Skip to content

Chương 24

XỨ ĐÀNG TRONG: TRỊNH, TÂY SƠN, NGUYỄN

     Chúa Nguyễn Phúc Thuần đã ra khơi, còn hoàng tôn Dương đi theo một lối khác. Họ lạc nhau ngay trong đêm đầu tiên vừa chạy khỏi Thanh Chiêm. Quân Tập Đình đuổi sát bên lưng, làm hoàng tôn Dương nương theo giám quân Tống Phước Đạm. May là nhóm của Nguyễn Phúc Chí, Nguyễn Cửu Thận và Trương Phước Dĩnh đã tìm gặp. Vị thanh niên thế tử nầy được tham mưu Tống Phước Đạm hộ giá về hướng thượng nguồn sông Cu Đê, bên mé rừng Bạch Mã. Tuổi trẻ nhiều nhiệt huyết, Dương quyết định lập căn cứ kháng chiến. Công việc chưa đến đâu, đã nghe quân Trịnh sắp tràn tới làm Tống Phước Đạm phải dắt díu quân binh trở về phía nam. Con đường lặn lội di tản trong rừng lại đưa họ đến Trung Sơn, nơi quân Tây Sơn đang chiếm lĩnh. Binh tướng của hoàng tôn Dương và quân biên phòng Tập Đình gặp nhau. Một cuộc đụng độ giữa rừng Ô Da xảy ra. Hơn một trăm quân binh nhà Nguyễn bị đánh tan. Cai cơ Nguyễn Cửu Thận đã chết trong trận nầy. Trừ một số may mắn chạy thoát, thế tử Nguyễn Phúc Dương, và các ông Nguyễn Phúc Chí, Tống Phước Đạm, Trương Phước Dĩnh đều bị bắt. Tướng Tây Sơn Tập Đình đưa họ về hội kiến với thủ lãnh Nguyễn Nhạc ở Hội An. Đó là một ngày đầu tháng 4 năm 1775, lúc mà vị thế tử sa cơ của dòng họ Nguyễn Phúc vừa tròn 16.

      Tại thành phố còn dáng vẻ tươm tất nầy, thủ lãnh Nguyễn Nhạc ra sức thuyết phục thế tử họ Nguyễn đứng về phía mình. Dù lê dân hận quốc phó Trương Phúc Loan, nhưng lòng phò con cháu những vị chúa khai mở phương Nam vẫn còn đâu đó. Ân tình nầy phảng phất ở Tuy Viễn, Phù Ly, Hội An, và ở ánh mắt của Vũ Văn Nhậm khi chấp nhận đầu hàng ở Thanh Chiêm. Đó là chưa kể biết bao nhiêu người dân thầm lặng như ở Câu Đê, Liên Chử vừa rồi. Dân chúng còn thờ chúa Nguyễn, thì thủ lĩnh Tây Sơn phải mượn danh chúa Nguyễn. Đó là lý do Nguyễn Nhạc cố thuyết phục, đến nỗi ông đã quyết định gả đứa con gái có tên Nguyễn Thọ Hương cho hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương. Ông muốn gắn vị thế tử lên linh hồn cuộc khởi nghĩa.

      Khi Tây Sơn cần phải mượn danh nhà Nguyễn, thì quân Trịnh không cần điều đó. Họ đã có con bài nhà Lê dán trước ngực. Vì Lê diệt Nguyễn hay vì Lê diệt Tây Sơn đều là thiên kinh địa nghĩa của nhà Trịnh. Hoàng Ngũ Phúc giao Phú Xuân cho phó tướng Bùi Thế Đạt, và tự mình mang quân vào Quảng Nam. Vượt qua đèo Hải Vân, băng qua sông Cu Đê, chiếm hết Liên Chử không gặp một trở ngại nào. Dân chúng ở đây thờ chúa Nguyễn đã lâu, ngơ ngác nhìn quân Trịnh như một kẻ lạ chứ không phản kháng. Không có cuộc chống đối nào, nhưng Hoàng Ngũ Phúc tiến dần về phương nam với sự dè dặt. Từ Liên Chữ họ Hoàng đưa quân về phía nam đến Đà Nẵng. Phải mất mươi lăm ngày quân Trịnh mới bình định hết phần phía bắc của phủ Điện Bàn, nó gồm huyện Hòa Vinh và một phần của Huyện Diên Phước. Ông đặt bản doanh ở chân núi Tam Thai gần ngã ba sông Cẩm Lệ và sông Cổ Cò.  Dù tất cả các nơi đi qua quân chúa Nguyễn đều buông gươm, nhưng khó để nói lê dân ở đây chịu thuần phục. Do vậy, tiến về phía nam phồn thịnh của phủ Điện Bàn họ Hoàng còn dè dặt. Nơi đó có dinh trấn Thanh Chiêm và Hội An bên dòng chảy chính của sông Thu Bồn. Quân Tây Sơn có thể từ Hội An hoặc Thanh Chiêm tiến ra bất cứ lúc nào. Hoàng Ngũ Phúc theo dõi từng ngày những diễn biến ở hai cứ điểm nầy, và quyết định ra tay trước.

     Đó là một ngày đầu tháng 4 năm ất mùi 1775. Hoàng Phùng Cơ được lịnh mang 2 ngàn quân tiến đánh đồn Trung Sơn. Phùng Cơ đã là thủ hạ của Nguyễn Hữu Cầu chống triều đình Lê – Trịnh dưới thời chúa Trịnh Doanh trước đây. Khi vị quận He họ Nguyễn thất bại ở Quỳnh Lưu, Cơ về hàng Trịnh. Qua nhiều năm chinh chiến ở rừng tây bắc, Cơ trở thành trấn thủ Tuyên Quang, một nơi cần phải có một chỉ huy giỏi.  Với khả năng ấy và với một quân số gấp 4 lần hơn, Cơ dễ dàng chiến thắng Tây Sơn ở đơn vị tân lập Trung Sơn. Tập Đình phải kéo bại binh chạy về Giáng La, Thanh Quýt rồi chạy về Thanh Chiêm. Trận thử sức khởi đầu cho biết quân Tây Sơn và quân Trịnh quá chênh lệch. Tây Sơn có thể mau chóng đuổi quân binh chúa Nguyễn Phúc Thuần ra khỏi trấn thành Quảng Nam, nhưng thật khó đối đầu với quân Trịnh. Ngoài quân số để lại Phú Xuân cho phó tướng Bùi Thế Đạt, còn lại 2 vạn quân tinh luyện mang vào mặt trận Điện Bàn. Bình nam thượng tướng quân Hoàng Ngũ Phúc chắc chắn áp đảo được 6 ngàn quân của Nguyễn Nhạc.

      Thật vậy, sau trận thăm dò Trung Sơn, Hoàng Ngũ Phúc xuất binh. Nửa đêm rạng sáng ngày 24 tháng 4 năm 1775, họ Hoàng xua quân từ Đà Nẵng theo sông Cổ Cò tiến về phía nam. Dù Đà Nẵng tiếp tục lớn dần, nhưng dòng sông một thời thịnh hành dưới triều chúa Nguyễn Phúc Chu lại nhỏ dần. Đi xa về phía nam, dòng sông bị cát biển lấp dần. Mùa khô nhiều chỗ bị đứt đoạn, để chỉ còn những hồ nước sâu ngang tới bành voi. Hoàng Đình Thể và Nguyễn Đình Đống so le nhau dẫn hai cánh quân tiên phong đi trước. Cánh trung quân của chủ tướng Hoàng Ngũ Phúc, tham tán Nguyễn Nghiễm, và trung quân tướng quân Hoàng Đình Bảo theo sau. Hậu quân do Hoàng Phùng Cơ chỉ huy. Hai mươi ngàn quân theo đội hình chữ nhất mà tiến tới.  Quân đi sau còn ở chân núi Tam Thai, thì quân đi trước đã đến cuối dòng Cổ Cò. Ở đây dòng sông như sợi chỉ chảy qua biền cát Cẩm Sa lưa thưa những nhánh dừa nước. Sự bồi lấp của biển đã làm mất một dòng sông. Không biết những chuyển dịch nầy đã xảy ra từ lúc nào, mà dưới thời chúa Nguyễn Phúc Thuần vùng nầy đã gần như một sa mạc nhỏ. Nếu không được đào vét, dòng sông sẽ mất. Chỉ khoảng 70 năm, mà trời đất đã biến thiên dâu biển mau đến thế sao?* (nói về cổ cò, đế võng, trường giang,tam thai non nước, đại sán, phúc chu, phúc thuần, hội an, đà nẵng, người anh, pháp, bồ đã biết đà nẵng. coi việt sử tân biên khoảng trang 354. Coi sông đế võng hội an, hình như Lịch Sử đà nẳng có nói)

      Cuộc tiến quân trong đêm của Hoàng Ngũ Phúc cũng không thể nào che dấu được Nguyễn Nhạc. Sau thất bại ở Trung Sơn, thủ lãnh Tây Sơn chuẩn bị từng ngày và sẵn sàng đọ chiến. Ông ra lịnh anh em Phạm Ngạn và Phạm Văn Sâm mang một ngàn quân từ Bến Ván đi trợ chiến. Nâng quân số lên tới 7 ngàn, Nguyễn Nhạc quyết định diệt nhanh chóng những cánh tiên phong để lấy thế thượng phong.  Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ từ Hội An băng qua suối Trà Khê, bắt tay với hai tướng Lý và Tập ở ghềnh Bầu gần đầu nguồn sông Đế Võng. Đại quân tiến về Cẩm Sa. Trời tờ mờ sáng, gió thổi mãi miết trên những đụn cát chưa rõ mặt người. Một cuộc sống mái sẽ đến.

      Trời rạng sáng. Hai bên đã gặp nhau. Thật khó để nói lính Trịnh và lính Tây Sơn thù nhau về một điều gì, nhưng họ đã tận tình giết nhau. Không ai để ý mặt trời to đùng đang nhô còn đỏ lửng ngoài chân mây. Không ai để ý đến tiếng gió biển rạt rào bên những cồn cát. Tất cả đều cũng chìm mất dưới tiếng gươm đao. Quân số quá chênh lệch làm cái chí nguyện phải thành công của Tây Sơn không còn nữa. Chỉ trừ một số nhỏ ở lại canh phòng hoàng tôn Dương, Nguyễn Nhạc vắt hết số quân ở Thanh Chiêm và Hội An nhưng vẫn không phải là lực lượng đáng kể. Hoàng Ngũ Phúc lấy thịt đè người. Vị lão tướng nầy chẳng cần gì thế trận giữa những lằn cát mênh mông, ông ta xua quân thẳng về phía trước. Dù Nguyễn Huệ giúp anh vận dụng hết tài thao lượt, nhưng quả thật cũng chẳng để làm gì. Dù Vũ Văn Nhậm có đem hết sở trường giúp người chủ mới Tây Sơn, cũng không tranh nổi đám đông. Không ai tính quân nhà Trịnh đã chết bao nhiêu, nhưng xác những người lính Tây Sơn đã nằm la liệt trên những lằn cát vàng loang máu, Cánh quân của Tập Đình bên bờ đông sông Đế Võng bị nặng nhất. Vị tướng Tây Sơn gốc Tàu nầy đã lạc mất trong cuộc rút lui của thủ lãnh Tây Sơn Nguyễn Nhạc. Bại binh còn lại theo nhau chạy về Hội An. Họ gấp rút đưa hoàng tôn Dương và nhóm tùy tùng vượt cửa Đại Chiêm về Bến Ván, trước khi quân Trịnh chiếm lấy thành phố nhộn nhịp nầy.

      Nếu ở Cẩm Sa quân Tây Sơn thất bại, thì ở Phan Thiết họ cũng chẳng thành công. Theo sự bố trí chiến thuật thì Tây Sơn Nguyễn Văn Lộc đang là trấn thủ dinh Bình Thuận. Ông là người giỏi võ, nhưng quân số quá ít. Ông đang đương đầu với lực lượng chúa Nguyễn từ Gia Định kéo ra. Nguyên từ những ngày đầu tháng 3 năm 1775 dinh Điều Khiển ở Gia Định đã mất liên lạc với Phú Xuân. Nửa tháng sau đó họ mới biết chúa Thuần đã ra khơi ở Liên Chữ, và quân Trịnh đã tiến vào bắc Quảng Nam. Ở Sài Gòn, chưởng cơ điều khiển Nguyễn Cửu Đàm trở thành vị quan cao nhất của triều đình. Ông cho thuyền quân đi tìm thuyền chúa Thuần, và quyết định tấn công Bình Thuận để lấy lại thế cân bằng.  Một lực lượng mạnh nhất được tung ra. Đó là một đạo quân gồm cả ba trấn Long Hồ, Phiên Trấn và Trấn Biên cùng với số quân xiêu tán từ Bình Khang và Bình Thuận. Những đơn vị tổng hợp nầy thành 5 đạo quân lên tới 2 vạn người do trấn thủ Long Hồ Tống Phước Hiệp tổng chỉ huy. Ông Hiệp đã từng theo chưởng cơ Nguyễn Cửu Đàm đi đánh Chân Lạp và Xiêm La trước đây, nên đủ dày kinh nghiệm trên chiến trường Chàm Tháp. Bên ông còn có người em họ Tống Phước Hòa phụ giúp. Ngoài ra còn những Nguyễn Văn Hoằng, Nguyễn Khoa Thuyên, Nguyễn Văn Nhân, Trương Phước Thận và cha con Nguyễn Hiền – Nguyễn Văn Thành là những người nổi trội trong đoàn quân nầy.

      Đà tiến quân của Tống Phước Hiệp ngoài dự liệu. Quân số quá đông, họ đã chiếm được từng vùng. Không những Tây Sơn mất Bình Thuận mà cả Bình Khang và Phú Yên cũng bị mất. Nếu đầu tháng 3 năm 1775 Nguyễn Huệ tràn qua chiếm 3 dinh nầy theo chiều bắc nam, thì đến cuối tháng tư Tống Phước Hiệp làm ngược trở lại theo chiều nam bắc. Không những lấy được vùng châu thổ Phú Yên mà tiết chế họ Tống còn chiêu dụ được Châu Văn Tiếp ở núi Tà Lương. Họ Châu vốn không ghét Tây Sơn, có thể là bạn hữu, nhưng chỉ khác nhau cái nhìn về thời cuộc đã hóa thù. Tiếp cũng có nguyên quán Tuy Viễn như nhiều huynh đệ Tây Sơn, cũng đồng nghề buôn ngựa như Lý Văn Bưu, nhưng từ nay sẽ thành đối nghịch. Tiếp trở thành trợ thủ đắc lực cho thống binh Tống Phước Hiệp, và ông được lịnh mang thuyền ra khơi để tìm chúa Nguyễn Phúc Thuần. Anh em Tiếp không những thạo về đường rừng mà thạo về đường biển. Tiếp đã từng đi buôn biển, và cứu được tàu buôn Xiêm La ngoài khơi, nhân đó học được cả tiếng của người Xiêm.  Người em gái Doãn Thị Đậu cũng đã từng đi xa như thế, nên lần nầy anh em họ đã mau mắn tìm được chiếc thuyền bị nạn ở gần hòn Nưa. Đó là thuyền của đội trưởng Đỗ Thành Nhân cầm lái trong đó có chúa Thuần, cai cơ Tống Phước Thiêm, và các anh em của cậu bé Nguyễn Phúc Đồng. Chỉ duy Nguyễn Phúc Đồng bị thương, còn mọi người khác đều an toàn. Ơn trời màu nhiệm đã đổ xuống chiếc thuyền nầy. Tất cả các thuyền khác đều lần hồi chìm lỉm hoặc thất lạc. Trong lúc bấn loạn ở Liên Chữ không ai rõ hoàng phi Nguyễn Thị Châu và công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Thục đã được lên thuyền nào. Họ chờ đến ngày thứ 10 hầu như không còn hi vọng. Thuyền của kiện tướng Nguyễn Cửu Dật, và thuyền của quận công Nguyễn Phúc Kính cũng biệt tăm.

      Đã hết tuần trăng cuối của mùa xuân ất mùi 1775, Bình Khang vẫn buồn hiu. Tiết chế Tống Phước Hiệp được chúa Thuần phong tước Kinh quận công trong lúc nầy, mà cũng không ai để ý. Vị chúa thứ 9 nhà Nguyễn phải ra đi. Ông mang theo cả hy vọng và thất vọng vào Sài Gòn. Trong lúc ông và đoàn tùy tùng được tham tán Nguyễn Khoa Thuyên cùng chưởng cơ Trương Phước Thận hộ giá tới Phan Thiết, thì tin chiến sự giữa Trịnh và Tây Sơn ở Quảng Nam cũng được báo về: Quân Trịnh từ Hội An dọc theo sông Trường Giang tiến chiếm Tam Kỳ. Trước áp lực địch quá mạnh, Tây Sơn phải bỏ luôn Bến Ván rút về Bình Sơn. Địa đầu nầy được tăng viện và giao cho Ngô Văn Sở cùng Võ Văn Dũng cầm cự. Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Lý Tài gấp rút về Qui Nhơn đối đầu với Tống Phước Hiệp từ mặt nam đang tiến tới. Kỳ vọng về vị tướng họ Tống chiếm lại Qui Nhơn đang hiện ra trong trí chúa Thuần. Nó lấn át được nỗi lo sợ về sức mạnh Tây Sơn.

      Trong lúc ấy thì anh em Nguyễn Nhạc đã về tới thành Đồ Bàn. Họ mang theo nhóm người mới vào hàng ngũ. Trừ Nguyễn Phúc Chí, Tống Phước Đạm, Trương Phước Dĩnh như những kẻ tùy tùng, hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương được tôn phò như người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Riêng Vũ Văn Nhậm được đối xử như hàng huynh đệ. Điều nầy xảy ra vì Nhậm gặp người cùng quê với Trần Quang Diệu, và Nhậm được Huệ kể về tính khí và lòng can đảm khi chiến đấu. Nếu hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương và nhóm tùy tùng chỉ bằng mặt chứ không bằng lòng, thì Vũ Văn Nhậm đã chấp nhận lý tưởng khởi nghĩa. Nếu có một Nguyễn Thọ Hương, con gái của thủ lĩnh Tây Sơn, mang nỗi đau làm người vợ hờ cho một hoàng thế tử, thì chị cô may mắn hơn. Người con gái không biết tên nầy đã được Vũ Văn Nhậm thật tình thương yêu không mang màu sắc đổi chác. Không biết hai mối tình nầy có suôn sẻ giữa lòng Qui Nhơn hay không, thì tình hình Phú Yên lại sôi bỏng. Tháng 5 năm 1775 Tống Phước Hiệp sai Bạch Doãn Triều đến gặp Nguyễn Nhạc đòi thả hoàng tôn Dương. Họ Bạch vốn là một nho sĩ lỗi lạc đã làm tri huyện Đông Xuân ở Phú Yên, mà Nhạc đã từng nghe danh. Trọng tài một danh sĩ, nhưng thủ lãnh Tây Sơn dĩ nhiên không thuận. Ông đuổi họ Bạch trở về, và đó là thời gian hai bên tấn công nhau. Tống Phước Hiệp đưa quân tiến lên phía nam đèo Cù Mông, với sự giúp sức của Châu Văn Tiếp. Đoàn binh của họ Tống không hề yếu thế dù ở chân đèo bắc Nguyễn Huệ mang đại binh Tuy Viễn tiến vào. Khói lửa mịt mờ trên đỉnh đèo, và Tây Sơn không đánh bật binh triều Nguyễn bên con đường cong queo đổ xuống phía nam. Hai bên gầm gừ nhau đến cuối tháng sáu mà không bên nào chịu thua.

      Đứng trước tình thế ấy, thủ lĩnh Nguyễn Nhạc cân nhắc tình hình. Bắc Trịnh, nam Nguyễn, Nhạc cảm thấy như bị trói cả thân mình. Ông quyết định phải tháo ra. Giữa Hoàng Ngũ Phúc của Trịnh và Tống Phước Hiệp của Nguyễn, ông phải chọn một ngả về. Đây chỉ là một chiến thuật. Ông đã chọn Trịnh. Lúc nầy Hoàng Ngũ Phúc đã chiếm tới Châu Ổ, Quảng Ngãi với lực lượng hùng hậu. Nguyễn Nhạc xin hàng họ Hoàng, nguyện làm quân tiên phong đánh quân Nguyễn. Thư thỉnh cầu được thầy giáo Hiến viết mềm mỏng gởi đến chúa Trịnh Sâm và Hoàng Ngũ Phúc. Dĩ nhiên ông Phúc không thể tự động thỏa mãn thỉnh cầu của Nhạc, nên khẩn báo về Thăng Long. Chúa Trịnh Sâm chấp thuận “lòng trung thành” nầy với toan tính lợi dụng. Vị chúa Trịnh thứ tám ban cho Nhạc chức Tây Sơn trưởng hiệu Tráng với đầy đủ sắc, ấn, và cờ hiệu. Ba thứ nầy được  tiến sĩ Phan Huy Ích mang vào Phú Xuân hội ý với tướng Hoàng Ngũ Phúc trước khi đi Qui Nhơn. Ông Phúc sai thư ký Nguyễn Hữu Chỉnh làm nhiệm vụ sứ giả Bắc Hà thay cho tiến sĩ họ Phan. Không hiểu tại sao thống soái họ Hoàng lại đổi sứ giả như thế. Có thể tình hình lúc ấy Chỉnh đi sẽ thuận tiện hơn, hay là có một lý do nào hợp lý khác. Âu, đây cũng là cái duyên hay là cái nợ để cuộc đời Nguyễn Hữu Chỉnh gắn liền với Tây Sơn sau nầy.

      Đối với Tống Phước Hiệp ở Phú Yên, Tây Sơn đem lá bài hoàng tôn Dương ra áp dụng. Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Phúc Chí dưới danh nghĩa thế tử Dương mời Tống Phước Hiệp liên thủ với Tây Sơn chống Trịnh. Dĩ nhiên là vị thống lĩnh họ Tống không tin, nhưng bằng lòng thương thảo. Chiến trường đèo Cù Mông lắng xuống để hai bên gặp nhau. Trong lúc ông Chí còn bàn bạc với ông Hiệp ở Hội An (Phú Yên), Tây Sơn tấn công. Không thể nói khác hơn là “lật lọng”, nhưng Tây Sơn đã làm như thế. Nguyễn Huệ và Lý Tài được lịnh mang quân tiến theo đường biển tập kích quân triều Nguyễn. Tại cửa Vũng Lấm đội trưởng Nguyễn Văn Thành phải dẫn quân chạy về Xuân Đài, khi người cha Nguyễn Văn Hiền vừa hi sinh trên đồi Tam Sơn. Nguyễn Huệ đã đánh bật Tống Phước Hiệp ra khỏi Phú Yên nhờ bàn đạp Tam Sơn – Vũng Lấm nầy. Ông Hiệp phải đưa quân tướng rút lui dần, trong đoàn quân nầy có cả Nguyễn Phúc Chí. Ông Chí đành phải bỏ đứa cháu Nguyễn Phúc Dương ở lại với Tây Sơn, mà chạy theo Tống Phước Hiệp. Hầu như thống binh họ Tống phải bỏ hết Phú Yên. Chỉ còn một vài chốt điểm ven biển phía nam còn giữ được, mà căn cứ Ô Loan là điểm xa nhất. Tống Phuớc Hòa được lịnh trấn giữ căn cứ địa đầu nầy, và tổng hành dinh thống soái Tống Phước Hiệp rút về Hòn Khói. Phú Yên rơi trở lại vào tay Tây Sơn với một địa giới không rõ ràng, nhưng đây là một chiến thắng của họ. Chiến thắng nầy không những giúp Nguyễn Nhạc cảm thấy nới lỏng, mà cả Hoàng Ngũ Phúc cũng vui mừng. Họ Hoàng phong cho Nguyễn Huệ làm tiền phương tướng quân trong dịp nầy. Ông Huệ cùng với thuộc tướng Lý Tài được lịnh trấn giữ Phú Yên. Đó là một ngày đầu tháng 7 năm 1775.

Biệt Liên Chử chúa về đâu tá
Để Phúc Dương thất trận Ô Da
Chiều hôm ngoài tuyến là thù địch
Sáng dậy trong song hóa một nhà

Đâu ái nữ Tây Sơn ướm gả
Đâu Thọ Hương đâu lại Phúc Dương
Đâu đường chính thống con đường ấy
Nguyễn Nhạc Tây Sơn cũng mượn đường

Quân Trịnh bước không cần mượn lối
Thẻ bài Lê diệt Nguyễn Gia Miêu
Diệt luôn họ Nguyễn Tây Sơn ấp
Chính thống nhân tâm vẹn đủ điều

Vượt Hải Vân băng qua Liên Chiểu
Chiếm Trà Sơn, Đà Nẵng, Tam Thai
Một miền Diên Phước con sông nhỏ
Trịnh – Nguyễn Tây Sơn quyết đọ tài

Trận chiến đã hai đường chuẩn bị
Mặt trời lên làm chứng hơn thua
Chân mây chắc thấy lòng tận tụy
Gươm giáo thi nhau máu chảy lùa

Đồng cát trắng máu loang vô kể
Trận Cẩm Sa cát thấm từng cơn
Nếu mà cát biết lời tâm sự
Cát nói muôn năm cát vẫn hờn

Thất trận bắc Tây Sơn lùi bước
Mà trời nam đất lại không yên
Nguyễn quân khởi tiến từ Phiên Trấn
Năm lộ quân binh tiếp tiếp liền

Tống Phước Hiệp tổng binh tiết chế
Chiếm phố Hài, Phan Thiết, Phan Rang
Chiếm miền Diên Khánh sang sông cái
Một dải Phú Yên mấy dải ngàn

Ai Châu Tiếp đem quân hàng Nguyễn
Ai Bạch Triều đi sứ Qui Nhơn
Đất trời đổi gió dòng chinh chiến
Nguyễn Nhạc co ro gánh nỗi hờn?

Nào há dễ Tây Sơn bỏ cuộc
Một tính toan hơn thiệt đường trường
Hàng đất bắc chịu làm tướng Trịnh
Đối trời nam liệu mượn Phúc Dương

Nguyễn Hữu Chỉnh lên đường trao ấn
Cơ duyên nầy ai biết về sau
Đương thời Nguyễn Nhạc thành trưởng hiệu
Hiếu tướng chinh nam cuộc chiến này

Liệu tình thế Nhạc sai Phúc Chí
Đi Phú Yên mà luận tình hình
Hỏi rằng hai thế Tây Sơn – Trịnh
Ai trọng thù, ai chỉ thứ khinh?

Long Hồ quan trấn không khinh địch
Mà mắc mưu thường thế mới hay
Nguyễn Hiền chết hận trên đồi thấp
Tống Hiệp lui binh thế trận này

Bỏ Vũng Lấm, Tam Sơn đất tháp
Lui Bình Khang hòn Khói đầu thu (7/1775)
Phú Yên như thể gom về Trịnh
Non nước còn lan những mối thù

<<  |  >>