Skip to content

Chương 22

TÂY SƠN KHỞI NGHĨA

      Bóng dáng Nguyễn Tây Sơn đã xuất hiện, nhưng anh em nhà họ Nguyễn nầy là ai?  Rất tiếc, vẫn chưa tìm ra một câu trả lời thỏa đáng. Con cháu nhà Nguyễn Tây Sơn bị truy giết tận tuyệt sau chiến tranh 1771 – 1802, nên thiếu sự chứng minh về nguồn gốc của dòng họ nầy một cách rõ ràng. Hoàng Lê Nhất Thống chí, Khâm định Việt Sử Thông Giám Cương Mục,  Đại Nam Thực Lục, chỉ nói lướt qua nguồn gốc anh em Tây Sơn và cho biết họ mang họ Nguyễn. Riêng Tiền Biên Đại Nam Liệt Truyện (soạn xong năm 1852 dưới thời vua Tự Đức) trong chương “Ngụy Tây”, nói rõ hơn một chút về nguồn gốc anh em Nguyễn Nhạc. Theo đó; ông tổ 4 đời của họ ở Hưng Yên, Nghệ An bị lính Đàng Trong bắt được trong chiến tranh Trịnh – Nguyễn lần thứ năm (1655 -1660). Đó là cuộc chiến tranh bắc tiến của chúa Nguyễn Phúc Tần tranh hùng với chúa Trịnh Tráng và chúa Trịnh Tạc. Vị tổ 4 đời của nhà Tây Sơn nầy bị phe chiến thắng (Đàng Trong) lúc bấy giờ bắt đưa vào Quảng Nam trong chiến dịch khai khẩn đất hoang. Họ bị đưa vào ấp Tây Sơn nhất, huyện Phù Ly của phủ Quy Nhơn vào những năm 1653 – 1657, tương ứng với niên hiệu Thịnh Đức của vua Lê Thần Tông. Đaị Nam Liệt Truyện có nói rõ hơn, nhưng chỉ đến như thế. Sách không nói họ là thường dân hay tù binh, và cũng không xác định họ có họ nào khác ngoài họ Nguyễn.

      Đến năm 1920 học giả Trần Trọng Kim soạn bộ “Việt Nam Sử Lược” có nói nhà Nguyễn Tây Sơn có gốc họ Hồ từ Nghệ An, nhưng không nói dựa vào nguồn nào. Học giả họ Trần chỉ cho biết tổ 4 đời của Nguyễn Nhạc bị bắt đưa vào Qui Nhơn, và đến thân sinh của Nguyễn Nhạc là Hồ Phi Phúc có vợ người họ Nguyễn. Cũng theo đó, anh em Tây Sơn đổi sang họ Nguyễn của mẹ để dễ thu phục nhân tâm trong cuộc khởi nghĩa 1771. Năm 1959 khi xuất bản Việt Sử Tân Biên cuốn 3, sử gia Phạm Văn Sơn cũng viết như học giả Trần Trọng Kim. Tương tự hai vị sử gia trên, năm 1989 nhà thơ Quách Tấn viết về xuất xứ anh em Tây Sơn trong “Nhà Tây Sơn” cũng giống như thế. Đây là 3 vị thức giả của thế kỷ 20 viết về lịch sử làm chúng ta không thể không tin theo.

      Tuy nhiên, về xuất xứ dòng họ vua chúa dưới thời phong kiến là rất quan trọng. Nó là cái gốc của thịnh đạt hay suy vi của một triều đại. Nếu con cháu lỡ lạc họ, lập tức quay về khi có dịp. Đìều nầy không những giữ niềm hiếu thảo, mà còn giữ được sự hộ trì của tổ tiên. Nếu chối bỏ, các vị quân vương đó bị ám ảnh sẽ bị trừng phạt. Bằng cách ấy, chúng ta có thể đặt dấu hỏi nhà Tây Sơn có 3 đời vua tại sao không lấy lại họ gốc (nếu có). Người có óc canh tân như vua Thánh Nguyên Hồ Qúy Ly đã làm như thế.  So ra, tình hình thời nhà Hồ không hề khả quan hơn lúc nhà Tây Sơn đã lên ngôi. Bằng cách nhìn vào sử cũ và bằng cách nhìn vào thực tế vừa nêu, chúng tôi xin được giữ nguyên anh em nhà Tây Sơn họ Nguyễn. Vậy Nguyễn Tây Sơn đã làm gì từ cuộc khởi nghĩa 1771?

      Tây Sơn là một làng cực tây của huyện Phù Ly. Phù Ly có tên từ thời sau cuộc chiến tranh 1471 dưới thời vua Lê Thánh Tông, nhưng Tây Sơn mới có mặt từ khoảng thế kỷ 17 trong thời các chúa Nguyễn. Đó là vùng đất dần dần mở rộng về phía tây của huyện Phù Ly của phủ Qui Nhơn. Đến đầu thế kỷ 18, gọi Tây Sơn là một ấp hay lớn như một xứ đều được cả. Nó chỉ hàm ý vùng rừng núi phía tây của phủ Qui Nhơn đang dần dần khai phá. Đó là nơi đầu tiên tổ tiên Nguyễn Nhạc di cư đến. Qua 3 đời, vì sinh kế, thân sinh ông Nhạc dời về quê vợ ở Phú Lạc thuộc huyện Tuy Viễn. Nguyễn Nhạc sinh khoảng năm 1740. Ông là con trưởng trong gia đình đông con, mà đến khi trưởng thành chỉ còn lại 4 người. Sau Nhạc là người em gái, và hai người còn lại là Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Bốn anh em họ đều được sinh ra ở làng Phú Lạc, và về sau theo cha mẹ về làng Kiên Thành. Kiên Thành và Phú Lạc cách nhau không xa, đều nằm bên bờ tả ngạn sông Côn và phía tây cụm tháp Dương Long.

     Từ đầu thập niên 60 (1760) Nguyễn Nhạc đã theo cha đi buôn cau trầu nguồn với số lượng lớn. Cha ông lập bến phân phối ở Kiên Thành, và nơi đây được gọi là Trường Trầu (trường: một khu vực nhỏ). Đây là địa điểm trung chuyển xuống đến các làng Gò Chàm, An Thái, phủ lỵ Qui Nhơn, Kỳ Sơn, Thị Nại… Nhờ có tiền và nhờ công việc đi lại nhiều nơi, cuối thập niên 60 Nguyễn Nhạc xin được một chân biện lại ở Vân Đồn bên bờ hữu ngạn sông Côn. Công việc nầy không đòi hỏi nhiều thời gian, nên Nguyễn Nhạc vẫn giữ nghề buôn trầu của mình bên cạnh một chức vụ nhà quan. Do vậy người ta thường gọi Nguyễn Nhạc là anh hai Trầu hay ông biện Nhạc. Cùng trong thập niên nầy cha mẹ lần lượt qua đời, Nhạc như là người cha đối với hai em trai vì hơn họ cả đến mười và mười hai tuổi.

     Bên cạnh một anh lái trầu kiêm anh biện lại, Nguyễn Nhạc cũng là một người có lòng trắc ẩn. Khi đi thu thuế, Nhạc thấy được nỗi cùng cực của người dân. Thường xuyên phải chịu mùa màng thất thu, người dân còn phải chịu nhiều thứ bóc lột của hệ thống tham nhũng của quốc phó Trương Phúc Loan. Những người có tiền đều có thể mua được một chức quan, trong lúc người nghèo tiếp tục chịu đựng đóng thuế đến hạt lúa cuối cùng. Bên cạnh thuế thân, thuế ruộng, còn một loại thuế bất thường đóng góp cho chiến trường được gọi là thuế binh. Ba thứ thuế ấy cứ chồng lên nhau chẳng bao giờ trả dứt. Những người thiếu thuế thường bị đánh đập, và trở thành những người tù xâu dịch quanh năm. Tình trạng ấy đưa đến nổi loạn. Nếu ở Bồng Sơn có loạn Nhưng Huy thì ở Phù Ly có loạn Tứ Linh. Nếu ở chợ Gồm và chợ Gò Chàm có một Nguyễn Văn Tuyết trở thành thủ lãnh của những tay giang hồ đi cướp giật, thì cửa biển Thị Nại có hai người gốc Minh hương là Lý Tài và Tập Đình cũng hành động tương tự. Nhìn chung những Nhưng Huy, Tứ Linh, Nguyễn Văn Tuyết,  Lý Tài – Tập Đình đều không đáng ngại, nếu không có Nguyễn Thung và Huyền Khê. Họ là hai tay nhà giàu muốn tạo thế lực chính trị ở Qui Nhơn. Họ dùng tiền đã mua chuộc được Lý Tài và Tập Đình thành một lực lượng lớn. Tương tự như thế, anh em người buôn ngựa Châu Văn Tiếp ở Phú Yên cũng có cái nhìn xa hơn những cuộc lời lỗ của một kẻ đi buôn. Tiếp có tên thật là Doãn Ngạnh cùng bốn người anh em là Doãn Chữ, Doãn Chấn, Doãn Húc và Doãn Thị Đậu có địa bàn ở Đồng Xuân, và đang liên kết với lực lượng người thượng ở Thạch Thành do bà chúa Hỏa lãnh đạo.

     Đứng trước một xã hội không công bằng và bất an như thế, Nguyễn Nhạc muốn làm một điều gì đó thực tế hơn là chờ đợi. Tại bến Trường Trầu nhiều lần nhìn nước sông Côn miên man chảy về xuôi, Nguyễn Nhạc quyết định tụ nghĩa. Đó là một ngày mùa xuân năm canh dần 1770. Những người mà Nhạc tin tưởng nhất không ai khác hơn là hai đứa em Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Từ ngày cha mẹ mất, Lữ và Huệ được anh hai chăm sóc. Năm 1770 nầy, Lữ 19 Huệ 17, và là học trò của thầy giáo Trương Văn Hiến ở An Thái cả về văn và võ đã được 3 năm.  An Thái cách Kiên Thành một buổi đường đi bộ và một chuyến đò, nên Nguyễn Nhạc gởi hai em ở lại nhà thầy giáo Hiến để tiện việc học hành. Nhạc thường ghé thăm em, nên sớm gần gũi với giáo Hiến như một người bạn vong niên. Qua đó Nhạc biết giáo Hiến có tấm lòng với nước non, nhưng không thể mời ông nhập cuộc. Ông vừa là một tôi thần trung thành với nhà chúa Nguyễn, vừa nép mình dưới quyền lực của Trương Phúc Loan để được yên thân. Sau khi nội hữu Trương Văn Hạnh và thị giảng Lê Cao Kỷ bị Trương Phúc Loan giết năm 1765, thì Trương Văn Hiến đưa gia đình trốn vào Qui Nhơn. Dù là người dạy võ dạy văn, nhưng ông Hiến sống an phận. Thầy giáo Trương Văn Hiến phải chối bỏ sự liên hệ của mình với Y Đức hầu nội hữu Trương Văn Hạnh mới mở được trường dạy học ở An Thái. Sống giữa lòng Qui Nhơn như thế, làm sao qua mắt được tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên, một tai mắt của quốc phó Trương Phúc Loan? Ông thu mình lại để tự mâu thuẩn lấy chính mình.

     Chính vì tâm trạng đó thầy giáo Trương Văn Hiến không trực tiếp giúp cho Nhạc, nhưng ông đã giới thiệu người học trò cũ Phan Văn Lân đến với Nhạc. Lân là học trò của giáo Hiến khi còn ở Phú Xuân và cũng di cư vào Qui Nhơn khi chúa Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi. Bên cạnh đó giáo Hiến còn giới thiệu con của một cố nhân đã qua đời cho Nhạc. Đó là người trẻ tuổi Ngô Văn Sở đã lưu lạc vào Qui Nhơn khi gia đình bị oan sai ở dinh Bố Chính. Trương Văn Đa, đứa con trai của thầy giáo Hiến cũng được Nguyễn Nhạc để ý, nhưng Đa cũng dè dặt như cha. Không kể cha con giáo Hiến thì Lân, và Sở là hai người đầu tiên đến với anh em Tây Sơn.

     Họ bí mật thành lập lực lượng khởi nghĩa, và Nguyễn Nhạc là người đầu đàn lãnh đạo. Điạ bàn hoạt động được giới hạn trong phủ Qui Nhơn, và phương hướng đặt ra là lập những chi sở trong 3 huyện Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn. Công việc chưa đến đâu thì chạm ngay những cuộc tảo thanh của chính quyền. Quan đầu phủ Nguyễn Khắc Tuyên thường xuyên hành quân tiêu diệt bọn Nguyễn Văn Tuyết, Nhưng Huy, Tứ Linh đã kéo tới những chú ý khác. Họ để ý tới nhóm thổ hào Nguyễn Thung và Huyền Khê rồi lan ra những mũi nhọn mà họ đánh hơi nghi ngờ. Do vậy kế hoạch lập cơ sở từng địa phương của anh em Tây Sơn được hoãn lại, thay vào đó một chiến khu được thành hình. Nguyễn Nhạc nghĩ đến dòng sông Pa (Ba) bên kia dòng sông Côn mà mình đã đi qua. Đó là những lúc lội bộ tìm những vườn trầu nguồn heo hút của người Ba Na. Đó là những lúc uống rượu cần với dân làng và vị tù trưởng già hiền hậu có đứa con gái mang tên Y Dố. Ở đó buôn làng của người Ba Na, Gia Rai và Xê Đăng trộn lẫn nhau không ranh giới. Tất cả chúng nối liền thành một thung lũng rộng quanh dòng sông Ayun đổ vào sông Pa. Nếu từ miền xuôi muốn đến đây phải qua sông Côn và băng qua rừng An Khê, mà những nghĩa sĩ bắt đầu quen miệng gọi là rừng Tây Sơn. Do vậy, gọi chung những địa danh trên thung lũng sông Pa ấy là Tây Sơn thượng, thì không cần phải thay đổi một từ nào để chính xác hơn. Nó sẽ là nơi hoạt động của chiến binh. Sẽ có những doanh trại, và những đoàn binh luyện tập. Ở đó có những ngọn núi mà Nhạc chưa từng biết tên, và những cánh rừng chưa từng biết tới.

     Đầu năm 1771, dưới triều đại chúa Định vương Nguyễn Phúc Thuần, Tây Sơn thượng không phải là địa danh hành chánh, nhưng nó thực sự có mặt. Nó đưong nẩy mầm cho một cuộc kháng chiến, và nó cũng đang nở hoa cho một tình yêu. Y Dố con của tù trưởng Ba Na đã từng khắc khoải mong ngóng những chuyến “về làng” của người lái trầu Nguyễn Nhạc từ vài năm nay. Cô gái Ba Na nầy không biết mình đã yêu thầm chàng trai người Kinh họ Nguyễn từ bao giờ. Cô biết Nguyễn Nhạc có vợ có con, và hơn mình những 10 tuổi, nhưng không hiểu sao cô vẫn nghĩ Giàng đã mang chàng tới cho mình. Tháng giêng năm 1771 khi Nhạc bàn bạc với cha cô về việc xin định cư tại làng, cô mừng lắm.

     Từ lâu các dân tộc thiểu số Gia Rai, Xê Đăng, Ba Na không còn để ý đến Lê hay Nguyễn ở miền xuôi, nhưng từ ngày quốc phó Trương Phúc Loan chuyên quyền họ có thái độ tích cực hơn. Tiêu, trầu, trầm hương của họ bị đánh thuế quá cao mỗi khi đem về bán ở Qui Nhơn là lý do. Để tránh tình trạng chịu thuế với giá cắt cổ nầy, những người thợ rừng  thường đi qua một trung gian, nhưng cũng chẳng tốt hơn gì. Dù gián tiếp hay trực tiếp,  người miền cao vẫn là nạn nhân. Tù trưởng Ba Na hiểu được nỗi thiệt thòi nầy, nên ông đăm chiêu nghe Nhạc nói khái quát về một căn cứ, về một thượng đạo Tây Sơn, và cuối cùng ông bằng lòng vào một ngày xuân của năm 1771.

      Đó là ngày khai sinh của Tây Sơn Thượng Đạo, dù rằng nó không là địa danh hành chánh. Những huynh đệ đã về. Đầu tiên là 6 người khởi thủy Nhạc, Lữ, Huệ, Lân, Sở và Phạm Ngạn, một người em vợ của Nhạc mới vừa kết nạp. Họ đi đi về về, và kéo theo một số người mới. Cặp đôi Nguyễn Văn Tuyết – Trần Thị Lan cùng một số anh em giang hồ Gò Chàm đã theo về với Tây Sơn trong lúc nầy. Họ đến thượng đạo sau lần được Nguyễn Huệ và Ngô Văn Sở cứu thoát trong cuộc hành quân tảo thanh của quân đội Qui Nhơn. Nguyễn Văn Tuyết ở hẳn trên Tây Sơn thượng đạo và được Nguyễn Nhạc giao huấn luyện những người mới đến thành đội ngũ. Sau Nguyễn Văn Tuyết thì Lê Văn Lộc cũng về với Tây Sơn. Lộc nhà nghèo và rất giỏi võ ở Tuy Viễn, lo cho mẹ đau không đủ tiền đóng thuế bị lính quan phủ tới bắt. Lộc cõng mẹ chạy đi, nhưng đám lính không tha. Trên đường rượt đuổi, Lộc tình cờ được Nguyễn Huệ đánh tan quân binh cứu Lộc. Ơn tri ngộ ấy đã đưa Lộc đến Thượng đạo. Nếu Tuyết lanh lợi của một tay giang hồ thì Lộc chất phát của một nông dân, nhưng cả hai đều tương kính. Họ trọng nhau vì những đường kiếm và những ngón võ chân truyền. Cuối năm 1771 khi mùa lúa tháng 10 đã thu hoạch, thì binh đội của Thượng Đạo lên tới số ngàn. Ngoài người Kinh và Ba Na người ta thấy có cả những người Xê Đăng, Gia Rai. Những người gốc thiểu số nầy hầu hết là bạn bè của những người thợ rừng đã đến Qui Nhơn và từng bị trấn lột. Nguyễn Lữ đã nhanh chóng học tiếng miền cao, và trò chuyện với dân làng như những người bạn. Lữ mau chóng nằm lòng những phong tục, ngôn ngữ và tín ngưỡng những vùng mới đến. Lữ chỉ cho họ cách nhìn mây và nhìn gió một cách khoa học để gieo trồng. Lữ nghiên cứu về thiên văn, và chỉ cho họ về một bầu trời thêng thang hơn một bầu trời chỉ có rừng núi quen thuộc. Không những họ chỉ đi rừng, mà họ còn có thể đi biển nữa. Lữ trở thành thầy. Người ta gọi là thầy tư Lữ.

     Thầy tư Lữ vốn là con thứ bảy trong nhà, sau hai Nhạc và một số anh chị em khác, nhưng người miền cao đơn giản hơn. Họ thấy anh em Nguyễn Nhạc đến thượng đạo chỉ có 3 người, và xét theo bề ngoài nên họ gọi ông hai Nhạc, ông ba Thơm và thầy tư Lữ.  Thơm là tên gọi lúc nhỏ của Nguyễn Huệ và thường được Nhạc gọi một cách thương yêu. Ông Huệ còn có tên chữ là Bình, nhưng ít khi được gọi đến. Đối với người Ba Na người ta gọi ông là ba Thơm vì người ta thấy ông Thơm già hơn ông tư Lữ. Quả vậy nếu Lữ giống một nho sinh, thì Huệ là một thanh niên cao lớn và tráng kiện. Tóc hơi quăn, mặt có chút mụn, nhưng ánh mắt là cả một thần lực mà người đối diện phải e dè. Thứ 8 trong nhà, thua Lữ một tuổi nhưng Huệ giống như là anh của Lữ.

     Đầu mùa xuân năm 1772 Huệ vừa lên 19, nhưng đã tỏ ra là một chỉ huy tài ba. Qua giáo Hiến và Nhạc, hai người bạn mới Lân và Sở đều biết tài nghệ của Huệ.  Riêng, Tuyết và Lộc đã chứng kiến điều nầy khi bị đám quan quân bao vây được Huệ giải cứu. Ngoài võ nghệ, Huệ có cái nhìn cụ thể ngay từng lúc. Chỗ ăn ở cho dân binh mới đến, và cho mỗi người có một cây kiếm sắc là việc làm đầu tiên. Thợ rèn kiếm rất hiếm trong đám thợ rèn, và ngưòi đúc kiếm báu lại càng khó. Nguyễn Huệ được anh hai Nhạc phái về miền xuôi đã nhiều ngày, nhưng chưa tìm thấy một ai. Một ngày từ làng quê Tây Sơn xưa ở Phù Ly, Nguyễn Huệ sãi ngựa theo dòng Kim Sơn về miền xuôi. Mênh mông hai bên bờ sông nhỏ là đồi núi khô cằn. Xa xa rừng núi Tây Sơn và An Lão ở hai đầu nam bắc cũng thế. Quê hương nghèo quá. Bất giác Nguyễn Huệ để cho ngựa đi nước kiệu trên con đường mòn. Không để ý từ lúc nào con đường đã tách khỏi dòng sông. Nó đã đưa Huệ đến một đoạn ngoằn ngoèo có những trũng thấp một bên đường. Trên những tàn cây ở đó những con qụa ầm ỉ kêu vang. Huệ nhìn xuống và dừng ngựa. Một thanh niên mặt sạm nắng ngồi bất động. Anh ta ngồi như một thiền sư trong bộ áo quần dày và cũ. Thỉnh thoảng anh vung đoản đao giết một con qụa, mà cả đao và qụa đều rớt trước mặt. Đây là một công phu tuyệt kỷ mà Huệ rất thán phục. Huệ đã từng học ném đao phía trước phía sau bên tả bên hữu, nhưng ngồi mà phóng trúng mục tiêu di chuyển trên cao để rớt xuống trước mặt thì chưa bao giờ. Hắn là ai? Hắn không cố giết lũ qụa, chỉ khi nào ồn ào quá hắn mới ra tay. Hắn ngồi bất động và đăm đăm nhìn về phía trước. Công phu và thái độ của hắn làm Huệ biết được đây là đâu và hắn là ai. Đây là Truông Mây đường về làng Phù Ly cổ của huyện Phù Ly. Trũng thấp là mồ chôn tập thể nghĩa sĩ Truông Mây, và hắn là Đặng Xuân Bảo. Tiếng đồn về người thanh niên tầm thù quả là đúng chính xác với lối chơi đao của hắn. Vì không chú ý khúc đường đi, nên nhất thời Huệ không biết mà thôi.

     Nguyên khi đột kích phủ lỵ Qui Nhơn năm 1769, Vũ Văn Doan và nhóm huynh đệ đi theo đều bị bắt. Trong tù, người phụ tá của Doan đan tâm làm kẻ phản bội. Anh nầy được thả ra với điều kiện gom hết nghĩa sĩ Truông Mây để tiêu diệt. Với tư cách phó thủ lãnh, anh ta về lại bản doanh tường thuật những diễn biến đã xảy ra. Hắn diễn tả những lúc gay cấn gặp địch mà hắn may mắn được thoát. Trong cái ngậm ngùi của thất bại, hắn yêu cầu mọi người phá ngục thất cứu huynh đệ. Dưới sự khích lệ của hắn, ai ai cũng đồng lòng một trận sống mái với kẻ thù. Họ nguyền sẽ cứu tất cả những anh em bị bắt. Huynh đệ được tập họp. Họ uống rượu thề để lên đường vào lúc nửa đêm. Rất tiếc, sau chén rượu đồng tâm ấy không còn ai tỉnh tảo. Tất cả đều ngộ độc chỉ trừ tên phản bội, trong lúc quân binh của tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên đã ứng trực ở gần Truông Mây từ trước. Họ tiến vào giết hết những người còn chưa chết. Sau “thành công” nầy tên phản bội đã trốn biệt chỉ để lại một mồ chôn tập thể. Nó gần tới 200 xác người được lấp đất không trọn vẹn. Đó là trũng thấp mà lũ qụa vẫn còn lai vãng gần hai năm nay.

     Hay tin trận thảm sát, Vũ Văn Doan đã tức uất mà chết trong tù. Lực lượng Truông Mây hoàn toàn bị tiêu diệt, nhưng vẫn còn người sống sót. Hai năm nay có tin đồn có một nghĩa binh tên Đặng Văn Bảo đương tầm thù. Anh may mắn thoát được vì là một trong số ít người vắng mặt trong đêm uống rượu thề. Nghe tin, Bảo đã đi khắp trời đất tìm kẻ phản bội. Một tiểu phi đao, một bộ quần áo nhàu nát, anh đã đột kích nhiều huyện phủ lỵ, nhưng vẫn hoài công. Thỉnh thoảng anh lại về Truông Mây như thăm viếng, như cầu mong vong linh bạn hữu chỉ đường. Anh thoát ẩn thoát hiện ngồi trước ngôi mộ tập thể nhiều lần. Những nghĩa binh Tây Sơn về Thượng Đạo mang theo tin nầy như một huyền thoại để kể cho nhau nghe. Nguyễn Huệ không ngờ mình gặp con người bằng xương bằng thịt họ Đặng ngay trước mặt.

     Nguyễn Huệ và Đặng Xuân Bảo đã gặp nhau trong trường hợp như thế. Tuổi tác ngang nhau, và gần đây Bảo cũng nghe phong thanh về một Tây Sơn thượng đạo, nên Bảo rất quí người bạn mới gặp. Nguyễn Huệ cho Bảo một niềm tin còn một nơi để chiến đấu, và Đặng Xuân Bảo cho Huệ một tấm lòng sắt son huynh đệ. Bảo hứa sẽ là bạn thân, và hẹn sẽ tìm đến Tây Sơn thượng đạo. Họ chia tay. Trước khi đi, Bảo không quên cho Huệ biết người đã làm và dạy cách phóng đao cho Bảo. Đó là thần kiếm Đặng Văn Long, dưới dạng một thợ rèn ở Kỳ Sơn, Tuy Viễn. Khi Huệ còn tần ngần bên lưng ngựa thì Bảo đã mất hút vào cánh rừng già phía sau lưng. Trời xế chiều, nắng trải lên truông Mây màu vàng nhạt. Nguyễn Huệ lên ngựa về Đại Khoang, làng nuôi ngựa nổi tiếng của phủ Qui Nhơn. Bên cạnh tìm một người rèn kiếm, thì huynh trưởng Nguyễn Nhạc cũng sai Huệ đi tìm người luyện ngựa.

     Rẽ theo con đường sỏi đá thấp dần về hướng đông. Nguyễn Huệ cho ngựa chạy nhanh hơn để kịp đến những hàng quán có chỗ nghỉ chân. Thỉnh thoảng hai bên đường có những xóm nhà sàn của người Gia Rai hoặc Ba Na. Họ sống bằng những hạt lúa bên bờ suối, và những con cá bắt đựợc bằng tay. Đó là những người không chịu hồi cư về rừng. Trời tối hẳn, Huệ mới đến Đại Khoang. Là một làng trung du của huyện Phù Ly, nhưng Đại Khoang gác đầu lên cao nguyên Kim Sơn. Phía nam là khu rừng thấp mênh mông dấu kín nhiều hồ nước nhỏ, phía đông là dòng sông Phù Ly băng qua những vùng đất nửa sỏi đá nửa cỏ tranh. Đại Khoang không phải là đất nông nghiệp, mà nơi lý tưởng cho việc tập ngựa chiến.

     Lý Văn Bưu là một chủ trại ngựa nổi tiếng ở đây mà Nguyễn Huệ muốn gặp. Huệ đã từng theo anh Nhạc đi mua ngựa và đã thấy tài luyện ngựa của người đàn ông họ Lý. Lý Văn Bưu lớn hơn Huệ cỡ vài ba tuổi, và là một chủ ngựa gia truyền đời thứ ba. Các quan huyện và tuần phủ Nguyễn khắc Tuyên đều mua ngựa ở đây, và được họ Lý huấn luyện kỹ càng trước khi giao cho chủ mới. Bưu có những kỹ xảo làm những con ngựa lạ phải tuân phục. Người ta đồn rằng Bưu đã tìm được con bạch mã của chúa Nguyễn Phúc Khoát trong lần đến thăm Qui Nhơn mà tên giang hồ Nguyễn Văn Tuyết đã ăn cắp. Bưu cắp lại ngựa của Tuyết giao cho tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên, nên Tuyên mới không bị mất chức. Nhờ mối ân tình đó, Tuyên không “vạch lá tìm sâu” những bạn bè của Bưu được cho là bất hảo. Võ Văn Dũng và Võ Đình Tú là một ví dụ.

     Hai người họ Võ nầy là hai thanh niên nhiệt tình yêu nước, và đều có một căn bản võ học. Họ đã từng bị cầm tù vì chống thuế ở Tuy Viễn, mà Bưu vẫn giao du như những người bạn qúi. Bưu, Dũng, Tú cũng đã từng biết anh em Huệ, nhưng lần gặp nhau nầy mới thực sự kéo họ lại gần với nhau.  Bên những chén rượu trên đồi Kim Sơn, những người thanh niên đủ tin nhau để trải lòng ra. Họ cùng mục đích là cần một điều thay đổi. Huệ nói về ước vọng của Nguyễn Nhạc, nói về dòng sông Pa và dòng sông Ayun. Huệ nói về Tây Sơn thượng đạo với những đội binh đầu tiên, và những con ngựa rừng chưa thuần phục. Mầm khởi nghĩa đã mọc bên kia đèo Mang, mà Dũng và Tú sẵn sàng nhập cuộc. Riêng Bưu tiếp tục núp bóng Nguyễn Khắc Tuyên để tạo nguồn tài chánh dưới lốt một bá hộ buôn ngựa. Từ tháng 3 năm 1772 nầy, trại ngựa họ Lý trở thành tiền đồn để nghe tin tức, mà cũng là hậu phương cần thiết cho Tây Sơn thượng đạo.

     Nếu trước đây hai hôm Huệ chia tay với Đặng Văn Bảo với niềm trắc ẩn Truông Mây, thì hôm nay Huệ chia tay những người bạn mới với niềm hy vọng Tây Sơn. Huệ lên đường về Tuy Viễn để gặp người thợ rèn Đặng Văn Long. Tại ngã ba Đại Khoang có hai lối về Tuy Viễn. Hoặc theo đường tắt đông nam, băng qua khu rừng nguyên sinh u trầm những dấu tích Chàm. Ở đó có huyền thoại suối Tiên với nàng công chúa đi lạc, có dòng nước nóng chữa được bá bịnh. Đường nầy tuy ngắn nhưng gập ghềnh, nên Huệ chọn lối thứ hai. Huệ cho ngựa phi nước kiệu trên con đường dọc theo sông Phù Ly (La Tinh) về xuôi. Đến nửa buổi thì ngựa bắt đầu sãi vó trên đường cái quan Nam Bắc. Đường nầy tuy dài hơn, nhưng với sức ngựa chạy bình thường cũng đến Tuy Viễn vào lúc xế chiều. Thong thả, Huệ ghé chợ Gồm coi thử anh chàng Nguyễn Văn Tuyết ngày xưa “ăn hàng” ở đây như thế nào. Nếu so với chợ Gò Chàm ở Tuy Viễn, thì chợ Gồm ở Phù Ly bình dân hơn nhiều. Huệ đến đây không đúng vào ngày phiên, nên chợ chỉ là một khoảng đất trống lơ thơ những hàng rau quả địa phương. Chợ thực sự hoạt động vào những ngày mồng 4, 13 và 22 tức là trước các ngày huyệt kỵ một ngày. Trong những ngày ấy chợ nhộn nhịp những hàng bán lẻ.  Đủ thứ rau qủa, cá tôm giữa những sản phẩm chính là lúa gạo. Nông dân thường bán sỉ cho bọn thương hồ và thường bị ép giá. Khi những tay buôn cầm chắc nguồn lời hời thật lớn, đó là lúc Nguyễn Văn Tuyết “hành hiệp”. Người ta kể đã từng chứng kiến những cuộc thí võ giữa đường, mà hiếm khi bọn võ sĩ lái buôn chạy thoát. Tuyết cướp tiền, trả lại cho người bị thiệt rồi biến mất.

     Huệ rời chợ Gồm với chút kịch tính. Nhiều người dân ở đây muốn có một Nguyễn Văn Tuyết bảo vệ họ, trong lúc quan quân muốn lùng bắt tay anh chị nầy. Cả hai đều không biết kẻ giang hồ họ Nguyễn hiện đương là tướng quân của Tây Sơn thượng đạo. Mãi nghĩ về những biến chuyển trong thời gian qua và những người bạn mới, nhưng Huệ cũng biết mình đang tới đâu. Lúc nầy mặt trời đã nghiêng trên đỉnh đầu, và đường cái quan vẫn hun hút bụi mờ chạy về biên giới nam Phù Ly. Ở phía đông, dãy núi Phô Chinh nhấp nhô từng đỉnh thấp như liền nhau kéo dài qua Tuy Viễn. Huệ thả lỏng dây cương cho ngựa chậm lại. Huệ đang nghĩ đến người thợ rèn Đặng Văn Long. Phải tìm gặp vị thầy phóng đao có khả năng đúc kiếm đang ẩn danh nầy. Theo cách chỉ dẫn của Đặng Xuân Bảo, Huệ đến Kỳ Sơn và tìm Đặng Văn Long không khó. Đó là một người tầm thước khoảng 30 tuổi, rắn chắc, và ánh mắt đầy nội lực.  Sau cuộc hàn huyên, Nguyễn Huệ biết Đặng Văn Long còn có tên là Đặng Mưu, và là chú ruột Đặng Xuân Bảo. Tuy mới gặp, nhưng qua khả năng biến sắt thành gươm cuả họ Đặng, Huệ mời ông Long tham gia lực lượng Tây Sơn. Ông Long đắn đo với lời mời nầy, và không ngại nói mình cũng là người của Truông Mây như Đặng Xuân Bảo. Ông hứa sẽ tận sức giúp Tây Sơn, nhưng sau khi Tây Sơn thành công hai chú cháu sẽ rút lui về với những huynh đệ cũ. Dĩ nhiên là Huệ bằng lòng vì chuyện mai sau thì chưa biết, nhưng trước mắt có thể giải quyết được vấn đề vũ khí. Huệ chia tay Long trong niềm tin, và bồi hồi nghĩ đến khí tiết của người đàn ông nầy.

     Trước mắt Huệ là con đường dẫn về An Thái bên kia sông. Đã 6 tháng nay chưa về thăm thầy. Không biết bây giờ trường lớp ra sao?  Chắc Trương Văn Đa đang phụ giảng thay mình? Không biết Thái An còn giận mình nữa không? Đứa con gái duy nhất của thầy đã để lại trong lòng Huệ nỗi bâng khuâng trăn trở. Ba năm ở lại An Thái, là ba năm lớn dần tình yêu đầu đời của cả Huệ và Thái An. Không thể xác định ngày nào bắt đầu yêu, khi Huệ còn nhớ đã coi Thái An như người em gái. Thật khó để Nguyễn Huệ thành thánh như thế trong một thời gian dài. Anh không biết từ lúc nào anh đã nhớ những cử chỉ rất nhỏ nhặt của người em gái nầy. Nàng ôm mớ tóc ướt vừa gội chạy nhanh vào buồng cũng làm Huệ nhớ. Tình cờ thấy nàng múc nước rửa chân cũng làm Huệ không quên. Để rồi hai người yêu nhau trong sự bằng lòng của ông bà giáo Hiến, nhưng cũng dần đó phát sinh ra những điểm không đồng. Thái An yêu Huệ nhiều lắm, nhưng không muốn Huệ lao vào chuyện kiếm cung. Dù Huệ làm một thầy giáo ở trong thôn hay là một nông dân, Thái An vẫn yêu Huệ. Nhưng, An không bao giờ muốn Huệ đi theo chú Nhạc. An muốn Huệ có cuộc sống bình thường ở bên An. Ý tưởng không cùng chiều từ đó, làm Huệ đã lên Tây Sơn thượng đạo sớm hơn dự định. Trong 6 tháng qua, Huệ nhớ Thái An từng khắc, và đây là đầu tiên về thăm. Thái An khóc thật nhiều, nhưng cũng chỉ để chia tay. Huệ lại ra đi.

     Thời gian thật nhanh. Lần gặp Đặng Văn Long và Thái An ở Tuy Viễn hôm ấy đã trôi qua 12 tháng. Nếu người thợ rèn họ Đặng cho Huệ rất nhiều hi vọng, thì Thái An vẫn cho Huệ một nỗi thất vọng. Những lá thư do những chuyến vượt nguồn gởi đến, An vẫn gói ghém yêu thương, nhưng cũng tỏ ra không muốn con đường Huệ đã chọn. Nhớ An tha thiết, nhưng Huệ ở hẳn trên Tây Sơn thượng và vùi mình vào công việc. Nguyễn Nhạc và binh đội gần tới hai ngàn người đang cần tới Huệ về mọi mặt. Lương thực trở thành mối lo không nhỏ. Y Dố là người tích cực ủng hộ mỗi nghĩa binh phải có một mảnh vườn. Người con gái sơn cước nầy vận động dân làng bỏ công giúp nghĩa binh phá rừng thành khu thổ điền rộng lớn. Cánh đồng lúa khô bên dòng sông Y Yun thu hoạch vào hạ tuần tháng 3 năm 1772 là kết quả đầu tiên trong những ngày tháng tự mưu sinh. Lúc nầy Võ Văn Dũng, Võ Đình Tú đã có mặt. Tình hình an ninh càng thắt chặt hơn ở Tuy Viễn và Phù Ly khiến Lý Văn Bưu khó bề che chở cho anh em họ Võ. Tương tự, Đặng Văn Long và Đặng Xuân Bảo cũng bí mật tập trung về Tây Sơn thượng đạo. Hai chú cháu họ Đặng đã trở thành hai vị thầy dạy xử dụng đao, và đang mở lò đúc kiếm. Lò kiếm “Ông Mưu” là tên gọi vừa thân thương vừa kiêu hãnh đã phát minh ra loại vũ khí mới. Trong lúc tìm nguồn thép khó khăn phải tiết kiệm, Đặng Văn Long đã nghĩ ra loại súng “hỏa hổ”. Chưa gọi là thành công, nhưng sự phát minh nầy đã đưa huynh đệ Tây Sơn có cái nhìn lạc quan hơn. Từ đó mọi công việc ở thượng đạo càng hăng say, bận rộn và dồn dập. Do vậy việc liên lạc về miền xuôi, Nguyễn Huệ phải giao lại cho hai thiếu nữ mới toanh: Phạm Thị Liên và Bùi Thị Xuân.

     Phạm Thị Liên sinh ra trong gia đình trung nông chuộng võ ở Kiên Thành. Vốn là người cùng quê, và Liên chỉ nhỏ hơn Huệ vài tuổi nên họ đã từng biết nhau. Khó để nói Liên đã yêu Huệ, nhưng từ khi Huệ về An Thái theo thầy giáo Hiến thì Liên thấy buồn. Nỗi buồn càng dâng cao, khi biết bên Huệ còn một Thái An mỹ miều và học thức. Biết như thế rồi thôi, nhưng tình hình biến chuyển đã đẩy mọi thứ qua những ngã rẽ khác. Những lời rỉ tai của quân kháng chiến đã đi sâu vào tầng lớp thanh thiếu niên. Ở Kiên Thành, Liên hay được. Tin Huệ trở thành một cấp chỉ huy gan dạ đã thành lực kéo Liên. Liên rời quê nhà, nhập cuộc Tây Sơn thượng đạo với nỗi lòng chia hai. Một nửa yêu nước, một nửa yêu người. Bùi Thị Xuân thì khác hơn cô gái 18 tuổi Phạm Thị Liên. Cô bé Xuân sinh ra trong một gia đình chuộng võ và giàu có, nhưng cô chỉ chớm 15. Xuân gọi Liên bằng cô vì có liên hệ họ hàng, và theo Liên đi về Tây Sơn thượng đạo. Xuân không có mục đích yêu thương giống như Liên. Cô gái 15 tuổi nầy chỉ thử lòng gan dạ và thích thi thố võ nghệ.  Được sự huấn luyện trực tiếp của Nguyễn Huệ, Liên và Xuân làm nhiệm vụ con thoi giữa Lý Văn Bưu và Thượng Đạo. Có khi hai người đi chung, có khi họ đi riêng và lần nào cũng suôn sẻ. Tuy nhiên, có một lần vào mùa hè năm 1772 Bùi Thị Xuân phải bỏ dở chuyến đi nửa chừng.

     Nguyên lúc nầy phong thanh về một Thượng Đạo chiêu quân, được rỉ tai đến những tay hảo hớn ở ngoài địa phận phủ Qui Nhơn. Một thanh niên tên Trần Quang Diệu thuộc phủ Điện Bàn, cực bắc của dinh Quảng Nam tìm đến. Để tránh những điều bất tiện, Diệu không mang cung kiếm suốt đoạn đường mình đi qua. Khi từ Phú Lạc vượt qua bờ tây sông Côn, Diệu phải qua một khu rừng nguyên sinh trùng trùng. Có những đường mòn tưởng sẽ kéo dài, nhưng rồi lại hết lối. Con đường về đèo Mang vẫn chưa tìm ra, mà đã nghe tiếng gầm của hổ. Một đại ca của dòng họ mèo xuất hiện. Nó tấn công lập tức khi Diệu định đu mình lên một nhánh cây. Không thể đương cự với con hổ dữ bằng tay không, nên Diệu chỉ biết chạy trốn. Ở phía sau, con hổ như có cánh. Nó vừa gầm lên ở chỗ nầy đã thấy nó ở chỗ kia. Sự rượt đuổi khoảng nửa canh giờ chưa làm bấn loạn cho một thanh niên giỏi võ, nhưng quyết đấu với cọp trong lúc nầy là sai lầm. Chỉ cần một móng vuốt của nó quẹt vào người thì sức chiến đấu của người sẽ giảm ngay. Phải giữ không cho bị thương, và tìm yếu điểm để đánh đòn trí mạng mới mong sống còn.

     Trong lúc căn mắt ra để thách đố với những móng vuốt của chú ba mươi, thì Diệu nghe có tiếng người la lên. Một dấu hiệu yểm trợ. Một cô gái ngồi vắt vẻo trên cành cây gần đó tự lúc nào. Cô bảo Diệu hãy bình tĩnh, và liên tiếp phóng những đoản đao lên mình con cọp. Cọp nhanh nhẹn tránh được hết những đường đao, và lập tức bỏ Trần Quang Diệu. Nó lồng lên, chạy về cô gái như muốn xô ngã cả gốc cây. Cô gái không hề sợ. Cô vừa phóng hai đoản đao cho Diệu bắt lấy, vừa thòng đôi chân xuống nhử chú cọp.  Chú ba mươi chưa hết gầm gừ trước đôi chân quá tầm, lại phải điêu đứng với hai lưỡi đao sắc trong tay trần Quang Diệu. Anh khiêu khích nó. Anh chờ nó vồ tới, sẽ đâm hai mũi đao vào yết hầu. Con vật hung hãn như biết được đìều nầy, nó không vồ thẳng mà vồ ngang như người ta lia một đường kiếm. Sự thay đổi nầy tạo ra một khoảng cách sau khi con cọp chấm chân xuống đất. Cái khoảng cách đó đủ để Diệu phóng đao vào yếu điểm thuận lợi nhất. Sau lần thứ 3 vồ hụt, con mắt phải của chú cọp bị một lưỡi đao phóng sâu vào. Chính xác đến không thể nào chính xác hơn. Con cọp lồng lộn nhào về phía Diệu. Dĩ nhiên là cơ hội dã thú thắng người không còn. Diệu lẫn tránh sự điên cuồng của nó, và lựa thế phóng lưỡi dao thứ hai vào yết hầu.

     Trận cận chiến giữa người và con thú bị thương chấm dứt. Diệu bị thương đầy mình, nhưng con thú điên tiết đã chết. Bùi Thị Xuân và Trần Quang Diệu gặp nhau trong trường hợp như thế. Xuân đưa Diệu về thượng đạo gặp Nguyễn Nhạc. Ra rằng vị thủ lãnh Tây Sơn ra lịnh Bùi Thị Xuân mang số đoản đao về cung cấp cho nghĩa sĩ nội thành của Lý Văn Bưu. Đó là những cây đao do thần kiếm Lê Văn Long làm ra trong kế hoạch mỗi nghĩa binh mỗi cây kiếm. Nhạc giới thiệu Diệu với Huệ, với Long, với Bảo và những người bạn cũ. Ai ai cũng đón mừng và chờ nghe tin tức của người từ ngoài vào.

     Theo đó, tình hình Phú Xuân có nhiều thay đổi. Đầu năm 1772 chúa Nguyễn Phúc Thuần vừa qua khỏi tuổi 17. Ý tưởng tách rời người ông cậu quốc phó Trương Phúc Loan càng mạnh hơn, nhưng vị chúa trẻ tuổi chỉ tiến tới mức đem được những người tin cậy vào ở gần với mình. Người chú dượng Nguyễn Cửu Pháp (chồng của công nữ Ngọc Doãn, em của chúa Khoát) và người chú họ Nguyễn Phúc Huống được cất nhắc làm nội chưởng dinh. Hai vị nầy cận kề chúa Nguyễn Phúc Thuần, nhưng chỉ để nằm chờ chứ không dám động đến quyền lực của Trương Phúc Loan. Loan vẫn tự do tác quái, trong lúc hai đầu bắc nam đều có những áp lực. Đầu phía bắc, từ sông Gianh đến lũy Thầy tình hình vẫn yên, nhưng có những chỉ dấu có sự dòm ngó của Đàng Ngoài. Sau khi chúa Trịnh Sâm diệt cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật năm 1770, và giết thái tử Lê Duy Vĩ năm 1771, thì Đàng Ngoài hoàn toàn rảnh tay. Vị chúa Trịnh đời thứ 8 nầy đã cho người dọ thám Nam Bố Chánh nhiều lần, mà Trương Phúc Loan không có kế hoạch đề phòng.

     Nếu ở đầu bắc như thế thì đầu nam trong năm 1772 vẫn chưa yên. Cuộc chiến của thống suất Nguyễn Cửu Đàm và tham mưu Nguyễn Cư Trinh đã thắng liên minh Xiêm – Chân, nhưng đã để lại một Hà Tiên tan hoang và một Long Hồ bất ổn. Chúa Nguyễn Phúc Thuần đã chia dinh Long Hồ ra làm hai để dễ kiểm soát. Phần đất dọc theo Mỹ Tho về hạ và thượng nguồn sông Tiền được lập thành đạo Trường Đồn. Phần đất còn lại giữa sông Tiền và sông Hậu vẫn giữ là dinh Long Hồ. Cả hai địa giới mới nầy đều nhận lệnh trực tiếp từ phủ lỵ Gia Định (dinh Điều Khiển). Để bảo đảm cho phủ lỵ quan trọng phía nam nầy, quan Điều Khiển Nguyễn Cửu Đàm(*) xin đắp lũy Tân Hóa ở phía tây nam Sài Gòn – Bến Nghé. Nó bắt đầu từ đầu nguồn kênh Bến Nghé chạy cong lên Tân Hóa (một làng của huyện Tân Bình lúc bấy giờ) rồi đổ xuống đầu nguồn một kênh nhỏ mà về sau gọi là kênh Nhiêu Lộc. Một lũy hai kênh cộng với sông Sài Gòn ở phía đông cho một thủ phủ Bến Nghé bình yên, nhưng cả Gia Định còn nhiều chỗ nổi loạn.

     Biết được những khó khăn của triều đình chúa Nguyễn Phúc Thuần, nhưng Nguyễn Nhạc chưa quyết định khởi nghĩa. Tại thượng đạo binh lính đã sẵn sàng, nhưng vị thủ lĩnh Tây Sơn muốn có một sự nổi dậy thống nhất. Ở phủ Qui Nhơn, ngoài huynh đệ Tây Sơn, Nguyễn Thung và Huyền Khê đã thu phục được Lý Tài và Tập Đình thành một lực lượng đáng kể. Họ hoạt động ở ngoài khơi, và là một thứ trùm ở cửa Thị Nại. Ở Phú Yên 5 huynh đệ của Châu Văn Tiếp đang tụ quân ở núi Tà Lung, và vị nữ chúa bà Hỏa lấy rừng Thạch Thành phía tây Tuy Hòa làm cứ điểm. Với 3 lực lượng nầy chỉ có thủ lãnh Tây Sơn Nguyễn Nhạc mới đủ uy tín để thuyết phục họ liên kết, nhưng ông đã gặp trở ngại. Theo đó, bà Hỏa đương thời thuộc nhóm người Mạ đã bằng lòng tiếp tay với Tây Sơn, nhưng không chịu rời Thạch Thành. Họ không đưa quân yểm trợ. Châu Văn Tiếp chủ trương diệt quốc phó Trương Quốc Loan, nhưng vẫn phò Định vương Nguyễn Phúc Thuần. Riêng lực lượng Nguyễn Thung có quan điểm giống Tây Sơn hơn, nhưng có điều kiện. Họ đồng thuận phá bỏ chế độ đương tại, nhưng họ thẳng thừng yêu cầu đưa người của họ vào cấp lãnh đạo. Tây Sơn chấp nhận liên kết với Nguyễn Thung trong điều kiện nầy. Nguyễn Nhạc được bầu làm tổng chỉ huy (sử nhà Nguyễn gọi là trại chủ) và Nguyễn Thung là phó tổng chỉ huy (sử nhà Nguyễn gọi là trại phó). Huyền Khê người của Nguyễn Thung, cùng với Lý Văn Bưu người của Tây Sơn coi sóc việc quân lương.

     Việc liên kết giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Thung thì phủ thành Qui Nhơn không biết, nhưng họ đã biết ít nhiều về Tây Sơn. Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên không đánh giá thấp Tây Sơn, nhưng ông muốn hạ thấp sức mạnh của lực lượng nầy trước triều đình Phú Xuân. Ông ta không muốn quốc phó Trương Phúc Loan ghi một điểm xấu cho địa bàn mình cai quản. Tin báo về Phú Xuân rất nhẹ nhàng. Theo đó, biện lại Nhạc thua sạch hết số tiền thuế trong cơn đen đỏ, nên sợ vạ đã nổi loạn và chạy trốn. Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên treo thưởng cho dân chúng đi bắt Nhạc, như đi bắt một tên vô lại. Chỉ thế, rồi thôi. Qui Nhơn vẫn yên tĩnh như mọi ngày. Cái tết quí tỵ 1773 trôi qua êm ả. Người ta chờ đợi một tết Thanh Minh yên bình. Phủ thành Qui Nhơn không hề biết Tây Sơn Thượng Đạo đang chuẩn bị xuất quân. Sau khi Đặng Văn Tiếp từ chối tham gia, Nguyễn Nhạc đã chần chờ. Ông đợi sự thay đổi của Tiếp, nhưng Huệ khẩn thiết xin anh mình có quyết định sớm hơn. Không phải là bạn, liệu có thể trở thành kẻ thù hay không? Đó là cái nhìn của Huệ về Tiếp, và Nhạc nghe theo. Không cần cánh quân của Châu Văn Tiếp, lịnh xuất binh được ban hành.

     Kế hoạch phải đạt được là cùng một lúc chiếm toàn bộ 3 huyện Tuy Viễn, Phù Ly và Bồng Sơn của phủ Qui Nhơn. Dĩ nhiên phủ thành Qui Nhơn ở huyện Tuy Viễn là mục tiêu chính. Phủ thành nầy ở vào thời chúa Nguyễn Phúc Thuần không phải là thành Đồ Bàn, mà ở một nơi khác. Nguyên năm 1744 trong kế hoạch muốn Đàng Trong trở thành độc lập và đổi mới, chúa Nguyễn Phúc Khoát có rất nhiều thay đổi khắp trong 12 dinh. Dời phủ lỵ Qui Nhơn từ Đồ Bàn về hướng đông bắc vài dặm đường nằm trong sự thay đổi nầy. Vì không có loạn lạc, nên phủ thành mới không kiên cố bằng phủ thành cũ, tuy nhiên thành vẫn nằm trong một địa thế phòng thủ an toàn. Thành cũ Đồ Bàn ở tây nam, đồi Tháp Gãy ở tây bắc, và núi Mò O ở hướng đông là 3 chốt điểm bảo vệ tân phủ thành.

     Chiều một ngày thượng tuần tháng 3 năm 1773, đoàn quân Tây Sơn Thượng Đạo xuất quân. Trừ số nữ binh do Y Dố chỉ huy ở lại, toàn bộ nam binh Tây Sơn di chuyển xuống Hoành Sơn và Đồng Hươu, phía đông nam đèo Mang (An Khê). Ở đây có phụ lưu Đá Hàng lấy nước từ hai nhánh sông con chảy về sông Côn. Vì nằm phía đông của Tây Sơn thượng đạo, nên vùng nầy thường được gọi là Tây Sơn hạ đạo bao gồm bên kia Côn giang có hai làng Phú Lạc và Kiên Thành. Bên nầy sông và bên kia sông đều là vùng thổ cư của nhóm huynh đệ Tây Sơn, nên mọi chuẩn bị thuyền bè và chọn lộ trình không khó.

      Từng đoàn thuyền qua sông vào lúc gần nửa đêm ngày thứ ba. Im lặng và vững chãi. Mỗi thuyền là mỗi sức mạnh của bao ngày luyện tập. Nguyễn Nhạc thấy mình bước qua một bước ngoặc mới. Người thủ lĩnh Tây Sơn chợt bồi hồi. Ông thấy dòng nước nhấp nhô dưới ánh trăng khuya như rộng ra. Nó đang chảy về An Thái, nó đang chảy về Thị Nại. Đã đến lúc nó phải rửa sạch những oan khuất, những bất công cho những người dân đen Qui Nhơn đang gánh chịu.  khi chiếc thuyền cuối cùng cập bến, trời đã nửa khuya. Trước mặt họ là khu rừng thưa im ắng. Nơi đây chỉ cách phủ thành Qui Nhơn chừng đôi mươi dặm đường, nhưng không thấy dấu hiệu binh triều. Nạn tham nhũng đã khiến binh lính lo lót về miền xuôi. Ở miền trung du chỉ là những chốt đồn bất đắc dĩ của những người lính nghèo khó. Họ cứ thụt lùi vùng trách nhiệm. Ban đêm không có một người lính nào ở lại.

      Lịnh hành quân mau chóng thi hành. Nguyễn Nhạc chia làm 2 cánh quân tiến về miền xuôi. thứ nhất: Ngô Văn Sở mang hai ngàn quân tiến theo hướng đông bắc về Phù Ly. Phan Văn Lân, Võ Văn Dũng, Trần Quang Diệu là những tướng trợ thủ. Đạo quân nầy sẽ bắt tay với đạo quân của Lý Văn Bưu ở Đại Khoang để tấn chiếm huyện lỵ Phù Ly. Từ đây làm lực cản, chống quân tiếp viện từ Mộ Hoa tràn vào. Thứ hai: ba ngàn quân theo Nguyễn Nhạc trực chỉ về hướng đông tiến chiếm phủ lỵ Qui Nhơn. Họ đi trên cánh đồng chưa khai phá sau lưng hai làng Phú Lạc và Kiên Thành. Khó để nói mọi thứ đều im lặng trong đêm, nhưng không có điều gì xảy ra. Không bao lâu chùm tháp ba ngọn Dương Long rõ dần, đó là lúc thủ lãnh Nguyễn Nhạc phân chia cụ thể phần nhiệm. Nguyễn Huệ và Đặng Xuân Bảo lãnh 500 quân tấn công cổ thành Đồ Bàn, nơi đang là nhà giam và kho lẫm.  Đặng Văn Long, Nguyễn Văn Lộc mang 500 quân thanh toán huyện lỵ Tuy Viễn ở phía nam phủ thành Qui Nhơn. Tại đây sẽ đốt lửa báo hiệu cho Nguyễn Thung, Lý Tài và Tập Đình đang ém binh ở Thị Nại kịp thời ra tay. Đích thân Nguyễn Nhạc mang non một ngàn quân tấn công phủ thành. Dưới trướng vị thủ lĩnh Tây Sơn có người em Nguyễn Lữ, Phạm Ngạn và Nguyễn Văn Tuyết đi theo.

     Từ tháp Dương Long về xuôi có những đồn chốt của binh triều, nhưng không nơi nào kịp dàn quân kháng cự. Khi Nguyễn Huệ đưa quân tràn qua, những đồn chốt nầy như những chiếc lá khô bay đi trong cơn lốc. Đặng Xuân Bảo chưa dùng tới đoản đao đã đưa được cánh tiên phong đến thành Đồ Bàn. Một cuộc chạm trán không cân sức xảy ra chớp nhoáng. Binh triều ở đây là những kẻ lo lót để tránh bị sung vào đơn vị chiến đấu, nên họ chưa bao giờ xử dụng kiếm cung. Họ đang run rẩy dẫn nghĩa binh Tây Sơn đi phá ngục cho tù nhân thoát ra. Ở huyện lỵ Tuy Viễn cũng thế. Khi Nguyễn Văn Lộc đốt huyện lỵ báo hiệu cho Thị Nại thì đám binh triều không còn ai đủ sức cầm gươm. Nếu thành Đồ Bàn và huyện lỵ Tuy Viễn quân khởi nghĩa dễ dàng thành công, thì ở Thị Nại, cuộc chiến đang giằng co. Vì là cửa biển quan trọng, binh triều không dễ dàng đầu hàng. Yếu tố bất ngờ chỉ làm họ sửng sốt, đô đốc Nguyễn Trưng của chúa Nguyễn Phúc Thuần vẫn còn chiến đấu ngang ngửa với quân của Lý Tài và Tập Đình. Trong lúc đó thì ở phủ thành Qui Nhơn, Nguyễn Nhạc cũng không dễ dàng chiến thắng. Phủ thành tuy không xây đắp kiên cố, nhưng nó được bảo vệ bởi cả ngàn binh lính dọc theo hào lũy 4 bên. Ngoài đơn vị cơ hữu nầy còn 2 đơn vị lưu động đóng trên đồi Tháp Gãy và trên núi Mò O đổ xuống.

     Tuy chưa có kinh nghiệm trận mạc, nhưng vị thủ lãnh Tây Sơn chứng tỏ mình có tài điều quân. Với lực lượng không nhiều đủ để bao vây, Nguyễn Nhạc quyết định tập kích một phía. Nguyễn Văn Tuyết đã từng ăn cắp ngựa ở đây, nên được chỉ định làm tướng tiên phong đánh mạnh ở góc tây. Với cây đại đao không mấy người xử dụng nổi, Tuyết tung hoành qua hào lũy mà không ai cản được. Sau Tuyết là đám huynh đệ đã theo ông từ lâu tràn vào thành. Cánh quân của Nguyễn Lữ và Nguyễn Nhạc tiếp theo sau tạo thành một dãy kịch chiến dọc hành lang tây. Binh Triều và quân Tây sơn xô xát nhau dưới trời đêm, Bập bùng bên những ngọn đuốc là tiếng hô vang trời của nghĩa binh Tây Sơn để uy hiếp tinh thần địch. Không ai để ý thời gian đã trôi qua bao lâu, nhưng máu đã chảy. Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên đứng trên chòi cao điều động cung tên bắn xuống. Đó là lúc Nguyễn Huệ ở Đồ Bàn đã buộc hàng những binh triều còn kháng cự. Huệ tiên liệu tình hình, giao cổ thành Chàm cho Đặng Xuân Bảo, và tức tốc mang hơn 100 quân qua yểm trợ Nguyễn Nhạc.

     Tại đây Huệ đã giúp người anh thứ Nguyễn Lữ điều binh trong từng hành lang cận chiến. Trong lúc nầy Huệ phát hiện ra một tài năng dưới quyền Lữ mà bấy lâu nay chỉ là đội trưởng tinh binh. Đó là Lê Văn Hưng. Khi kịch chiến, Hưng xử dụng kiếm không thua gì kiếm thủ Đặng Văn Long. Chính Hưng và Huệ đã làm tê liệt biết bao nhiêu tay kiếm của binh triều để tiến về phía trước. Lúc nầy trời đã nhờ nhợ mặt người, và binh triều chỉ còn đủ sức kéo về phòng thủ tuyến bắc. Nơi đây đã được quân tiếp viện từ Mò O và Tháp Gãy bảo vệ. Một cuộc cận chiến nhanh chóng xảy ra khi Tây Sơn quyết bức tử cánh quân cuối cùng nầy. Thật là không cân sức, bên binh triều không có ai cự nổi một đường gươm của Nguyễn Huệ, Nguyễn Văn Tuyết hoặc của Lê Văn Hưng. Mặt bắc chưa thực sự giao tranh đã phải chịu tan hàng. Từng toán binh triều tháo chạy. Nguyễn Văn Tuyết dẫn quân đuổi theo, nhưng Nguyễn Nhạc ngăn lại. Vị thủ lĩnh Tây Sơn không muốn tận diệt đám bại binh. Ông ra lịnh thu quân, dù rằng ông biết tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên trong đám người nầy. Đó là rạng sáng ngày 10 tháng 3 năm 1773.

     Chiếm được phủ thành Qui Nhơn, thì Thị Nại cũng về tay quân khởi nghĩa. Thủ lãnh Nguyễn Nhạc cho huynh đệ an định tình hình Tuy Viễn, và chờ đợi tin tức Phù Ly. Khi mặt trời vắt qua lưng núi Hòn Chuông, thì ở cánh bắc nầy cũng có tin chạy về. Theo đó, dọc theo sông La Tinh từ Đại Khoang đến đầm Nước Ngọt, nghĩa binh đã hoàn toàn làm chủ. Tuy thế, địa hình quá rộng không dễ dàng chinh phục hết dãy núi Bà phía đông, và một vùng mênh Bồng Sơn phía bắc. Lực lượng địch ở hai nơi nầy không nhiều, nhưng binh lính Tây Sơn quá ít không trang trải. Nguyễn Nhạc ra lịnh Ngô Văn Sở kiểm soát chặt đường nam bắc, đợi nghĩa binh từ Tuy Viễn tiếp ứng. Ngược với tình hình ở Phù Ly, ở Tuy Viễn nhiều nơi đã rộn ràng những đoàn người ủng hộ khởi nghĩa. Gia đình những tù nhân được cứu thoát về nhà là nhân tố khởi động. Một người kéo theo nhiều người trở thành một lực lượng cuồng nhiệt.  Họ hô to khẩu hiệu “ủng hộ khởi nghĩa, tiêu diệt quốc phó Trương Phúc Loan”  khắp các xóm làng. Thực ra thì không phải dân chúng tự ý đi biểu tình, mà đây là công lao của những người nằm vùng của Tây Sơn ở Qui Nhơn. Họ là những Phạm Văn Hưng, Nguyễn Huấn, Phạm Văn Sâm, Lê Trung……Họ kéo theo những Phạm Văn Điềm, Hồ Văn Tự… là những kiệt tướng của Tây Sơn sau nầy. Từ Kiên Thành đến An Thái, Thị Nại, Kỳ Sơn, Gò Chàm, Nước Mặn… đều nổi dậy kể cả những hàng binh. Đó cũng là lúc cờ đỏ tua vàng được may vội vã cho hợp với tình hình. Từ Tuy Viễn từng đoàn người kéo ra Phù Ly rồi Bồng Sơn. Vết dầu loang cờ đào rầm rộ kéo về phương tây phương bắc. Dĩ nhiên là Nguyễn Nhạc phái các huynh đệ của mình hướng dẫn đám đông theo kỷ luật. Từ đám đông ấy, những đội quân có vũ khí được nhanh chóng thành lập. Họ buộc được binh triều Nguyễn ẩn náu ở quần thể núi Bà đã ra qui thuận Tây Sơn chỉ chừng 10 ngày sau.

     Đó cũng là lúc những cuộc hành quân dẹp loạn từ Phú Xuân kéo vào. Chưởng cơ Nguyễn Cửu Thống được lịnh mang 3 ngàn bộ binh vào biên nam phủ Quảng Ngãi cuối tháng 3 năm 1773.  Phò mã Nguyễn Cửu Sách và Đỗ Văn Hoảng là hai tán lý phụ tá. Đạo quân nầy phối hợp với các đơn vị địa phương ở đây. Cai cơ Phan Tiến, Nguyễn Vệ, tổng Nhung, tổng Sùng đang cố gắng tranh lấy đèo Cung Quăng (ranh giới phủ Qui Nhơn và phủ Quảng Ngãi lúc bấy giờ, nhưng thuộc hẳn vào Quảng Ngãi ngày nay) với Tây Sơn. Tưởng binh triều sẽ thắng được Tây Sơn khi có quân tiếp viện, nhưng điều đó không xảy ra. Những cánh tân lập từ Phù Ly do Vũ Văn Dũng,  Võ Đình Tú, và Trần Quang Diệu cầm chân quân Phú Xuân tại phía bắc đèo Cung Quăng. Trong lúc ấy tướng Ngô Văn Sở kết hợp với Lý Văn Bưu từ An Lão tiến về đông Ba Tơ. Tại miền trung du nầy không có cuộc chiến xảy ra, nhưng một cuộc vận động đám đông như ở Tuy Viễn được thực hiện. Lý Văn Bưu là người từng buôn ngựa đến xứ nầy, nên lời kêu gọi của họ Lý rất thành công. Cờ đỏ tua vàng đã phất phới trên nền trời Mộ Hoa (Đức Phổ) ngay bên hông của binh triều chưởng cơ Nguyễn Cửu Thống.

      Thế trận trở thành lưỡng đầu thọ địch cho bên Nguyễn, nên vị chưởng cơ Thống chia quân làm hai. Đích thân ông cầm quân chống với Ngô Văn Sở và Lý văn Bưu từ Ba Tơ đổ xuống. Tán lý Đỗ Văn Hoảng thống lĩnh binh địa phương Quảng Ngãi kịch chiến với quân của Vũ Văn Dũng ở mặt nam. Giao tranh chưa được một canh giờ, tổng Nhượng và tổng Sung đều chết dưới đường gươm tôi luyện của anh em họ Võ. Hai cái chết của hai vị quan địa phương nầy đã kéo theo những cái chết khác. Quả lúc nầy người ta mới thấy cái vũ lực của Võ Văn Dũng, Võ Đình Tú và Trần Quang Diệu. Ba vị huynh đệ Tây Sơn nầy đều dùng đại đao mà người thường không giở lên nổi. Họ dùng đao như chỗ không người, đã đuổi binh triều từ bắc Cung Quăng đến Thủy Trạch, Trà Câu rồi sông Vệ. Trà Khúc sau đó cũng không yên, liên quân Tây Sơn đã đuổi binh lính của chưởng cơ Nguyễn Cửu Thống về tận Hà Đông và Lễ Dương của phủ Thăng Hoa. Không có một binh triều nào còn cầm kiếm ở lại bờ nam sông Bến Ván sau ngày 15 tháng 3 năm 1773. Mới mười ngày đã có một giang sơn gồm 6 huyện, quả Tây Sơn không phải tầm thường. Nguyễn Nhạc vỗ an dân chúng, và đưa quân đi trấn thủ các chốt điểm từ Tuy Viễn, Phù Ly, Bồng Sơn (3 huyện của phủ Qui Nhơn) đến Mộ Hoa, Bình Sơn, và Nghĩa Giang (3 huyện của phủ Quảng Nghĩa).

     Tình hình như thế làm triều đình Phú Xuân nao núng, nhưng họ lại đùn đẩy trách nhiệm về người khác. Hai phe bảo hoàng và quốc phó nghi kỵ lẫn nhau, họ nói có một bên đã ngầm bắt tay với Tây Sơn. Kết quả là Trương Phúc Loan đã giết chưởng cơ hoàng thất Tôn Thất Văn vào tháng 6 năm 1773. Sau cái chết của Văn, tình trạng phân hóa vẫn căng thẳng, mãi đến tháng 12 mới chịu hòa. Thừa lệnh chúa Thuần, Trương Phúc Loan cử chưởng cơ Tôn Thất Hương làm tiết chế mang quân bản bộ và quân Tam Kỹ của cai cơ Tôn Thất Bân tái chiếm Qui Nhơn. Họ đổ bộ vào cửa biển Đề Gi ở Phù Ly. Quân số có tới trên 3 ngàn người. Họ tiến lên rừng Bích Kê, mà con đường thiên lý bắc nam đang uốn mình trong đó. Địa giới nầy do hai đạo quân của Lý Tài và Tập Đình đảm trách. Sau chiến thắng Thị Nại, họ Lý và họ Tập đã đặt tên riêng cho nhóm của mình là Hòa Nghĩa quân và Trung Nghĩa quân. Dĩ nhiên là thủ lãnh Nguyễn Nhạc và phó thủ lãnh Nguyễn Thung không muốn có một loại tên riêng như thế, nhưng ở thời phôi thai cũng phải chấp nhận. Đó là sự phô trương ngấm ngầm của họ Lý và họ Tập, nhưng trước mắt hai vị chỉ huy gốc Tàu nầy vẫn lệ thuộc Tây Sơn. Họ đã phối hợp với quân của Ngô Văn Sở ở chợ Gồm đánh tan binh triều ở đèo Ô Phi và đèo Nhông trong địa bàn Phù Ly. Tại cửa Đề Gi cai cơ Tôn Thất Bân chỉ mang về được một nửa quân số, riêng tiết chế Tôn Thất Hương và một phần ba lực lượng tham chiến đã nằm lại vĩnh viễn trên rừng Bích Kê.

     Cùng lúc chiến trận Phù Ly, thì Nguyễn Nhạc xua quân về phía nam Tuy Viễn đương bỏ trống. Thực ra ở dinh Phú Yên gồm hai huyện Tuy Hòa và Đồng Xuân vẫn có binh tướng triều đình, nhưng rất yếu. Họ đã mặc nhiên chấp nhận một Châu Văn Tiếp ở núi Tà Lương và một bà Hỏa ở Thạch Thành là hai địa bàn hùng cứ. Từ khi Tây Sơn chiếm Qui Nhơn binh triều ở đây càng cô lập với Phú Xuân, nhưng tình hình vẫn yên tĩnh. Bà Hỏa và Châu Văn Tiếp nằm im coi động tĩnh. Bà Hỏa chỉ là thủ lãnh một nhóm bộ lạc người thượng muốn tự trị và anh em ông Tiếp chỉ muốn diệt Trương Phúc Loan, nên cả Thạch Thành và Tà Lương không manh động. Tình hình ấy là cơ hội cho Nguyễn Nhạc. Ông sai Nguyễn Huệ cùng Nguyễn Văn Tuyết và Lê Văn Lộc dẫn quân nam chinh. Ba ngàn tinh binh của Huệ tràn tới Tuy Hòa như chỗ không người, nhưng còn nể mặt Châu Văn Tiếp nên miền tây Đồng Xuân vẫn yên tĩnh. Nếu từ lâu nay huynh đệ vẫn cho Nguyễn Huệ là người uy vũ thần tốc, thì đây là lần đầu tiên Huệ đem áp dụng ở chiến trường. Huệ đã không dừng chân ở Phú Yên. Quân vừa mới ở bên sông Bàn Thạch, đã kéo xuống vịnh Vân Phong của Bình Khang. Lính chưa biết Vân Phong và Thị Nại khác nhau như thế nào đã có lịnh hành quân Nha Trang, Diên Khánh. Giống Phú Yên, Nguyễn Huệ chiếm Bình Khang rất nhanh, và điều tương tự cũng xảy ra ở Bình Thuận. Chỉ trong vòng nửa tháng, 3 dinh Phú Yên, Bình Khang, và Bình Thuận đều qui thuận Tây Sơn. Nguyễn Huệ chọn Diên Khánh đắp đồn Hoa Bông làm bản doanh. Đó là một ngày mạnh đông năm qúy tỵ 1773.

     So ra, mùa đông năm quý tỵ 1773 nầy, Tây Sơn đã có một lãnh thổ rộng nhất từ trước. Từ nam Bình Thuận đến bắc Quảng Ngãi.  Tuy nhiên, điều nầy đã không yên vào mùa thu giáp ngọ 1774 năm sau. Tháng 9, một cai đội trẻ của triều đình Phú Xuân được phong làm tả quân đại đô đốc mang quân tấn công Bến Ván. Đó là  Nguyễn Cửu Dật, con thứ của ngoại hữu Nguyễn Cửu Pháp, và là cháu ngoại của vị chúa thứ 7 Nguyễn Phúc Thụ. Đại đô đốc Nguyễn Cửu Dật đang đối mặt với Tây Sơn Võ Văn Dũng. Họ Võ đã từng thắng chưởng cơ Nguyễn Cửu Thống ở Cung Quăng, nhưng đành khuất phục tướng triều trẻ tuổi Nguyễn Cửu Dật. Kho lương Mỹ Thị của nhà Nguyễn ở đây đã bị Tây Sơn chiếm được nay đã lấy lại. Có lần tướng Dật đưa quân Phú Xuân kích sâu tới Trà Bồng rồi rút về. Nương theo đà thắng lợi của tướng Dật, chúa Nguyễn Phúc Thuần cử nội hữu Tôn Thất Nghiễm mang đại binh vào Thăng Hoa. Liên quân nầy đẩy lui Tây Sơn về phía nam. Tình thế ấy làm Nguyễn Nhạc có những thay đổi chiến thuật để vừa giữ những huyện phủ đã chiếm được, vừa giữ mặt bắc. Ông rút những toán nữ binh ở thượng đạo về xuôi. Chỉ trừ A Dố còn ở lại, Phạm Thị Liên, Bùi Thị Xuân và Trần Thị Lan đều mang cánh quân của mình ra đi. Phạm Thị Liên về Đại Khoang với Lý Văn Bưu phụ trách quân lương. Bùi Thị Xuân đến An Lão huấn luyện những đội binh tượng do Võ Đình Tú và Trần Quang Diệu mới thành lập. Trần Thị Lan là người yêu của Nguyễn Văn Tuyết từ lúc còn ở chợ Gồm, được đến Diên Khánh phụ giúp Tuyết. Tất cả nam binh sĩ trong 13 huyện từ Bình Thuận đến Quảng Ngãi đều được đưa ra chiến trường, do những huynh đệ cột trụ Thượng Đạo trông coi.

     Dĩ nhiên phó thủ lãnh Nguyễn Thung phải có một chỗ đứng trong việc sắp xếp nầy. Ông ta giữ quyền tổng phủ phủ thành Qui Nhơn cùng với phụ tá Nguyễn Lữ, người được coi là mềm dẻo nhất trong nhóm huynh đệ Tây Sơn thượng đạo. Riêng Nguyễn Nhạc rút Nguyễn Huệ từ Diên Khánh theo mình đến Quảng Ngãi với 4 ngàn quân.  Lý Tài và Tập Đình được lịnh trưng dụng thêm hai ngàn quân mang đến . Điều nầy cho biết vị thủ lãnh Tây Sơn đặt nặng chiến trường mặt bắc nầy đến thế nào. Vùng Dốc Sỏi, Bình Sơn hứa hẹn một cuộc đọ sức.

Chàng Nguyễn Nhạc từ đâu ghé đến
Về Kiến Thành độ tuổi ba mươi
Buôn trầu gia nghiệp kiêm quan thuế
Trắc ẩn nơi nơi mỗi phận người

Những Lữ, Huệ đôi mươi chưa đủ
Đi theo anh dìu dắt như cha
Gởi về An Thái rèn văn võ
Giáo Hiến tình thâm tựa một nhà

Đã mấy độ đông qua xuân đến
Chẵn ba năm Lữ, Huệ thành niên
Theo anh tụ nghĩa hồn trai trẻ
Từ ấy đệ huynh kết bạn hiền

Nào Nguyễn Tuyết giang hồ thổ phỉ
Nào Văn Bưu, Đình Tú, Phan Lân
Kỳ tài Vũ Dũng, Ngô Văn Sở
Đặng Bảo, Văn Long cứ tiếp dần

Nguyễn Văn Lộc, Lê Hưng cũng đến
Phạm Văn Hưng, Phạm Ngạn, Phạm Sâm
Những người xứ sở Quy Ninh cũ
Những bước chân đi những bước thầm

Âm vang vọng trong hàng dân dã
Những Phù Ly, Tuy Viễn, Bồng Sơn
Dân đen bỗng thức hồn trai trẻ
Gọi đất mừng vui trả nợ hờn

Khi xa thẳm Tây Sơn đồng vọng
Khi thật gần tuần phủ hoài nghi
Tìm về thượng đạo từ khi ấy
Sơn nữ thương ai một dạ nghì

An Khê rừng núi bên sông lớn
Nguyễn Nhạc vui mừng đón nghĩa binh
Tập rèn cung kiếm chiêu nghĩa sĩ
Quang Diệu kỳ duyên một cuộc tình

Chàng Nguyễn Huệ quân binh trông cậy
Lại đau lòng một nỗi riêng tây
Ai người An Thái trong song ấy
Ai kẻ cùng quê thượng đạo nầy

Chút đau xót riêng tây cũng lặng
Cuộc liên minh khởi nghĩa lớn hơn
Nguyễn Thung hào phú chưa thống nhất
Châu Tiếp Tà Lung khác nỗi hờn

Dù những thế Tây Sơn vẫn thế
Giờ tiến binh khởi nghĩa truyền trao
Qui Nhơn phủ lỵ đêm kịch chiến
Sáng dậy nơi nơi bóng cờ đào

Đêm hôm trước phủ thành nhà Nguyễn
Sáng hôm sau cứ điểm Tây Sơn
Phủ quan chạy trốn về đâu tá
Oan khuất vơi đi mấy nỗi hờn

Cờ rợp bóng Tây Sơn khởi nghĩa
Gió Phù Ly, Tuy Viễn về đâu
Con đường thiên lý đường phương bắc
Con dốc Cung Quăng dốc nhịp cầu

Chiếm An Lão, Mộ Hoa diệt Nguyễn
Đâu tổng Nhung, tổng Nhượng không còn
Đâu cầu sông Vệ, Tây Sơn tiến
Bến Ván vô cùng một dấu son

Được Bến Ván, Phù Ly lại động
Cửa Đề Gi quân Nguyễn tấn công
Bích Kê rừng thấp thành chiến địa
Đèo nhỏ Ô Phi lộng kiếm hồng

Tôn Hương chết bên rừng tháp cổ
Binh Nguyễn triều thất tán nơi nao
Chiều hôm xào xạc trên đồi gió
Bao những thanh xuân bỏ chiến bào

Quân thủy bộ không dừng tự phủ
Mang quân đi mà chiếm phương nam
Từ miền đất cũ thời Biên Trấn
Nguyễn Huệ băng qua mấy đất Chàm

Kiêng Châu Tiếp, Tà Lung yên ổn
Núi Thạch Thành bà Hỏa cũng yên
Suốt miền duyên hải Tây Sơn tiến
Bàn Thạch, Vân Phong nối nối liền

Chiếm Diên Khánh giữa trời tháng chạp
Vào Phan Lang, Bình Thuận hôm nao
Mùa đông se sắt hồn cổ tháp
Ngọn lửa Tây Sơn rực ánh hào

Thắng Bình Thuận lao đao xứ Quảng
Tướng chúa Thuần, Cửu Dật xuất chinh
Quân reo trên dốc thành Bến Ván
Mỹ Thị không hay mất thình lình

Vùng chiến địa mùa thu binh lửa (9/1774)
Xứ Thăng Hoa quân Nguyễn tái hồi
Con sông Bến Ván chia đôi nước
Đại Áp hai bờ nước nước trôi

Tình thế ấy triệu hồi binh tướng
Rút An Khê kiệt nữ Liên, Xuân
Rút chàng Nguyễn Huệ từ Diên Khánh
Hò hẹn Bình Sơn cuộc hùng quần

____________________________________

* Sử nhà Nguyễn không nói Nguyễn Cửu Đàm giữ chức quan Điều Khiển năm 1772. Sử quán chỉ nói ông có hàm chưởng cơ, và được cử làm thống suất cuộc chiến Hà Tiên thay cho Tống Văn Khôi vào tháng 4 năm 1772. Bên cạnh đó, sử quán cũng nói ông Khôi bị mất quyền thống suất cuộc chiến, bị cách chức Điều Khiển Gia Định, và bị giáng cấp thành cai đội. Tuy nhiên, để điều khiển một Gia Định còn bất ổn sau chiến tranh Việt Xiêm 1772, thì không thể thiếu vị quan Điều Khiển. Do vậy, chưởng cơ thống suất Nguyễn Cửu Đàm, nhiều phần, là người thay thế Tống Văn Khôi trong chức vụ nầy.

<<  |  >>