Skip to content

Chương 23

BIẾN CỐ GIÁP NGỌ 1774, VÀ NHỮNG HỆ LỤY

      Cái lò lửa Dốc Sỏi chưa xảy ra, nhưng cuộc chiến giữa Tây Sơn và Phú Xuân đã vang ra tới Thăng Long. Vua Lê Hiển Tông thì không quan tâm gì đến chuyện được thua của các thần tử nhà Nguyễn trong nam, nhưng chúa Trịnh Sâm thì không bao giờ không theo dõi. Nhà chúa luôn để ý đến tường trình của Đoan quận công Bùi Thế Đạt đang là trấn thủ Nghệ An. Nghe tình hình rối ren phương nam và nhìn chi tiết bản đồ Giáp Ngọ niên Bình Nam đồ của vị quận công họ Bùi, nhà chúa lộ niềm vui. Thời cơ chiếm lấy giang sơn bên kia sông Gianh đã đến. Tính từ năm 1627 khi Nguyễn Phúc Nguyên dám chống lại cao tổ phụ Trịnh Tùng đã 145 năm, thì đây là lúc tốt nhất để lấy lại. Tháng 5 năm giáp ngọ 1774, chúa Trịnh Sâm cử lão tướng Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc làm thống soái nam chinh. Quân số gồm  23 dinh thủy bộ lên tới 3 vạn quân. Đoan quận công Bùi Thế Đạt làm phó tướng, Xuân quận công Nguyễn Nghiễm làm tham tán, và ba tiến sĩ Phan Lê Phiên – Uông Sĩ Điển – Nguyễn Lệnh Tân cùng giữ chức tùy quân tham biện. Huy quận công Hoàng Đình Bảo, Hoàng Phùng Cơ, Hoàng Đình Thể, và Nguyễn Đình Đống là bốn thuộc tướng trung, tiền tả hữu quân. Khi đến bắc Bố Chánh, thống soái Hoàng Ngũ Phúc sai tên thư ký Nguyễn Hữu Chỉnh đưa thư của chúa Trịnh Sâm gởi chúa Nguyễn Phúc Thuần. Theo đó, vì tình cố cựu hai nhà Trịnh – Nguyễn nên mang quân giúp Đàng Trong dẹp giặc Tây Sơn. Không đợi phúc đáp, quân Trịnh đã vượt sông Gianh mà Tôn Thất Tiệp trấn thủ nam Bố Chánh không đủ sức ngăn cản. Quân tiên phong của Hoàng Đình Thể đã nhanh chóng tiến đến dinh Lưu Đồn mới gặp sự kháng cự của trấn thủ Tống Hữu Trường.

      Tưởng hệ thống lũy Thầy ở Lưu Đồn chặn được bước chân của quân Trịnh, nhưng không phải như thế. Cái hồn và sự kiên cố của Trấn Ninh, Trường Dực, Sa Phù của một trăm năm trước không còn nữa. Tình hình nầy đã sớm được báo về Phú Xuân, và phó trấn Quảng Bình là Lâm Chính được lịnh mang quân ra tăng phái. Cộng cả số quân Bố Chánh và Quảng Bình gởi đến, trấn thủ Tống Hữu Trường của Lưu Đồn chỉ nâng quân số lên gần tới 4 ngàn người. Nó là quá ít so với 3 vạn quân của Hoàng Ngũ Phúc. Dĩ nhiên, không giữ nổi Lưu Đồn. Từng toán quân Nguyễn tan tác, từng khúc lũy bị phá tan tành. Quân Trịnh đốt hết các chòi canh, và ngược dòng Kiến Giang nuốt hết dinh Lưu Đồn. Dinh Quảng Bình cũng chịu chung số phận. Đầu tháng 8 năm giáp ngọ 1774 thống soái Hoàng Ngũ Phúc đã xua quân tiến tới bắc Cựu dinh. Ông đặt bản doanh ở Hồ Xá.

      Chúa Nguyễn Phúc Thuần đứng trước một tình thế vô cùng nguy ngập. Móng vuốt xâm lăng của quân Trịnh đã trổ ra dài hơn không cần che đậy. Chúa Thuần ra lịnh cho Tôn Thất Nghiễm ở lại giữ Bình Sơn, và triệu hồi tướng Nguyễn Cửu Dật trở về. Ông Dật được phong tước Du quận công trong lúc nầy, và trở thành người được chúa tin tưởng để bảo vệ Phú Xuân. Đồng thời nhà chúa sai cai cơ Quý Lộc và cai cơ Kiêm Long đến Hồ Xá thương lượng với Hoàng Ngũ Phúc, kèm theo thư của chúa Thuần gởi đến chúa Sâm. Theo đó, Tây Sơn chỉ là một đám giặc nhỏ, binh triều Phú Xuân có thể tự dẹp yên, không cần nhọc lòng binh tướng chúa Trịnh, xin hãy rút quân về. Không những chúa Trịnh Sâm chẳng chịu nghe lời yêu cầu chúa Nguyễn Phúc Thuần, mà tự thân còn mang quân đến Hà Trung để thanh viện cho Hoàng Ngũ Phúc. Chúa Sâm giao thành Đông Kinh (Thăng Long) cho lão tướng Nguyễn Hoàn để kéo quân đi. Quả, cuộc nam chinh nầy rất quan trọng. Sự chiếu cố của chúa Sâm làm cho vị thống soái họ Hoàng càng yên tâm. Qua hết mùa thu năm 1774, ông ta cho tiến quân sâu vào Cựu dinh. Những cánh tiên phong đã tiến tới An Cư, An Việt của Vũ Xương bên bờ nam Thạch Hãn. Sức mạnh ấy đã khiến Trịnh Sâm không cần phải vòng vo. Ông ra lịnh Hoàng Ngũ Phúc truyền hịch rằng ngoài mục đích giúp dẹp giặc Tây Sơn, quân Trịnh cần giúp chúa Nguyễn dẹp quyền thần Trương Phúc Loan.

      Nhà Trịnh đã nại ra một lý do khác là cố ý gây chiến. Đứng trước tình hình rối răm như thế, chúa Thuần chiều theo phe bảo hoàng vốn đã bị Trương Phúc Loan cho “ngồi chơi” từ lâu. Họ nhân cơ hội nầy tìm cách bắt Loan, mà ngoại hữu  Nguyễn Cửu Pháp và  chưởng dinh Tôn Thất Huống là hai người sốt sắn nhất. Họ không khó để vận động cho tướng Dật, hiện ở ngoài thành, phải có mặt thường xuyên trong những lần phục triều. Điều kiện ắt có nầy giúp phe bảo hoàng dễ dàng thành công. Trong một lần phục triều như thường lệ, tướng Dật đã cùng những vệ sĩ thân tín áp đảo Trương Phúc Loan trước sự đồng thuận của chúa Nguyễn Phúc Thuần. Sự mới mẻ của tướng Dật làm phe quốc phó Loan không đề phòng. Hai người con của họ Trương là Trương Phúc Nhạc và Trương Phúc Thặng đương là quan nội điện trong cung cũng không kịp cứu cha mình. Họ cùng với hộ bộ Thái Sinh và những thân tín của Loan đều bị bắt liền sau đó. Một hy vọng hòa hoãn với Trịnh được nhen lên, phe bảo hoàng trao Loan cho Hoàng Ngũ Phúc. Liệu rằng điều nầy có giúp kinh thành Phú Xuân của vị chúa Nguyễn thứ chín được bình yên? Liệu rằng chúa Trịnh sẽ mang quân trở về đất bắc?

      Điều kỳ vọng của chúa Nguyễn Phúc Thuần đã không đến. Việc dâng nộp Trương Phúc Loan chỉ làm chậm cuộc tiến quân của nhà Trịnh đôi chút mà thôi. Thời gian đó không đủ để sửa đổi một chính phủ hư hoại của họ Trương đã có mười năm ăn sâu vào từng ngóc ngách. Để chấn chỉnh, chúa Nguyễn Phúc Thuần đã nhanh chóng có những thay đổi. Với thủy quân, chúa thay đô đốc Nguyễn Phúc Viên bằng đô đốc Tôn Thất Doanh. Với bộ binh, chúa  thay tiết chế Trương Phúc Nghiễm bằng người anh ruột của mình là Nguyễn Phúc Chí (Chất), và vị tham tán mới Nguyễn Đăng Trường. Ông Chí và ông Trường là những người tận tụy, nhưng hai ông đành bất lực trước những đoàn quân dưới quyền luôn luôn khiếp đảm lúc ra trận. Chỉ trong vòng 10 ngày cầm quân của tháng 10 năm 1774, tiết chế Nguyễn Phúc Chí từ chức khi liệu không thể đưa những binh đoàn bộ binh đi lên. Chúa Nguyễn Phúc Thuần phải đưa chưởng cơ Nguyễn Văn Chính thay thế. Ông Chính lập tức tự mình mang quân chống Hoàng Ngũ Phúc đang tràn xuống phía nam Cựu dinh. Rất tiếc, ông Chính không lật ngược được tình thế. Kéo quân đi rồi rút quân về, để quân Trịnh chiếm Trà Bát và Ái Tử.  Đó là một ngày của tháng 11 năm giáp ngọ 1774.

      Tình thế ấy đã làm vùng an toàn hẹp lại. Phú Xuân như một vũng nước cạn giữa hai con trâu đang khát nước. Ở phía nam, quân đội của Nguyễn Nhạc đang lăm le tiến chiếm Bình Sơn, Quảng Ngãi. Ở mặt bắc quân của chúa Trịnh Sâm đã dợm chân qua miền nam sông Thạch Hãn.  Cùng trong tháng 11, tướng Hoàng Ngũ Phúc đã chia quân làm hai cánh tiến về Chính dinh. Ở mặt biển phó tướng Bùi Thế Đạt và Hoàng Phùng Cơ đánh tan tác cánh hải quân của đô đốc Tôn Thất Doanh. Cánh quân bộ binh do chính Hoàng Ngũ Phúc trực tiếp chỉ huy. Từ Ái Tử  đạo quân nầy đã vượt qua sông Ô Lâu. Họ tiến sâu về phía nam của dòng sông nầy. Những địa cứ Ghềnh Trầm, Ghềnh Ma, Bái Đáp* đều thất thủ. Tướng tiên phong bắc triều Hoàng Đình Thể đã buộc chưởng cơ tiết chế nam triều Nguyễn Văn Chính chỉ có đường rút lui. Cuối tháng 11 quân Trịnh đã có mặt bờ tả ngạn sông Bồ. Họ ồ ạt tấn công những đồn binh bên hông cựu quốc trấn Bác Vọng. Bác Vọng chìm trong khói lửa. Vị tiết chế bất đắc dĩ Nguyễn Văn Chính đã hy sinh ở đây. Binh nam triều hoàn toàn tan rã. Thất bại nầy làm triều đình chúa Nguyễn Phúc Thuần vô cùng nguy ngập. Tham mưu trung dinh Tống Phước Đạm, và các tướng Võ Di Nguy, Nguyễn Cửu Dật, Trương Phúc Dĩnh được lịnh mang cả lực lượng bảo vệ hoàng thành ra mặt trận.

      Dù Tống Phước Đạm là một tham mưu có tài và hai tướng Nguy – Dật  là hai tướng trẻ gan dạ, nhưng các ông đành bất lực trước sức tấn công vũ bão của lão tướng kinh nghiệm bắc hà Hoàng Ngũ Phúc. Ngoài kiếm cung, hai bên đều có xử dụng đến súng trường, nhưng quân Nguyễn vẫn yếu thế hơn. Đang mùa mưa, khúc sông  Hiền Sĩ đầy nước, nhưng không ngăn quân Trịnh tràn qua  Phước Yên. Lực lượng đồn trú ở cựu quốc trấn dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên mang cùng số phận với Bác Vọng. Lửa cháy nghi ngút trong đêm trên những chòi canh và cả những kho lương thực. Trước tình thế quân địch quá mạnh đang cận kề Phú Xuân, tham mưu Tống Phước Đạm được lịnh rút quân về bảo vệ kinh thành. Lúc nầy người ta mới thấy những trái đạn thần công từ thành Phú Xuân bắn ra. Rất tiếc những trái đạn nầy chỉ đủ sức dằn chân lính Trịnh, chứ không kìm nổi đường tiến quân. Quốc phó Trương Phúc Loan đã lấy tiền thuế để mua vàng chứ không mua đạn là lý do những cây súng lớn đã trở thành vô dụng. Dĩ nhiên Hoàng Ngũ Phúc biết điều nầy nên ông cho tiếp tục tiến quân sau mỗi lần đạn pháo. Đường tiến quân của quân Trịnh về hoàng thành được thu ngắn theo những trái đạn giảm dần của quân Nguyễn. Đó là thời gian quân Trịnh phản pháo, và đó cũng là thời gian chúa Nguyễn Phúc Thuần phải đi đến một quyết định sinh tử: hoặc ở lại chiến đấu, hoặc ra đi.

      Chúa cho họp chư tướng một lần cuối, nhưng không có kế hoạch nào thủ thành. Chỉ có kế hoạch bỏ Phú Xuân được trình lên. Vị chúa Nguyễn thứ chín đau lòng đón nhận trình tấu nầy vì tình thế không có cách gì khác hơn. Ngay trong đêm ấy, các vị tướng trẻ Nguyễn Cửu Dật, Võ Di Nguy, Tô Văn Đoài ở lại kiềm chân quân Trịnh để cho một cuộc tòng vong an toàn. Chúa và một số hoàng thân được hộ giá ra sông Hưong trong lúc tiếng đạn còn đì đùng ở hướng bắc thành. Hôm ấy là rạng sáng một ngày cuối năm giáp ngọ trước thềm xuân ất mùi đang đến. Thời gian đã rơi vào tháng hai năm 1775

      Cuộc di tản chia làm 2 cánh và điểm đến chỉ là trấn thành Thanh Chiêm của dinh Quảng Nam. Cánh thứ nhất gồm một đội binh do cai cơ Nguyễn Cửu Thận đưa hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương và một nhóm hoàng thân vượt đèo Hải Vân. Cánh thứ hai là đoàn tòng vong theo chân chúa lên thuyền ra cửa biển Tư Dung. Họ phải bỏ lại tất cả những vật dụng cồng kềnh kể cả những cây súng trường không còn đạn. Cai cơ Trương Phước Dĩnh và đội trưởng Đỗ Thành Nhân chỉ huy đội thủy binh bảo vệ đoàn thuyền nầy. Họ gồm có Định vương Ngưyễn Phúc Thuần, chánh phi Nguyễn Thị Châu, ái nữ Ngọc Thục, hoàng thân Nguyễn Phúc Chí, và 4 cậu con trai của cố vương tử Nguyễn Phúc Côn: Đồng, Ánh, Điển, Mân. Thuyền ra đi yên ổn và hai ngày sau cập bến cửa Đại Chiêm. Vị tổng trấn Quảng Nam, và các quan văn võ ra nghênh đón. Chúa và hoàng gia được bình an đưa về thành Thanh Chiêm trong ngày. Họ vui mừng gặp lại cánh đi bộ của hoàng tôn Dương sau đó,  nhưng tin bất lợi cũng vừa báo đến.

      Quân Tây Sơn đã chiếm lại Bình Sơn, và đang tấn công Bến Ván. Từ khi tướng Nguyễn Cửu Dật được lịnh về bảo vệ Phú Xuân, nội hữu Tôn Thất Nghiễm không giữ được vùng tái chiếm. Bên khúc quặn Trường Giang hướng về Bến Ván quân Nguyễn bị đánh tan tác. Quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã tràn qua Tam Kỳ, Quán Thắp tiến về Đồng Dương. Cuộc bắc tiến rầm rộ với những cờ xí và gươm giáo như một dòng thác. Con đường nam bắc cắt qua sông Ly Ly đã bị chiếm. Quân Tây Sơn đi quá nhanh, họ chiếm Nam Phước chiếm Trà Kiệu. Chỉ còn một đoạn đường ngắn, và một bờ sông là đến thành Thanh Chiêm. Trấn thành phên dậu phía nam của Phú Xuân trong 9 đời chúa, không còn yên tĩnh. Tây Sơn đã đến quá gần, mà sự sống còn cần đến những cuộc chiến đấu mãnh liệt. Từ ý niệm nầy hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương được chọn làm trừ quân để phòng một biến cố xấu xảy ra. Những Tôn Thất Tĩnh, Tôn Thất Kính, Trương Phước Dĩnh, và ngay cả người anh Nguyễn Phúc Chí đã tấu trình như thế. Không điều gì tốt hơn là sự bằng lòng. Vị chúa Nam Hà trẻ tuổi Nguyễn Phúc Thuần đã chuẩn thuận. Chọn thế tử là một việc rất thường, nhưng trong tình thế mùa xuân năm 1775 ấy quả là khác thường.

      Không có kèn trống cho cuộc đăng quang của hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, chỉ nghe áp lực địch đương tới. Từ Đồng Dương, Nguyễn Huệ cho quân băng qua Đồng Trạm, Hà Lam, Trà Kiệu, bên bờ nam sông Thu Bồn. Ông ra lịnh kết bè tre vượt sông giữa tiếng đạn đì đùng từ Thanh Chiêm bắn sang. Không biết đây có phải là lối nghi binh hay không, mà thuyền bè đang chuẩn bị ở Trà Kiệu thì một cánh quân Tây Sơn khác đang có mặt ở Hội An. Ra rằng, thủ lĩnh Nguyễn Nhạc đã có cánh quân thứ hai di chuyển theo đường biển. Đích thân ông chỉ huy hai thuộc tướng Lý Tài và Tập Đình tiến vào cửa Đại Chiêm. Quân Hòa Nghĩa và Trung Nghĩa của họ Lý và họ Tập đổ bộ vào cửa sông Hoài. Họ tràn lên những dãy phố xây bằng gạch, có từ thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Một cuộc cướp phá cẩu thả ở đây đã xảy ra. Phố Tàu, và phố Nhật bị những tay giang hồ biển để ý. Chúng đụng độ với quân Nguyễn bảo vệ Hội An. Một cuộc chiến không hề nhỏ xảy ra trong nhiều ngày ở đây. Máu liên tiếp đổ ra, và quân Tây Sơn trên đà thắng thế.

      Tin ở Hội An được báo về Thanh Chiêm. Chúa Nguyễn Phúc Thuần ra lịnh vị tổng trấn Quảng Nam trưng dụng tất cả những dân quân có thể có để tái phối trí. Vị tổng trấn bơ phờ trước lịnh của chúa, thì một cai đội trẻ tuổi có tên Vũ Văn Nhậm đã giúp ông thi hành. Rất tiếc đạo quân tân lập nầy không có vóc dáng của một lực lượng quân đội. Không những không kêu gọi hết được những người già và thiếu niên, mà lính dưới quyền tổng trấn đã có rất nhiều nhóm bỏ trốn. Một ông chúa trẻ tuổi Nguyễn Phúc Thuần có sức lôi cuốn vào giờ phút chót, chỉ gom được chừng non ngàn quân. Kể cả mới và cũ. Tất cả do Vũ Văn Nhậm chỉ huy, nhưng thực lực thực quả không đáng tin cậy.  Điều nầy đã đưa đến quyết định bỏ Thanh Chiêm mà đi. Nhưng, lại đi đâu? Phía tây và phía nam đã có quân của Nguyễn Huệ, phía đông đã có Nguyễn Nhạc. Con đường bắc giới hạn từ Thanh Chiêm đến Hải Vân là con đường khả dĩ tốt nhất. Kế hoạch phải thực hiện gấp khi Tây Sơn đang tràn về. Non một ngàn quân của Vũ Văn Nhậm làm nút chặn để chúa ra đi. Đây là duyên phận để Vũ Văn Nhậm gặp Tây Sơn Nguyễn Huệ khi chiến trường chỉ còn hai người chiến đấu.

      Khi chẳng còn mấy binh sĩ bên mình, Nhậm vẫn đối mặt với Nguyễn Huệ với ánh mắt tự tin. Nhậm đã trả lại những tuyệt chiêu mà Huệ phải e dè thối lui. Huệ đã từng thử qua hai tay đao nặng ký Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng, nhưng so ra hai người bạn của mình không phải là đối thủ của Nhậm. Thế kiếm và lòng gan dạ của tên cai đội chưa bao giờ nghe tên nầy quả là kinh người. Hắn bình tĩnh nhìn từng đường kiếm. Ánh mắt ấy, thần thái ấy, Huệ thấy Nhậm na ná giống mình. Phải giết hắn hoặc phải thu phục hắn, chứ không thể để hắn chạy thoát. Huệ tăng nhanh đường đao mà Huệ vừa sáng tạo. Nó vốn là sự phối hợp của thầy giáo Hiến và người thợ rèn thần kiếm Đặng Văn Long. Đây là lần đầu tiên Huệ đem áp dụng ngoài chiến trường, và quả thật là thần kỳ. Cái cảm giác nể phục khi nhìn thấy mũi phi đao của Đặng Xuân Bảo ở truông Mây hiện ra, nhưng lần nầy do chính Huệ xử dụng bằng đại đao. Nặng và nhanh đến mức không ngờ. Chỉ qua ba chiêu thế, lưỡi đao đã giáng xuống một bên vai Nhậm. Nhưng, Huệ dừng lại. Thái độ bình tĩnh đón cái chết của Nhậm làm Huệ nể phục. Nhậm chịu ân Huệ, và chấp nhận về hàng Tây Sơn trong trường hợp như thế. Mang mang trong lòng người thanh niên họ Vũ những đan xen. Dĩ nhiên Nguyễn Huệ biết tâm trạng của Nhậm nên xin người anh Nguyễn Nhạc trọng dụng Nhậm. Tây Sơn đã kéo nhân tài Vũ Văn Nhậm về với mình trong lúc nầy. Đó là một ngày của mùa xuân năm ất mùi 1775.

      Khi Tây Sơn chiếm được Thanh Chiêm, thì chiến trận hoàng thành Phú Xuân đã ngã ngũ. Dù các tướng trẻ Đàng Trong chiến đấu quyết liệt, nhưng không địch nổi những tay cự phách Bắc Hà với quân số đông hơn rất nhiều lần. Họ chỉ đủ sức cầm chân Trịnh để chúa ra đi, hơn là cố giữ thành Phú Xuân. Sau những ngày tết ất mùi rơi vào tháng 2 năm 1775, người ta không còn nghe tiếng gươm đao trong thành. Không rõ tướng Võ Di Nguy và Tô Văn Đoài rút quân về đâu, nhưng tướng Nguyễn Cửu Dật đã có mặt ở Sơn Trà, Đà Nẵng thuộc phủ Điện Bàn. Lúc nầy vị tướng họ Nguyễn nổi tiếng ở Bến Ván đã liên lạc được cánh quân của chúa Thuần từ Thanh Chiêm chạy ra. Họ gặp nhau ở Liên Chử bên chân đèo Hải Vân.  Trước mặt chúa và tướng Dật chỉ còn cai đội Tống Phước Thiêm, đội trưởng Đỗ Thành Nhân, anh em của Nguyễn Phúc Đồng, và chừng 100 người lính. Tây Sơn dí theo bức quá làm họ lạc nhau. Cả vợ và con cũng không theo kịp. Đó là chưa kể hoàng tôn Dương, hoàng thân Nguyễn Phúc Chí, giám quân Tống Phước Đạm, cai cơ Nguyễn Cửu Thận, cai đội Trương Phước Dĩnh, và số đông quân lính vẫn còn thất lạc ở đâu.

      Trú ẩn ở Liên Chử, chúa luôn theo dõi tin tức về kẻ Huế, và nhất là tình hình Phú Xuân. Theo đó, Hoàng Ngũ Phúc đã vỗ về dân chúng trở về với triều đại nhà Lê. Không có sự kiểm soát gắt gao nên một số hoàng thất nhà Nguyễn trốn thoát được. Nhiều người giả dân thường đi bộ ra Cựu dinh hoặc trốn ra khơi, nhưng không bị truy giết. Chúa Trịnh Sâm không cố ý tiêu diệt quân thần của chúa Thuần mà chủ tâm tiến về phương nam. Phía nam châu Hóa tức gần đèo Hải Vân đã có những đoàn quân Trịnh.  Tương tự tin tức từ phía bắc, ở phía nam cũng có những tin đưa về. Tây Sơn đã hoàn toàn làm chủ Thanh Chiêm và Hội An. Họ cho củng cố hai nơi nầy, và có ý tiến dần về hướng bắc. Họ đã chiếm Bản Bồ và Trung Sơn ở tây bắc phủ Điện Bàn. Hình như họ đương ngại quân Trịnh ở bắc Hải Vân, nên không tiến xuống bờ đông. Vô hình trung, Liên Chử mà chúa Thuần đương trú ẩn trở nên an toàn. Nó nằm trên vùng trái độn giữa Trịnh và Tây Sơn. Tuy thế, lòng chúa buồn vô hạn. Ngước về tây, đèo Hải Vân heo hút và rừng Bạch Mã mênh mông. Ngước về đông, biển khơi trùng trùng sóng nước. Lẽ nào ta chết nơi đây, lẽ nào không còn cơ hội vực dậy vương triều? Lẽ nào ta là tội nhân của dòng họ có trên 200 năm khai mở giang sơn nầy?

      Những ý nghĩ trong lúc cận cùng, đã đương đến quyết định bằng mọi cách phải vượt biển vào nam. Nó phải được thực hiện trước khi tình thế trở nên xấu hơn. Những ngư dân ở vịnh Liên Chử đã giúp binh tướng của chúa Thuần trong cơn sống chết nầy. Mười chiếc thuyền nhỏ nửa đêm ra khơi mang được hơn 200 người trong đó có quận công Nguyễn Phúc Kính, tướng Nguyễn Cửu Dật, đội trưởng Đỗ Thành Nhân, cai đội Tống Phước Thiêm, anh em Nguyễn Phúc Đồng, Nguyễn Ánh, Nguyễn Mân, Nguyễn Thiển…Rất may, bà chánh phi và ái nữ đã đến kịp trong lúc nầy. Hai mẹ con không kịp lên cùng thuyền với chúa, nhưng cũng được vượt thoát. Cuộc chia tay quá nhanh đến nỗi không có một lời cảm ơn với những ngư dân vô danh. Người lên thuyền khó biết số phận sẽ về đâu, lòng rối lên nhiều thứ. Không biết Định vương Nguyễn Phúc Thuần còn lòng nghĩ tới những người khác hay không. Người mẹ Nguyễn Thị Ngọc Cầu đang ở đâu? Võ Di Nguy, Tô Văn Đoài và những lính trong giờ cuối của thành Phú Xuân đang chạy về hướng nào? Hoàng tôn Dương và những cận thần đi theo đứa cháu nầy đã ra sao? Và biết bao nhiêu người còn ở lại. Ông nhìn vào bờ. Vịnh Liên Chữ một màu đen thẫm. Đó là một đêm đầu tháng hai năm ất mùi 1775.

Quân đã đợi bên đồi dốc Sỏi
Mà chiến tranh lại ở nơi nao
Phú Xuân đối mặt quân đường bắc
Nhà Trịnh xua binh định cơ đồ

Vượt sông Gianh chiếm dinh Bố Chính
Tràn Lưu Đồn như thể mưa tuôn
Lũy Thầy mấy lũy hư hao quá
Nhật Lệ buồn hiu ngắm lũy buồn

Sang dinh Cựu qua truông Hồ cũ
Đặt bản doanh Hồ Xá mùa thu (1774)
Trịnh quân ngờm ngợp bao quân tướng
Nguyễn chúa xanh xao những rối mù

Rút Cửu Dật bên đồi dốc Sỏi
Về Phú Xuân bảo vệ kinh đô
Sai người nhắn gởi ra Trịnh chúa
Mà chẳng lung lay Trịnh bá đồ

Trịnh bắt ép giao thần quốc phó
Khó khăn nầy rồi cũng lo toan
Nhưng không cản được lòng xâm lấn
Ái Tử can qua độ kinh hoàng

Mất Ái Tử, Chính dinh run sợ
Đồn Trầm, Ma, Bác Vọng rút lui
Bỏ sông Hiền Sĩ tim đau nhói
Bỏ phá Tam Giang dạ ngậm ngùi

Trịnh đã tới bên thành ngoại phủ
Nguyễn lung lay chín lớp hoàng gia
Chiều lên nắng thấp buồn kẻ Huế
Đêm xuống thuyền đi giã biệt nhà

Sợ Thuận An thuyền qua cửa nhỏ
Bờ Tư Dung hiu hắt đêm trường
Người đi ngoảnh lại kinh thành cũ
Kẻ ở quan hà ngóng biển sương

Đường biển rộng nơi nao chúa đến
Chiều Thanh Chiêm non nước đón mời
Con sông Chợ Củi miên man quá
Chắc biết sơn hà cuộc tả tơi

Địch đã tới Bình Sơn dốc Sỏi
Đồn Bản Tân thất thủ chiều qua
Trường Giang khúc quặn sông làm chứng
Quán Thắp, Đồng Dương, Nguyễn mất nhà

Quan nội hữu về đâu thất tán
Bến Ly Ly dòng thác Tây Sơn
Đường qua Nam Phước qua Trà Kiệu
Cờ kiếm đao cung sóng dập dờn

Quân nhà Nguyễn từng cơn thắt ruột
Chúa Phúc Thuần bất lực đôi tay
Những người tôn thất đi theo chúa
Gợi ý trừ quân ở dịp này

Hoàng tôn Dương được tôn thế tử
Cuộc đăng quang không trống không kèn
Nước trôi muôn thứ về Hoài phố
Sao giữ bên mình những rối ren!

Đường bắc tiến Tây Sơn ngằn ngặt
Cửa Đại Chiêm, Lý – Tập cập bờ
Hội An thiêm thiếp ngày đổi chủ
Khách – Nhật bơ phờ đến tiêu sơ

Tình thế ấy nguy cơ cận kịp
Ai vô danh mà thẹn cỏ cây
Ai người hoàng phủ mà ngơ ngẩn
Ai kẻ cưu mang trận chiến nầy

Giữa trời đất cao xanh mây nước
Phận tôi thần Vũ Nhậm nhỏ nhoi
Tiễn quân dụng kiếm so tài lược
Nguyễn Huệ nương tay mối cảm hoài

Vũ Văn Nhậm soi trong tấc dạ
Đâu ân nhân đâu nghĩa quân thần
Đâu là non nước đâu non nước
Nghĩa vốn vô cùng chẳng thể phân

Thế trận thế như đà định sẵn
Mỗi phận người riêng mỗi long đong
Chiều hôm sương khói mờ nhân ảnh
Vũ Nhậm sang sông có chạnh lòng!

Lo chi nỗi chút trong chút đục
Cuộc đương thời Nguyễn chúa về đâu
Ai qua Liên Chử lòng tơ rối
Ai đến Trà Sơn ruột nát nhàu

Giữa trời biển nỗi đau rộng quá
Thà ly hương dù dặm sơn khê
Con đường ly xứ không vàng võ
Nguyễn chúa ra đi có trở về?
_________________________________________________

*Theo Thông Giám Cương Mục, ghềnh Trầm và ghềnh Ma ở xã Cổ Bi, Bái Đáp ở xã Phú Lễ. Ba địa danh đều thuộc huyện Quảng Điền, Thừa Thiên ngày nay.

<<  |  >>