh nhau trên bùn, rễ cây, lá, và nước.  Lý Tài biết mình đang chiến đấu với ai. Kẻ phản bội Tây Sơn nầy quyết đem sức bình sinh chống lại Nguyễn Huệ. Họ Lý cố đem lòng tự hào biển khơi để giữ tinh thần, nhưng quả vẫn còn khiếp sợ. Chiến cuộc đi qua chỉ một canh giờ cận chiến đã biết kết quả. Không ít số lính Hòa Nghĩa đã biết danh Nguyễn Huệ trong trận Phú Yên với Tống Phước Hiệp, nên không còn tinh thần chiến đấu. Họ cố tìm cách lẩn trốn, làm những người lính mới càng khiếp đảm. Do vậy, chết và chạy xảy ra liên tục. Khi nắng chiều không còn soi rõ những khoảng tối, Hoà Nghĩa quân đã không còn ai cầm cự. Họ phải bỏ lại những đồng đội bị thương để chạy đi. Quân số thoát chết chỉ non một nửa, trong đó có Lý Tài. Nếu Nguyễn Huệ ra lịnh giết họ Lý, thì kẻ hàng tướng nầy đã chết rồi. Vị Long Nhương tướng quân Tây Sơn muốn bắt sống Lý Tài, nên ông ta đã may mắn chạy thoát. Số phận không may ấy lại dành lên lưng chưởng cơ Nguyễn Đại Lữ. Ông Lữ thọ thương rồi chịu chết cùng với hàng trăm binh sĩ dưới quyền, và hàng ngàn binh sĩ của Hoà Nghĩa quân.

      Ở cánh Thị Vãi, Tân Chính vương gặp Tây Sơn Đặng Văn Long. Người thợ rèn đúc súng Hỏa Hổ tài lược hơn vị vương tử nhà Nguyễn rất nhiều. Dù được tham tán Nguyễn Đăng Trường cố vấn, nhưng Tân Chính vương cũng không phải là đối thủ của đô đốc Đặng Văn Long. Lối nghi binh của tướng Long đã làm Tân Chánh vương không kịp điều quân chính xác. Vị tân vương đã sai lầm, khi sai chưởng cơ thủy quân Nguyễn Cửu Tuấn tiến sâu xuống kênh Gò Gia để đánh bọc hậu. Ông Tuấn cùng hàng trăm binh sĩ bị phục kích ở đây để không còn một ai sống sót. Khác với Gò Gia, ở sông Ký Giang phía bắc, ngoại tả Nguyễn Cửu Đàm lại không được tiếp viện. Vị cựu quan Điều Khiển phủ Gia Định đã hy sinh ở đây.

      Mất cả hàng ngàn quân sĩ và ba thuộc tướng cùng một lúc, Tân Chính vương biết mình không phải là một chiến tướng chiến trường. Nỗi hoang mang trước tình thế trước mắt làm vị vương tử hoảng sợ. Thấy có thể nguy hiểm cho một quân vương ở trận tiền, tham tán Nguyễn Đăng Trường xin Tân Chánh vương rút quân về Bến Nghé. Họ để lại chưởng cơ Tống Phước Lương với quân số chưa được một phần mười lúc ra đi. Điều nầy không khác gì vùng đông Trấn Biên nầy đứng trước giờ thất thủ. Thật vậy. Chỉ một ngày sau, Tống Phước Lương cũng phải bỏ Thị Vãi. Đó là lúc quân binh Tây Sơn đã làm chủ toàn vùng Thất Kỳ giang (vùng có rất nhiều kênh rạch đan xen giữa sông Lòng Tàu và sông Thị Vãi). Họ tràn qua hữu ngạn sông Soài Rạp.

      Ba cứ điểm quân Nguyễn ở rạch Đĩa, rạch Bàng, và gò Mai Khâu đều bỏ chạy. Tây Sơn vượt qua kênh Tẻ. Họ chiếm khu tam giác Tân Hội trước mặt. Nơi đây chỉ cách Bến Nghé bằng một con rạch cùng tên. Tây Sơn tràn qua. Cả Sài Gòn – Bến Nghé đã bị bỏ trống, vùng vương phủ nầy vắng tanh. Binh triều Nguyễn chẳng còn ai. Nguyễn Huệ biết mình chậm chân hơn Lý Tài và Tân Chính vương trong việc rút chạy. Hai người nầy nhanh chân đưa cả Thái Thượng vương Nguyễn Phúc Thuần ra đi. Lực lượng phe Nguyễn rút ra khỏi lũy Tân Hóa, chạy về Hóc Môn.

      Tin nầy nhanh chóng bắn về Cần Giuộc. Chưởng cơ Trương Phúc Thận ở đây vội vã mang quân về cứu giá. Ông ngược dòng sông Rạch Cát (sông Cần Giuộc) với hi vong kịp thời tìm được hai nhà chúa. Tây Sơn không biết lực lượng nầy. Nguyễn Huệ tiếp tục đưa quân dọc theo khúc đồi núi Tân Sơn, phía ngoài lũy Tân Hóa tiến về hướng tây.  Chỉ hai ngày sau, hai bên đụng độ. Trận chiến ở Thới Tam Thôn giữa Tây Sơn và liên quân Lý Tài – Trương Phúc Thận diễn ra. Tưởng liên quân Lý – Trương lấy lại thế cân bằng, nhưng lại thất bại. Họ giết được một quan tuần sát và chừng vài chục quân lính Tây Sơn, nhưng đổi lại họ chỉ còn là những đám quân tan tác. Tây Sơn đánh mạnh trên từng mỗi thước vuông. Quân Nguyễn chạy lạc mỗi nhóm mỗi nơi, và không biết tin tức nhau. Lý Tài thu được một số tàn quân chạy về miền tây. Vị thủ lãnh sa cơ nầy hy vọng vừa tránh xa Tây Sơn vừa đến gần Trấn Giang của Mạc Thiên Tứ. Không may cho họ Lý, điều mong đợi của ông không thành. Khi băng qua Lật Giang đến Ba Giồng thì gặp quân Đông Sơn. Oan gia lại gặp oan gia lúc cùng đường. Lý Tài bị chết dưới tay Đỗ Thành Nhân ở một nơi không phải lãnh địa của mình. Cùng lúc ấy, ở địa bàn cù lao Phố cũng có một trận tàn sát nhắm vào Hòa Nghĩa quân chạy về đây. Tây Sơn thực hiện điều nầy như là một sự trả thù Lý Tài bội phản. Nó đã liên lụy một cách quá đáng đến nhiều người Minh Hương từng ủng hộ họ Lý.

      Mất Hòa Nghĩa quân, nhưng Tân Chính vương gặp lại được quân Cần Giuộc của Trương Phúc Thận ở Ba Giồng. Lúc nầy Nguyễn Đăng Trường, Nguyễn Phúc Xuân lạc ở đâu không rõ, nhưng vẫn còn Nguyễn Phúc Chí. Ông Chí gặp được đạo quân của Tống Phước Hựu, nhưng ông Hựu đã lạc mất Thái Thượng vương mà ông có trách nhiệm bảo vệ. Bên cạnh đó, đạo quân của Tống Phước Hòa và Tống Phước Thiêm từ Long Hồ cũng kéo đến. Thu gom tất cả những còn lại nầy, Tân Chính vương nghĩ mình đủ sức mạnh. Vị tân vương 18 tuổi quyết định lui quân về địa bàn Rạch Chanh để chống Tây Sơn.

      Trong lúc ấy thì Thái Thượng vương lạc về Đăng Giang, miền tây của đạo Trường Đồn. Bên ông chỉ còn lại mấy đứa cháu Đồng, Ánh, Mân, Thiển, và một cai đội mang quốc ấn cùng kim sách. Anh nầy tên Lê Chử, nhưng rất tiếc anh ta cũng không mang giữ được hai thứ quốc hồn nầy bên mình. Anh đã dấu chúng ở bến Nãi bên dòng sông Tra trên đường chạy từ Bến Nghé về đây. Liệu rằng ấn và kim sách còn hay mất khó mà biết được, nhưng nó không phải là mối bận tâm lúc nầy. Thái thượng vương Nguyễn Phúc Thuần lo tìm một lực lượng nào đó, có thể bảo vệ được nhóm quân ít ỏi của mình. Rất may, Nguyễn Ánh tìm được Đỗ Thành Nhân trong lúc nầy. Vị thủ lãnh Đông Sơn cũng đang đi tìm chúa Thuần, nên họ dễ gặp nhau. Cuộc hạnh ngộ nầy thật tuyệt vời. Đỗ Thành Nhân rước vị chúa mà ông trung thành về giồng Qua Qua ở Ba Giồng. Niềm tin lật lại tình thế được nhen lên.

      Trong lúc mưu sự chỉ như là một mầm cây chưa trồi lên mặt đất, thì cả Rạch Chanh và giồng Qua Qua bị Tây Sơn tấn công. Tháng 4 năm 1777, liên quân thủy bộ Tây Sơn tràn qua hai nơi nầy như một cơn lốc xoáy. Nguyễn Huệ từ cửa Đại, Đặng Văn Long từ Lật Giang xoáy tròn cả vùng đất kẹp giữa hai nhánh Rạch Chanh và kênh Bảo Định. Nó xé hai căn cứ của Tân Chánh vương và Thái Thượng vương như xé hai ngôi nhà lá dừa bên sông. Hai cánh quân binh triều Nguyễn tan tác một lần nữa. Giồng lũng Tam Phụ và 9 xứ biệt nạp xưa của đạo Trường Đồn heo hút những ngày tàn cuộc chiến. Hai vị chúa Nguyễn lại lao đao con đường chạy loạn.

      Dĩ nhiên là tiếp tục đi sâu về miền tây. Thái Thượng vương được Đỗ Thành Nhân hộ giá vượt sông Tiền, và tình cờ gặp được hai nhóm bại binh của Nguyễn Phúc Xuân và Trương Phúc Thận cũng chạy theo lối nầy. Lực lượng mạnh hơn, và họ vượt qua được bên kia sông Hậu đến Trấn Giang (Cần Thơ). Đô đốc Mạc Thiên Tứ và tham tướng Mạc Tử Dung đón tiếp vị chúa Nguyễn thứ chín với lòng trung thành như đã có. Họ cố tạo một cảm giác an toàn cho chúa Nguyễn Phúc Thuần, nhưng quả thực sự phục hồi Hà Tiên – Trấn Giang sau chiến tranh Xiêm Việt 1772 vẫn còn rất chậm. Binh lính chưa đủ mạnh đến mức tin cậy, chúa Nguyễn Phúc Thuần phái Đỗ Thành Nhân gấp rút đi Bình Khang gọi Châu Văn Tiếp đến tiếp viện. Ông và những đứa cháu, cùng người chú Nguyễn Phúc Xuân thấp thỏm chờ đợi điều tốt lành hơn ở Trấn Giang. Thời gian nầy họ gặp được những đội trưởng đội phó dẫn một vài ba tên lính tìm về. Tất cả đều vô danh, nhưng một lòng trung thành với chúa Nguyễn.

      Nếu Thái Thượng vương Nguyễn Phúc Thuần chạy sâu tới bên kia bờ Hậu Giang, thì Tân Chính vương Nguyễn Phúc Dương còn ở bên nay bờ Tiền Giang. Vị vương tử nầy chỉ chạy đến Trà Tân (Cai Lậy), và được chưởng cơ Tống Phước Thiêm đưa qua sông về Ba Việt (Chợ Lách, Bến Tre). Ba Việt vừa gác đầu lên Hàm Luông, vừa duỗi chân về Cổ Chiên, vừa là địa phận Long Hồ của chưởng cơ Thiêm. Với lợi thế ấy, vị vương tử có thể gọi là vị chúa thứ 10 nầy, một lần nữa quyết định chống lại Tây Sơn. Ông sai Tống Phước Hựu giữ Mỹ Lung, và Tống Phước Thiêm giữ Hương Đôi. Tự mình đảm trách chỉ huy cuộc chiến với sự tham mưu của ông chú Nguyễn Phúc Chí, và chưởng thủy Doanh quận công Tống Phước Hòa.

      Thời tiết đã chớm thu. Trấn Giang bên bờ sông Hậu và Ba Việt bên bờ sông Tiền trở thành hai cứ điểm của hai chúa Nguyễn. Tình hình nguy khốn lúc bấy giờ làm cả hai vị chúa và quân tướng hai bên đều khép lại khoảng cách trong lòng họ. Họ liên lạc với nhau, và đều chờ đợi lực lượng cứu viện từ Bình Khang của Châu Văn Tiếp. Rất tiếc lực lượng nầy không đến được. Dù Bình Thuận, Bình Khang, Phú Yên không bị công phá, nhưng Châu Văn Tiếp không thể bỏ hết mà đi. Chỉ có trấn binh Phú Yên Trần Văn Thức và  Lê Văn Quân, một thuộc hạ của Tiếp, là hai tướng quân đi cứu viện. Mỗi người mang theo khoảng một ngàn binh sĩ theo Đỗ Thành Nhân ra khơi. Không may, thuyền đến hải phận Bình Thuận gặp biến. Họ đã bị hải quân Tây Sơn từ Gềnh Rái đón đánh. Nhờ xuôi gió quân Tây Sơn đã nhanh chóng đánh tan đạo quân tiếp viện của nhà Nguyễn.  Đỗ Thành Nhân và Lê Văn Quân may mắn chạy thoát, nhưng tướng Trần Văn Thức chết lúc đang chiến đấu. Hơn hai trăm binh sĩ còn lại phải đầu hàng. Đám lính Nguyễn ở Bình Khang trở thành nhóm hàng binh Tây Sơn đầu tiên. Họ được gởi đến vùng độn Phước Tuy nằm giữa Sài Gòn và Bình Thuận.

      Cánh quân tiếp viện tan hàng trung tuần tháng 7 năm 1777, thì chỉ ít ngày sau Tây Sơn tấn công quân đồn trú của Tân Chính vương. Địa thế sình lầy giữa hai nhánh sông Hàm Luông và Cổ Chiên không cản được quân Tây Sơn. Họ vượt qua Hàm Luông giữa ban ngày, và đánh chiếm trạm trú phòng Hương Đôi trong chớp nhoáng. Điều nầy xảy ra vì quân Nguyễn vốn khiếp quân Tây Sơn ở Sài Gòn, và không có tướng nào đương cự nổi với hai cây đại đao của Nguyễn Huệ và Đặng Văn Long. Mất Hương Đôi, chưởng cơ Tống Phước Thiêm rút về Ba Việt. Điều nầy giống như một cách dẫn đường không hơn không kém. Giữa những rạch ngòi chằng chịt ở Ba Việt bỗng chốc đã đầy những cờ đào và ánh kiếm. Tây Sơn đã đến.  Cuộc chiến không khoan nhượng xảy ra. Dù Tống Phước Hựu từ Mỹ Lung kịp trở về trợ chiến, nhưng binh triều Tân Chính vương không phải là đối thủ của Tây Sơn. Chưa đầy một canh giờ giao tranh, thiếu phó Tôn Thất Chí và chưởng cơ Tống Phước Hựu đều tử thương.

      Trước tình thế nguy ngập, nội vệ Nguyễn Mẫn liều mình đưa Tân Chính vương chạy tới cánh quân của chưởng cơ Tống Phước Hòa. Mẫn đã hy sinh trong lúc nầy, nhưng Tân Chính vương vẫn đến đường cùng. Tống Phước Hòa chưa kịp mang tàn lực đón vương từ một con rạch nhỏ, thì vương đã bị bắt. Ở bên nầy bờ rạch, vị chưởng cơ từng trấn thủ địa đầu Ô Loan đành bất lực. Ông nhìn vị vương tử sa cơ, đến thẩn thờ. Tuyệt vọng. Tinh thần thờ chúa trung trinh đã khiến chưởng cơ Tống Phước Hòa rút kiếm tự kết liễu đời mình. Trong trận Ba Việt nầy chỉ còn một mình cai đội Nguyễn Văn Nhân dẫn được mấy người lính chạy thoát. Đó là một ngày cuối tháng 7 năm 1777.

      Diệt được Tân Chính vương chỉ là mới diệt được một nửa binh triều Nguyễn. Dĩ nhiên Tây Sơn Nguyễn Huệ không dừng lại. Cuộc hành quân Trấn Giang phải tiếp tục. Muốn đến đó phải vượt qua chiều ngang dinh Long Hồ đầy rạch ngòi lau sậy. Lên thuyền xuống nước nhiều chặn, họ đến được châu Doanh bên bờ rạch Măng Thít. Dấu tích cuộc chiến giữa Trần Thượng Xuyên và quân Chân Lạp 80 năm trước chẳng còn gì, nhưng từ đây họ định hướng được con đường ngắn nhất đến Trấn Giang. Lội bộ. Cuộc tiến quân rất vất vả trên đường tắt sình lầy, nhưng các đạo quân Tây Sơn cũng đến được thủ phủ của trấn thành nầy vào thượng tuần tháng 8 năm 1777.

      Quân của Thái Thượng vương nhà Nguyễn vừa mới rút đi. Không ai chỉ chính xác hướng rút lui, nhưng không khó để Tây Sơn tìm được họ. Xâu chuổi những tin tức có được, Nguyễn Huệ đã biết lối truy tìm. Ba ngày sau một cuộc chiến không cân sức bên bờ kênh nhỏ từ sông Hậu chảy về đạo Long Xuyên(*) đã xảy ra. Số phận của những người bị săn đuổi đã đến chỗ cuối cùng. Chúa Nguyễn Phúc Thuần, vương tử Nguyễn Phúc Đồng, chưởng cơ Trương Phúc Thận, lưu thủ Lượng, và tham mưu Nguyễn Danh Khoáng đều bị bắt. Không biết người ở đạo Long Xuyên có để ý đến chuyện thịnh suy còn mất của dòng chảy lịch sử hay không, nhưng trung tuần mùa thu năm đinh dậu 1777 ấy, xứ sở nầy vừa chứng kiến sự chấm dứt của vương triều chúa Nguyễn. Nó đã kéo dài đúng 219 năm ở Đàng Trong, với những chiến tranh và mở mang bờ cõi.

Cõi nam bắc Tây Sơn trông rõ
Mùa sang xuân chinh chiến nơi nao (1777)
Đất trời Gia Định trêu số phận
Vừa rũ nhung y lại chiến bào

Cập Ghềnh Rái gươm đao sáng loáng
Sông Lòng Tàu, Thị Vãi quanh co
Hai đường quân tiến Tây Sơn tiến
Người chết hai bên chẳng hẹn hò

Hai ta địch ai ta ai địch
Ai Tây Sơn ai lại Gia Miêu
Trên rừng ngập mặn bao người chết
Vệt máu trêu chi vệt nắng chiều

Cánh Lòng Tàu bao nhiêu quân tướng
Hòa Nghĩa quân run rét Long Nhương
Lý Tài nợ lớn chàng Nguyễn Huệ
Phải bỏ Đồng Tranh thế cùng đường

Nguyễn Đại Lữ thọ thương chịu chết
Dòng phụ lưu đã phụ Nguyễn triều
Nhìn qua Thị Vãi qua sông Ký
Cửu Đàm Cửu Tuấn đã vong tiêu

Mất quân tướng mất lòng kiêu hãnh
Tân Chánh vương thu lại Sài Gòn
Cùng quân Thái Thượng ai còn mất
Quang gánh lên đường bỏ nước non

Lũy Tân Hóa không còn yên ổn
Đồng Hóc Môn nỗi khó vương đầy
Ai người hộ giá theo chúa Nguyễn
Ai kẻ đường xa kịp nước mây

Trương Phước Thận còn đầy dũng khí
Kéo quân từ Cần Giuộc về tây
Hẹn quân Hòa Nghĩa hưng binh lại
Đinh dậu xuân phân vận hội nầy (1777)

Tưởng gầy dựng nhưng thời không thuận
Đất bằng yên mà sóng lao xao
Tây Sơn rầm rộ tây Phiên Trấn
Đồi thấp Tân Sơn con sắc cờ đào

Thới Tam Thôn hôm nao kịch chiến
Chiều chưa qua mà cuộc đã tàn
Ai đi đường bắc ai ở lại
Ai ngóng đường tây ngóng Trấn Giang

Đường tây rộng sao đi lạc lối
Hòa Nghĩa quân sao ghé Ba Giồng
Chiều lên thủ phủ Đông Sơn ấy
Có kẻ thù nhau chết bến sông

Đường lạc lối không riêng họ Lý
Cả Tân vương lại cả Thượng vương
Đâu đường sông nhỏ đâu sông nhỏ
Nguyễn chúa hai nơi lạc hai đường

Đường sông Chanh, Tân vương chạy đến
Đường sông Đăng, Thái Thượng ngập ngừng
Duyên trời lại gặp quan ngoại hữu
Trở lại Ba Giồng tụ nghĩa quân

Nầy Kì Lân nầy là giồng Yến
Nầy Qua Qua giồng giữa giồng biên
Nơi nao Tam Phụ nhen bếp lửa
Mà lại ra đi chẳng toại nguyền

Duyên như tận con thuyền nhà Nguyễn
Gió Tây Sơn thổi suốt rạch Chanh
Lối xưa hoàng phủ còn tan nát
Huống lọ mong manh chút đất vành

Người cứ chạy kể chi khanh tướng
Bỏ sau lưng từng khúc giang sơn
Ai gom cung kiếm về Ba Vát
Ai đến Trấn Giang ngắm nỗi hờn

Hai chúa Nguyễn từng cơn chờ đợi
Đợi Bình Khang tiếp viện trong mê
Ơn trời không đến không tròn vẹn
Đợi mãi người đi chẳng thấy về

Thế đã thế sang thu đinh dậu (1777)
Chống sao xong ngằn ngặt Tây Sơn
Bên dòng sông biếc Hàm Luông ấy
Cờ kiếm Tây Sơn dậy dập dờn

Bỏ Hương Đôi, Phúc Thiêm rút chạy
Bỏ Mỹ Lung, Phúc Hựu tan hàng
Gom về Ba Việt như về tổ
Trận chiến vô cùng máu chứa chan

Ai nội vệ vội vàng chịu chết
Ai quận công tự sát hi sinh
Bên kia rạch nhỏ con đường nhỏ
Ai bỏ non sông bỏ cả mình!

Bình Ba Việt, Tây Sơn tây tiến
Hẹn Trấn Giang mà diệt Định vương
Đường đi mấy nẻo Long Xuyên đạo
Chúa ở nơi nao chúa cùng đường?

Thành Trấn Giang ai thương ai nhớ
Xứ Đàng Trong ai mất ai còn
Chín đời chúa Nguyễn ai khép lại
Ai khóc ai cười ai nước non!

______________________________________

*Đạo Long Xuyên: tháng 11 năm 1757 chúa Nguyễn Phúc Khoát đặt xứ Cà Mau thành đạo Long Xuyên do Hà Tiên mở rộng lãnh thổ (coi chương 21/13)

<<  |  >>