Skip to content

Chương 26

TÂY SƠN ĐÁNH GIA ĐỊNH LẦN THỨ NHẤT, MẦM RẠNG NỨT CẢ NGUYỄN VÀ TRỊNH

      So ra 3 thế lực Trịnh, Tây Sơn và Nguyễn ở vào thời điểm mùa xuân 1776 nầy, thì Tây Sơn quả thật còn yếu. Nhỏ nhất cả về lãnh thổ và thế lực chính trị. Tuy nhiên, lúc nầy Tây Sơn đã “hàng” Trịnh nên không lo về mặt bắc, Nguyễn Nhạc quyết định làm một trận đánh thăm dò phương nam. Theo Nhạc thì quân Nguyễn của ba dinh Long Hồ, Trấn Biên và Phiên Trấn đã dồn vào mặt trận Bình Thuận – Phú Yên, thì Gia Định đang trống trải. Tháng 2 năm 1776, Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Lữ làm tiết chế nam chinh. Khả năng về thiên văn của Lữ lúc nầy đã tinh thông, nên được chọn để đưa quân vượt đường biển dài nhất kể từ trước.  Bên cạnh tiết chế Nguyễn Lữ, là hai dũng tướng Phan Văn Lân và Nguyễn Tuyết. Hàng trăm chiến thuyền ra khơi, mang theo nửa vạn chiến binh trong đợt nầy.

      Đây là đạo quân đầu tiên của Tây Sơn hành quân phương nam. Họ đến biển Bình Thuận thì gió xoay chiều. Tiết chế Nguyễn Lữ cho ghé vào hòn Bà. Đảo nhỏ và rất gần bờ Bình Thuận nên không thể ở lâu.  Lượng sức gió, mây, và độ ẩm, vị tiết chế nam chinh biết trời sẽ có mưa trong vài ngày nữa. Ông quyết định tấn công Cần Giờ vào thời điểm ấy.  Địch quân sẽ không đề phòng. Quả vậy.  Tây Sơn tiến vào cửa sông Soài Rạp lúc trời gần sáng của ngày thứ 3 (tính từ lúc ghé hòn Bà), thì không có đạo quân Nguyễn nào mang thuyền ra chống đỡ. Một dọc duyên hải đang chìm vào cơn mưa. Quân lính biên phòng biển nhanh chóng bị đánh tan, ngay tại đồn bảo ven bờ. Tây Sơn Nguyễn văn Tuyết cho thuyền quân tiến sâu vào đất liền. Họ đi vùn vụt nhờ gió biển thổi mạnh. Nó làm tăng thêm mức thần thánh của thầy tư Lữ. Nhanh chóng, mạnh bạo, và lòng gan dạ được thổi phồng lên theo cách truyền miệng.

      Liệu không đương cự nổi, quân Nguyễn di tản. Chưởng cơ Tống Phước Hựu hộ giá chúa Thuần về Đồng Lâm, Trấn Biên. Sài Gòn – Bến Nghé bỏ ngỏ. Nguyễn Lữ chiếm hết vùng nội vi thủ phủ nầy, và xua quân tiến ra ngoài lũy Tân Hóa truy kích. Tại vùng lau sậy phía tây nam nầy, không ai biết chúa Nguyễn Phúc Thuần ở đâu. Người ta chỉ thấy một đạo quân đang trốn chạy. Tây Sơn Nguyễn Văn Tuyết rượt đuổi đạo quân nầy, và tiến tới Mỹ Tho. Quân Nguyễn chống trả rời rạc. Họ liên tiếp thất bại. Ba ngày sau Tây Sơn chiếm hết đạo Trường Đồn. Không còn nghi ngờ gì về sự tê liệt của quân Gia Định ở mặt tây. Nguyễn Văn Tuyết tiếp tục đưa quân tây tiến, ông đánh phá thủ phủ Long Hồ. Ký lục Bùi Hữu Lễ ở đây đem quân cự chiến, nhưng đã bị bắt sống. Ông Lễ bị giết sau đó, và Long Hồ rơi vào tay Tây Sơn. Ở Trấn Biên, Phan Văn Lân cũng chiến thắng nhiều nơi. Gia Định (Phiên Trấn, Trấn Biên, Trường Đồn, Long Hồ) trở thành chiến trường da beo bất lợi cho quân đội chưa hoàn hảo của chúa Nguyễn Phúc Thuần.

      Quân địa phương của Nguyễn Cửu Đàm và quân tân lập Đông Sơn của Nguyễn Thành Nhơn còn mới quá chưa thống nhất. Lịnh hành quân không đồng, đôi khi ngược chiều nhau. Điều nầy giúp tiết chế Tây Sơn Nguyễn Lữ tiếp tục chiến thắng. Hầu như các nơi thị tứ đều rơi vào tay Tây Sơn, thói kiêu loạn đã xuất hiện trong hàng ngũ quân lính. Họ dành thì giờ vào sự phá phách.  Sự răn đe của tiết chế Nguyễn Lữ không mấy hiệu quả. Cướp của, và hãm hiếp phụ nữ đã xảy ra. Điều nầy giúp Đông Sơn Đỗ Thành Nhân thu phục được nhân tâm vùng khai phá. Họ tụ về Ba Giồng chiêu binh, nhưng vẫn chưa đủ sức chống lại Tây Sơn.

      Tin tức chiến thắng được báo về Qui Nhơn. Nguyễn Nhạc thấy đã chiếm được ưu thế ở Gia Định, nên không cần mệt mỏi đóng vai “trưởng hiệu Tráng tướng quân” cho nhà Trịnh và chiều chuộng con bài Nguyễn Phúc Dương. Tháng 3 năm 1776, ông tự xưng Tây Sơn vương. Dù Nguyễn Lữ không có mặt ở Qui Nhơn vẫn được phong Thiếu phó, và Nguyễn Huệ là đại thần phụ chính với hàm Long Nhương tướng quân. Các huynh đệ chủ chốt khác ở Tây Sơn thượng đạo kể cả Vũ Văn Nhậm lên hàng tướng. Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc dời hành dinh từ phủ thành Qui Nhơn về thành Đồ Bàn, và cho tu sửa thành nầy. Không còn chiều Nguyễn Phúc Dương nữa, nên ông đem vị hoàng tôn nầy và thuộc hạ về giam tại chùa Thập Tháp dưới chân thành. Từ nay nhóm người nầy không được đối xử như là khách, mà trở thành tù nhân. Điều nầy vô tình lại gợn lên lòng thương xót của cô bé Thọ Hương, vốn vẫn ghét vị hoàng tử họ Nguyễn dám từ chối mình. Mâu thuẫn giữa thương và ghét cứ đan xen trong lòng người con gái thanh xuân 17. Đôi lần nàng đã ước chi hai người họ đều là những người dân thường như mọi người khác ở Qui Nhơn. Cái trăn trở của Thọ Hương cứ trôi qua âm thầm nhỏ nhoi giữa những diễn biến ở hai đầu nam bắc.

      Ở đầu nam, tình hình diễn biến từng ngày.  Đỗ Thành Nhân chiêu tập binh mã ở vùng Tam Phụ, tả ngạn sông Tiền. Lúc nầy có thêm nhiều hào kiệt giúp sức: Đỗ Bảng, Trần Búa hai tay khai phá đầy lòng huynh đệ. Tháng 6 năm 1776, quân số của họ lên tới 3 ngàn người, và rầm rộ tiến về  bảo vệ chúa Thuần đang tị nạn ở Đồng Lâm. Tại đây, vị chúa truân chuyên nầy cũng đã cho người gọi Tống Phước Hiêp từ Bình Khang trở về cứu giá. Ông Hiệp giao 3 dinh Bình Thuận, Bình Khang, Phú Yên cho anh em Châu Văn Tiếp và Trần Văn Thức, rồi lập tức lên đường. Ông mang theo đạo quân của người em họ Tống Phước Hòa đang trấn đóng ở Ô Loan, và đạo quân Hòa Nghĩa của Lý Tài đang có mặt ở Hòn Khói.

      Khi đoàn quân họ Tống còn đang trên đường đến Trấn Biên, thì Nguyễn Lữ đã biết mình phải đối đầu với hai lực lượng vừa Bình Khang vừa Đông Sơn. Lữ lúc nầy đang ở Lạng Phụ, và liệu không thắng nổi quân tiếp viện nhà Nguyễn.  Ông truyền lịnh hai tướng Nguyễn Văn Tuyết và Phan Lân mang quân đến Cần Giờ để rút về Qui Nhơn.  Nguyễn Lữ và toàn bộ binh sĩ ra khơi bình yên. Vị tiết chế Tây Sơn nầy còn kịp thời giờ chuyển xuống thuyền cả một kho thóc lúa. Gia Định được trả về Gia Định trong trường hợp như thế, nhưng chúa Thuần biết đây là uy oai của Đông Sơn và quân đội Bình Khang. Do vậy các huynh đệ của Đông Sơn như Nguyễn Văn Thành,  Huỳnh Tường Đức, Đỗ Bảng, Lê Ban… đều được ban thưởng. Riêng cánh Bình Khang, tiên phong Tống Phước Hòa và đội trưởng Nguyễn Văn Nhân được thăng chức. Ông Hòa được phong làm chưởng thủy Doanh quận công, và ông Nhân được thăng lên cai đội.

      Dù đuổi được quân Tây Sơn, nhưng chúa Thuần lại gặp ngay một điều bất lợi. Vốn Đỗ Thành Nhân thù Tây Sơn, nhưng cũng khinh bỉ những ai bỏ chủ đi hàng đối phương, mà rõ nhất là Lý Tài mới vừa đến. Đó là cái tâm của vị tướng trận tiền chớ không phải là cái suy tính thiệt hơn của người lãnh đạo. Khi đưa chúa Thuần từ Đồng Lâm về Sài Gòn, vị tướng Đông Sơn họ Đỗ đã gọi vị thủ lãnh Hòa Nghĩa quân là đồ “chó heo”. Ông gọi như thế ngay trong lời tâu trình với Định vương Nguyễn Phúc Thuần và trước ba quân. Đó là khinh miệt, một điều tối kỵ trong hàng võ tướng. Điều nầy đã khiến hai bên Đông Sơn và Hòa Nghĩa trở thành thù địch. Không may, nó trở nên tệ hại hơn khi tiết chế Kinh quận công Tống Phước Hiệp đột tử vào tháng 6 năm 1776.

      Mất Tống Phước Hiệp là mất chỗ dựa, Lý Tài lại càng bị khinh rẻ hơn. Quân Hòa Nghĩa bị quân Đông Sơn bắt nạt ở mọi nơi, nhưng Lý Tài không làm gì được. Một ngày, vị thủ lãnh gốc Minh Hương nầy mang quân lính của mình chạy lên núi Chiêu Thái. Núi ở Trấn Biên, và gần đó có chùa Hội Sơn và am Vân Tĩnh. Hai ngôi cổ tự nầy thường được người Minh Hương bên cù lao Phố đi sang cúng viếng. Chùa và am chỉ cách cù lao một đoạn đường, và một chuyến đò ngang qua sông Phước Long (sông Đồng Nai). Đó là dịp may cho vị tướng họ Lý. Sự gần gũi về âm ngữ, về cố hương đã giúp Hòa Nghĩa quân thân cận người cù lao Phố. Nhờ thế, họ lớn mạnh theo sự giàu có của người Minh Hương ở đây. Bên khúc sông Đồng Nai, đạo quân nầy có lúc lên tới 8 ngàn người trong đó có nhiều trai tráng của cù lao Phố. Họ nhanh chóng trội nổi hơn lính địa phương Trấn Biên. Không rõ vị trấn thủ ở đây tên gì, nhưng rất mờ nhạt. Người ta chỉ nghe nói tới một Lý Tài tướng quân của nhà Nguyễn. Thời gian chỉ một nửa mùa hạ và một mùa thu, mà Hòa Nghĩa quân lớn mạnh vượt bực. Thời điểm bước qua một bước ngoặc khác.

      Nhớ lại Qui Nhơn. Tháng 4 vừa rồi hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương và nhóm thuộc hạ bị giam ở chùa Thập Tháp. Số phận bế tắc của người chồng hờ đã gây nên cảm giác thương nhiều hơn ghét trong lòng cô gái Thọ Hương. Cô thường viếng chùa lễ phật, nhưng trong lòng vẫn không yên. Một lời hứa của phụ thân cũng đã thành duyên nợ, huống chi việc xác nhận gả bán đã là sự thật. Ai trong triều đình cũng biết như thế. Tuy nghe rằng hoàng tôn Dương đã từ chối cuộc lương duyên nầy, nhưng trong lòng Thọ Hương vẫn chờ đợi. Ánh mắt vừa cương nghị, vừa xa xăm của vị hoàng tử trẻ tuổi đã làm nàng xao xuyến. Thọ Hương đã yêu. Điều nầy không qua mắt được Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc. Ông thương đứa con gái và nghĩ tới những diễn biến đã xảy ra. Lòng hoài Nguyễn vẫn còn đâu đó trong dân chúng, nhưng chỉ biểu hiện một cách chung chung. Người ta không đặt trọng tâm vào vị hoàng tôn thất thế. Còn đó môt đương kim Nguyễn chúa nữa kia mà. Nếu người nào còn nặng lòng với tiên triều Đàng Trong, họ sẽ nghĩ ngay đến chúa Nguyễn Phúc Thuần ở Gia Định. Nguyễn Phúc Dương không còn giá trị chính trị. Tha vị thế tử vô dụng nầy không những tránh đau lòng cho con gái, mà còn thể hiện lòng độ lượng. Đầu tháng 10 năm 1776, Nguyễn Nhạc cấp thuyền cho hoàng tôn Dương và thuộc hạ rời Qui Nhơn.

      Đường ra khơi dập dồn sóng nước mùa đông. Nhờ thuyền lớn họ bình an đến được cửa Vị Nê, Bình Khang. Châu Văn Tiếp đi tuần ngoài khơi, đã bắt gặp chiếc tàu tròng trành của vị hoàng tôn họ Nguyễn. Lúc nầy hoàng tôn Dương mới thấy cái kế hoạch tìm cách trốn khỏi chùa Thập Tháp, và cướp thuyền vượt biển là một sai lầm. Dù có thoát được khỏi chùa, thì một chiếc thuyền con chỉ làm mồi cho những con sóng to như những quả núi. Đó là chưa kể quân Tây Sơn đồn trú dọc theo sông Côn và hải cảng Thị Nại. Trong suy nghĩ ấy, vị hoàng tử nhà Nguyễn thấy ở thủ lĩnh Nguyễn Nhạc còn có một lương tâm. Thấp thoáng ở đó, Dương thấy ánh mắt nửa thơ ngây nửa cam chịu của một người con gái. Thọ Hương đã để lại trong lòng hoàng tôn Dương một kỷ niệm đầu đời…

      Ở Bình Khang, hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương và nhóm thuộc hạ (Tống Phước Đạm, Trương Phước Dĩnh, Trần Văn Hòa) gặp lại người bác Nguyễn Phúc Chí, người chú Nguyễn Phúc Xuân, và cả cựu tham tán Nguyễn Đăng Trường. Ngoài Nguyễn Phúc Chí ở lại với quân Nguyễn trong đợt Nguyễn Nhạc sai đi gặp Tống Phước Hiệp, hai người còn lại đều mới vào.  Ông Xuân sống sót sau khi Nguyễn Huệ tiêu diệt lực lượng phục Nguyễn của Nguyễn Phúc Quyền ở Điện Bàn. Ông đã trốn tránh ở Hội An và tìm cách đi Bình Khang từ tháng trước.

      Riêng Nguyễn Đăng Trường thì có cuộc du hành không cam go, nhưng cũng qua những tháng ngày lặn lội. Trường là một nho sĩ thông thái và được chúa Thuần cử làm tham tán vào giờ phút Phú Xuân đang hấp hối, nhưng bị sót lại trong cuộc di tản năm giáp ngọ 1774. Trường được quân Trịnh mời hợp tác, nhưng sợ quá Trường bỏ trốn. Len lỏi qua từng vùng chiến tranh, Trường và người mẹ từ Phú Xuân trôi giạt đến Qui Nhơn. Tưởng lạc vào sào huyệt của kẻ thù sẽ phải chết, nhưng Trường được ưu đãi. Trường về với anh em Tây Sơn như một khách quí, nhưng Trường luôn âu sầu. Trường một lòng phò chúa Nguyễn, nên xin Nguyễn Huệ ra đi. Huệ cần Trường, nhưng không cầm giữ. Huệ cấp lương thực cho hai mẹ con Trường vượt đều Cù Mông với lòng thanh thản. Cuộc du hành của Trường từ Phú Xuân đến Bình Khang kéo dài đến 2 năm. Trường như một kẻ bất đắc chí, chỉ đi tìm cái ăn. Qua những biển dâu dọc đường Trường định buông trôi tất cả, mãi đến khi tình cờ gặp được Tống Phước Đạm và Trương Phước Dĩnh cách đây mấy hôm.

      Ông cháu, chúa tôi họ gặp nhau như thế, và họ quyết định rời Vị Nê vào Gia Định. Cuộc chia tay với Châu Văn Tiếp ở Bình Khang hứa hẹn một ngày gặp lại. Chỉ 10 ngày sau, hoàng tôn thế tử Nguyễn Phúc Dương và đoàn tùy tùng gặp được chúa Nguyễn Phúc Thuần ở Sài Gòn. Sự tách rời của Hòa Nghĩa quân được nhắc tới, và vị thế tử họ Nguyễn tình nguyện làm kẻ trung gian đem Lý Tài trở về. Dương tin rằng sự quen biết lúc ở Hội An, vẫn còn trong vị thủ lãnh gốc Minh Hương nầy. Ý kiến được đạo đạt lên, và chúa Thuần chuẩn thuận. Chúa cử tham mưu Nguyễn Danh Khoáng làm thuyết khách lên núi Châu Thới, với lời thăm hỏi của thế tử hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương.

      Vẫn tôn trọng vị hoàng tôn đã từng là tù nhân của mình, nhưng Lý Tài chưa đủ tin. Họ Lý giữ Khoáng ở trong quân, và mang đại binh về Sài Gòn. Trước sự rầm rộ đáng ngờ của Lý Tài, Đông Sơn Đỗ Thành Nhân giữ chặt tuyến phòng thủ từ Bến Nghé đến Bến Than. Hai bên đụng độ nhau, và Đông Sơn không dám khinh bỉ Hòa Nghĩa quân như mấy tháng về trước. Lý Tài trực tiếp chỉ huy. Ông áp đảo Đông Sơn, và đưa quân ào ào vượt tuyến. Trước tình hình ấy, chúa Thuần vội vã cùng quân Đông Sơn bỏ chạy khỏi Sài Gòn. Sự tính toán nầy có thể do chúa Thuần không muốn có đụng độ giữa Đông Sơn và Hòa Nghĩa, mà lúc ấy đang cần sự gắn bó trở lại. Tuy nhiên nhiều người cho rằng chúa Thuần quá mềm yếu, nếu không muốn nói là bất tài.

      Trong khi đó hoàng tôn Dương treo cờ hiệu thế tử với 6 chữ “Đông Cung Phụng Mệnh Chiêu An”. Điều nầy có nghĩa là phụng mệnh chúa Thuần, nhưng cũng có nghĩa là phụng mệnh các đời tiên đế chúa Nguyễn. Không ai phân tích vị đông cung thế tử phụng mệnh ai, nhưng người ta đã thấy một gan dạ của người trai trẻ nầy.  Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương kéo quân ra đối đầu quân Lý Tài. Họ gặp nhau ở chùa Kim Chương chỉ cách dinh Điều Khiển cũ chừng vài dặm đường. Trước thần thái của vị thế tử trẻ và tình quen biết từ Hội An, Lý Tài chịu quy phục hoàng tôn Dương. Trước sân chùa, quân Hòa Nghĩa thề trung thành với thế tử nhà Nguyễn. Họ trương cờ và gươm giáo để cho thấy sự trang nghiêm phục tùng, nhưng khó để nói đó không phải là sự phô trương sức mạnh. Nhân danh thế tử “nước” Đàng Trong, Nguyễn Phúc Dương ủy dụ họ, và chiêu an dân chúng Bến Nghé – Sài Gòn. Cùng lúc ấy, thế tử Dương cho người đi rước chúa Nguyễn Phúc Thuần trở về.

      Chúa Thuần đi về với lòng tin sẽ hòa giải được Đông Sơn và Hòa Nghĩa. Nhưng, mọi thứ đã đổi khác. Đã có sẵn 8 ngàn quân thiện chiến, Lý Tài cố đưa hoàng tôn Dương lên nắm quyền để giành thế mạnh về phần mình. Vốn là một tay buôn biển tinh đời, họ Lý đã thấy những người cùng gian khó với chú cháu họ Nguyễn đã có khoảng cách với chúa Thuần. Họ là những Nguyễn Phúc Chí, Nguyễn Phúc Xuân, Tống Phước Đạm, Nguyễn Đăng Trường. Dĩ nhiên phải kể đến vị cựu quan Điều Khiển Nguyễn Cửu Đàm đã mất quyền điều khiển Gia Định. Năm người họ đều là tôi bộc của chúa Thuần, nhưng sự thiếu cứng rắn của vị chúa thứ 9 nầy đã làm họ nghĩ đến những điều khác. Nào sự xuất thân không chính danh, nào những bất tài trước một gian thần Trương Phúc Loan, nào để mất Thuận Hóa mất Quảng Nam, nào không dám đương cự với một Lý Tài mà phải bỏ chạy. Nhìn chung, Thuần không chánh danh bằng Dương và Thuần yếu đuối hơn Dương. Cần phải thay đổi. Nếu nói họ bị áp lực của Lý Tài, hay tự ý ủng hộ hoàng tôn Dương đều đúng. Những diễn biến như thế đã đưa đẩy thế tử hoàng tôn Dương được tôn phò làm Tân Chính vương. Chính Định vương Nguyễn Phúc Thuần phong Dương lên Tân Chính vương, còn tự mình rút lui làm Thái Thượng vương.

      Với quyền hạn của vị vương đương nhiệm, Tân Chánh vương cải đổi hầu như toàn bộ triều đình: Nguyễn Phúc Chí làm thiếu phó. Nguyễn Phúc Xuân làm chưởng cơ nội hữu. Nguyễn Cửu Đàm giữ chức ngoại tả như cũ, lấy Phạm Công Lý thay Đỗ Thành Nhân làm ngoại hữu. Nguyễn Đăng Trường làm tham mưu, Tống Phước Đạm làm giám quan, Trần Văn Hòa tham quân nội điện. Lý Tài làm bảo giá đại tướng quân. Trương Phước Thận về giữ tuyến đông Cần Giuộc, Tống Phước Hòa và Tống Phước Thiêm về giữ tuyến tây Long Hồ. Cùng trong mùa đông 1776 nầy, Tân Chánh vương có kế hoạch táo bạo. Ông quyết định nhen quân ở vùng lãnh thổ Tây Sơn chiếm đóng. Ông bí mật sai Tống Phước Đạm và Trần Văn Hòa mang chí nguyện quân trở về dinh Quảng Nam. Rất tiếc kế hoạch nầy không thành công. Khi quân xâm nhập mới tới phủ Quảng Ngãi, thì bị Tây Sơn phát giác. Chiến trận Bồng Sơn đã giết chết Trần Văn Hòa, và vị thủ lãnh họ Tống trở thành một bại tướng không chỗ dung thân. Tống Phước Đạm thoát chết, nhưng bị truy lùng khắp đất Tây Sơn. May mắn, ông len lỏi qua được Phú Xuân.  Nơi đất Trịnh nầy, ông không biết gì về diễn tiến của hai vị vương thượng ở Sài Gòn. Đó là  những ngày cuối của năm 1776.

      Lúc nầy đã bị mất ngôi vị, nhưng chúa Nguyễn Phúc Thuần hiểu thế nào là sự cần thiết để chống kẻ thù Tây Sơn và quân Trịnh. Trước cuộc đảo chánh mềm, vị chúa Nguyễn thứ chín thoáng đau lòng và tự hỏi còn ai là người tín cẩn bên mình. Quanh ông chỉ còn những đứa cháu Nguyễn Phúc Đồng và Nguyễn Phúc Ánh, Nguyễn Phúc Điển, Nguyễn Phúc Mẫn. Đồng lớn tuổi nhất, nhưng quá thật thà, Ánh đã thử một lần làm tiết chế sang Chân Lạp, nhưng cũng chỉ là một thiếu niên. Ngoại hữu Đỗ Thành Nhân rất trung thành, nhưng đã bỏ về Ba Giồng khi hay tin ông chấp nhận làm một thượng hoàng không quyền hạn. Cha con Mạc Thiên Tứ – Mạc Tử Dung thì đang ở Trấn Giang. Nghĩ thì nghĩ thế thôi, trong lòng chúa Thuần không muốn dậy lên một cuộc tranh tài thúc điệt. Ông âm thầm chịu đựng giữ ngôi vị Thái Thượng vương mất quyền.

      Quanh thủ phủ Gia Định hầu như không ai ngã về chúa Thuần, nhưng ông được một nhóm người mới vừa đến từ Thuận Hóa ủng hộ ông. Tướng Võ Di Nguy, cai cơ Tô Văn Đoài và gần hai trăm thủy binh đến được Sài Gòn. Họ vượt biển sau ba năm chống chỏi với Trịnh không thành công. Họ đến Bến Nghé vào lúc mà mọi sự đã yên. Tân Chính vương nắm hết quyền hạn, và Thái Thượng vương chỉ như là một vị cố vấn không cần thiết. Lòng trắc ẩn dành cho người chủ cũ dâng lên, và có dấu hiệu nổi loạn. Chúa Thuần biết tướng Võ Di Nguy và những chiến sĩ hải quân trung thành với mình, nhưng ông không cho vọng động.  Vị chúa được hiểu là không chính danh nầy, không muốn làm một điều gì khác ngoài việc chống Tây Sơn và Trịnh. Thân làm kẻ lưu lạc mà không nhịn được nhau, há là trượng phu sao? Không biết sự khoan hòa của Thái Thượng vương có giúp được gì cho Gia Định hay không, trong lúc ở Đông Kinh cũng mang mang nhiều rắc rối.

      Ở đầu bắc không nhiêu khê như ở đầu nam.  Cung Lê vẫn ngủ yên, chỉ có phủ Trịnh có những mầm giao động. Từ năm 1775, chúa Trịnh Sâm không còn lắng nghe ý kiến của triều thần, ngay cả người mẹ cuả mình. Vị chúa 36 tuổi say mê phi tần Đặng Thị Huệ theo kiểu một tín đồ bị mê hoặc. Huệ chưa có con với Sâm, nhưng Sâm đã có đứa con trai 12 tuổi với thứ phi Dương Thị Hoàn. Đó là trưởng tử Trịnh Khải có tên húy là Trinh Tông. Theo lệ, thế tử nhà Trịnh được lập từ lúc nhỏ, và khi đến 12 tuổi thì được dời ra đông cung. Đó là lúc bắt đầu tập làm chúa. Thế nhưng, Khải không có cái may mắn tưởng như đương nhiên đó. Khải đã từng được các nho thần như Nguyễn Khản, Trần Thản, Ngô Thời Nhậm làm tư giảng, nhưng thường bị cho là không chuyên tâm học hành.  Mùa hè năm 1775 Khải tròn 12 tuổi. Có những triều thần nhắc chúa Sâm về chuyện lập thế tử, nhưng chúa không có một lệnh lạc dứt khoát nào.

      Đông cung vẫn bỏ trống. Người ta cho đó là sự trì hoãn tạm thời, nhưng nó như một thỏi than trong lòng Trịnh Khải. Và, thỏi than đó trở nên nóng hơn vào mùa hè năm sau. Đó là lúc chúa Sâm báo tin Tuyên phi Đặng Thị Huệ có thai. Ông vui mừng báo tin nầy, như chưa từng có tin nào vui mừng từ trước. Các tay thầy tướng số quả quyết đó là một cậu bé thông minh đĩnh ngộ. Họ còn tính theo ngày tháng cấn thai, và quả quyết rằng cậu bé sẽ ra đời đúng vào ngày chúa Sâm lên ngôi chúa cách đây 9 năm. Vì những định kiến sẵn có và tin vào các thầy tướng số, chúa Sâm nghĩ lung ra nhiều chuyện khác. Ác thay, những chuyện của chúa nghĩ lại dẫn đến nhân thân của Khải. Nguyên mẹ của Khải gốc làng Long Phúc, Thanh Hoa cùng quê với mẹ của Trịnh Cối và mẹ của Trịnh Lệ trước đây. Cối và Lệ đều bị nhà Trịnh cho là nghịch đạo, nên Sâm càng mất tin tưởng đứa con trai có họ ngoại cùng làng với hai người kia. Đông cung tiếp tục bỏ trống, và Trịnh Sâm như cố tình chờ đợi đứa con chưa ra đời. Quả, đây là một món quà quí giá cho người phi tần trẻ tuổi  họ Đặng xứ Kinh Bắc.

      Quí cậu quí tử sẽ ra đời và quí người vợ trẻ, nhà chúa làm nhiều việc tốt. Nhà chúa cho xây chùa, và rút những quan lại trọng tuổi ở xa về nghỉ ngơi ở kinh sư. Việc làm nầy theo kiểu tạ ơn trời, và biết ơn người. Tướng Phạm Ngô Cầu ra trấn nhậm Thuận Hóa thay cho lão tướng 72 tuổi Bùi Thế Đạt về Thăng Long trong tâm tình đó. Ông Đạt về kinh sư vào tháng 9 năm 1776, và giữ chức Thự Phủ sự. Trọng tuổi và giữ một chức vụ nhàn nhã, vị Đoan quận công họ Bùi có thì giờ để ý đến những điều xung quanh. Ông đã thấy mầm mống chia rẽ giữa những người ủng hộ trưởng tử Trịnh Khải, và ủng hộ tuyên phi Đặng Thị Huệ đang có mặt.

Nguyễn chưa đủ quân binh trấn giữ
Mà Tây Sơn ồ ạt nam chinh
Cửa Soi chỉ thấy mờ mưa biển
Mà sóng xâm lăng rõ sóng kình

Nguyễn Văn Tuyết tấn công Soài Rạp
Đồn biên phòng nhỏ quá lung lay
Bỏ thuyền mà chạy về đâu đó
Bỏ mất đường sông huyết mạch này

Này Sài Gòn này sông Bến Nghé
Này Trấn Biên này những Long Hồ
Tây Sơn bao nẻo đường binh tiến
Quân Nguyễn vô cùng mỗi lao đao

Chúa phải chạy Đồng Lâm trú ẩn
Lính Đông Sơn rút lại Ba Giồng
Trấn Biên, Phiên Trấn không yên tĩnh
Gia Định cơ hồ mất non sông

Tống Phước Hiệp lòng trung Tống Phước
Giao Bình Khang cho Tiếp trấn quân
Xuất binh trở lại về Gia Định
Nguyễn chúa chờ tin chắc sẽ mừng

Tướng Phước Hòa Ô Loan cũng đến
Hòa Nghĩa quân họ Lý cũng đi
Nam phương sẽ đón đoàn quân viện
Biển chở người đi biển thấy gì

Thấy đường bộ Đông Sơn quân tiến
Đoàn quân đi ngằn ngặt qua sông
Gom bao huynh đệ bao cũ mới
Người trẻ phương nam đợi tang bồng

Quân chưa tới tin đà lan rộng
Tướng Tây Sơn liệu thế không lành
Thu binh trở lại con đường biển
Theo gió đi về bỏ chiến tranh

Tưởng Gia Định yên lành trở lại
Nào hay đâu phước chẳng trùng lai
Đông Sơn nổi sóng cùng Hòa Nghĩa
Tướng trận tranh nhau nghĩa, khí, tài

Hòa Nghĩa quân phải về Chiêu Thái
Núi non nầy qua độ thu đông
Bồng bềnh sương khói am Vân Tĩnh
Nhớ hận Đông Sơn thế chẳng đồng

Đồng lúc ấy Tây Sơn đổi thế
Nhạc xưng vương giữa tiết thanh minh (1776)
Đồ Bàn trở lại thành dinh trấn
Thành phủ Qui Nhơn có bất bình?

Phong Nguyễn Huệ Long Nhương tướng soái
Đem Phúc Dương trở lại tù nhân
Chiều buông xuống thấp chùa Thập Tháp
Chạm nỗi đau thương đứng tần ngần!

Vương Nguyễn Nhạc phân vân nỗi khó
Thương con thơ mà thả Phúc Dương
Mùa thu tháng chín thuyền ra biển (1776)
Duyên nợ Tây Sơn khó tỏ tường

Nguyễn Phúc Dương đường về Gia Định
Trả Thọ Hương thiếu nữ vàng tươi
Phụ phu sao phụ tình chăn gối
Gia Định, Qui Nhơn mỗi phận người

Về Bến Nghé Phúc Dương gặp chúa
Đã hai năm từ độ phân li
Quân thần thúc điệt bao nỗi nhớ
Cùng một đường đi phục quốc vì

Nào ai biết điều chi không thắm
Tình như trong như đục không hay
Đông Sơn, Hòa Nghĩa như lớp phấn
Gốc tự uyên nguyên khó giải bày

Này danh chính này là không chính
Này Phúc Dương này lại Định vương
Soi trong thiên cổ bao lần vỡ
Vỡ rạn lần nay khó thể lường

Chúa Định vương nương quân Tam Phụ
Quân Lý Tài ủng hộ Phúc Dương
Tưởng là không vỡ mà như đã
Trời đất dung muôn thứ lạ thường

Thái Thượng vương con đường ngơi nghỉ
Tân Chính vương “phụng mệnh chiêu an”
Sân chùa sắc tứ ai còn nhớ
Gươm giáo cờ bang đến ngỡ ngàng

Đất Gia Định rộn ràng như thế
Thành Đông Kinh dạo ấy ra sao
Cung Lê vẫn thế ngồi yên nghỉ
Phủ Trịnh xôn xao tiếng rì rào

Từ dạo trước Trịnh Tông chờ đợi
Mà đông cung lần lửa không trao
Chúa Sâm còn đợi Tuyên phi Huệ
Sinh được hài nhi đấng anh hào

Nỗi ao ước cao xa mưa móc
Chúa Trịnh Sâm yêu quá chiều lòng
Tương lai còn ở trong cuống rún
Sao gió trong lòng cứ thổi rong

Gió đã đến trong lòng phi Huệ
Gió cũng sang con trưởng Trịnh Tông
Mười ba năm tuổi thà vô dụng
Không sống vô danh tựa lá hồng

<<  |  >>