Skip to content

Chương 21/9

LÊ TRUNG HƯNG
(1592 – 1789)

Đoạn chín

ĐÀNG TRONG:
PHỦ GIA ĐỊNH 
VÀ NHỮNG CUỘC CHIẾN LIÊN HỆ

 

      Hoàn toàn bình định xong trấn Thuận Thành và phủ Bình Thuận, chúa Nguyễn Phúc Chu chú ý tới Chân Lạp. Tháng 2 năm 1698, vị chúa 23 tuổi nầy cử chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào nam lần thứ hai. Lần nầy đi xa hơn, vào tới Bến Nghé. Ông Cảnh vào cái nôi khai phá phương nam nầy với chức Kinh lược sứ để định vùng lãnh thổ. Nó bao gồm những nơi mà bấy lâu nay lưu dân đã đến và cư ngụ. Gồm tất cả 5 Vùng. Một: Sài Gòn – Bến Nghé (tức Chợ Lớn – Sài Gòn) được công nhận năm 1623. Hai: Mỗi Xuy (Bà Rịa), và vùng xung quanh do vua Chân Lạp Barom Réachea V đền ơn chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần năm 1658. Ba: Trần Thượng Xuyên khai phá đất Biên Hòa năm 1679. Bốn: Dương Ngạn Địch khai khẩn Mỹ Tho cùng năm 1679. Năm: Lôi Lạp (về sau bồi đắp thành Gò Công), vùng sát biển bên hữu ngạn sông Vàm Cỏ và sông Soài Rạp. Vùng thứ 5 nầy không phải là vùng sang nhượng như các vùng khác, nhưng là cửa ngõ đi vào Mỹ Tho và Biên Hòa từ năm 1679, nên nhiều lưu dân sinh sống ở đây từ năm ấy. Cả 5 vùng nầy hầu như liền lạc, và kinh lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh đặt tên là phủ Gia Định.

      Dĩ nhiên là ông Cảnh được ủy quyền từ chúa Nguyễn Phúc Chu, và ông chia phủ nầy làm hai huyện.  Một: Tân Bình. Huyện nầy ở phía nam sông Đồng Nai, lấy Sài Gòn – Bến Nghé làm lỵ sở. Đó là nơi có những cơ quan chỉ huy quân sự, hành chánh, thuế má của huyện. Lỵ sở Sài Gòn – Bến Nghé (khoảng từ bưu điện Chợ Lớn đến Thảo cầm viên ngày nay) được gọi là dinh Phiên Trấn. Hai: Phước Long, phía bắc sông Đồng Nai. Lấy trung tâm Biên Hòa làm lỵ sở, và nó được gọi là dinh Trấn Biên. Lúc bấy giờ hai dinh Phiên Trấn và Trấn Biên không phải đơn vị hành chánh tương đương cấp tỉnh như dinh Bố Chánh, dinh Thuận Hóa, dinh Quảng Nam, dinh Phú Yên, hay dinh Bình Khang.

      Tất cả những phân lập của chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh như bình thường đối với triều đình chúa Nguyễn, nhưng là một uy hiếp cho vua Chân Lạp Nặc Ông Thu. Đối với nhà vua nầy, nhà Nguyễn đang khẳng định chủ quyền và lấn chiếm đất đai. Nặc Ông Thu tăng cường quân đội chuẩn bị chiến tranh. Tình hình trở nên căng thẳng, khiến tướng Nguyễn Hữu Cảnh khẩn báo về Phú Xuân. Ông được lịnh điều động quân đội trong quyền hạn của một thống suất đại diện nhà chúa.

      Tháng giêng năm kỷ mão 1699, thống suất họ Nguyễn cử cựu tổng binh Trần Thượng Xuyên làm tướng tư lệnh tiền phương. Ông Xuyên được lịnh mang quân đến phương nam để lập doanh trại. Mục đích chỉ làm tiền đồn chứ không phải khởi động chiến tranh. Vị tướng họ Trần đặt bản doanh bên bờ nam sông Long Hồ, giữa hai dòng sông lớn Tiền và Hậu. Địa danh nầy được gọi là Châu Doanh từ khi có những đồn trại phòng thủ. Họ Trần đóng quân ở đây từ mùa xuân rồi mùa hạ năm 1699, và tình hình vẫn yên tĩnh. Ông hy vọng hai bên Chân – Việt dừng lại ở đó. Nhưng, không phải như thế. Tháng 7 năm 1699, vua Chân Lạp Nặc Ông Thu xua quân từ Nam Vang theo dòng Hậu Giang về xuôi. Họ vượt qua những kinh rạch chằng chịt tiến về sông Long Hồ tấn công Châu Doanh. Trong khi quân nhà Nguyễn chỉ cố thủ, quân Chân Lạp phừng phực lòng căm thù. Họ ra sức đánh phá suốt một nửa mùa mưa làm tướng Trần Thượng Xuyên chật vật đối phó.

      Đến cuối tháng 10 năm 1699, khi mùa khô chớm bắt đầu, thì sức tấn công của Chân Lạp càng dữ dội hơn. Điều nầy buộc thống suất Nguyễn Hữu Cảnh phải can thiệp. Ông lấy quân từ Phiên Trấn, Trấn Biên và Mỹ Tho trực tiếp tham chiến. Hai bên Chân Việt dằng co giữa những đầm lầy và sông rạch gần hai tháng trời, thì  quân Chân Lạp dần dần yếu thế. Vua Nặc Ông Thu phải rút quân chạy về Long Xuyên, và quân nhà Nguyễn đuổi theo. Một trận quyết định trên bờ tây rạch Tam Khê đã làm nhà vua nầy thất bại nặng nề. Ông phải rút lui đến miền tây Kompong Long (Châu Đốc). Lúc nầy trời đã hanh khô, quân Nguyễn không có dấu hiệu dừng lại. Họ có một cái tết canh thìn 1700 vội vã ngay dưới chân những ngọn núi mà không ai biết tên. Trong những ngày đầu xuân nầy, thống suất Nguyễn Hữu Cảnh ra lịnh tấn công. Quân Chân Lạp bị bức ra khỏi Kampong Long. Quân Nguyễn tràn lên, và tiến về Ngư Khê. Địa danh nầy nằm trên thượng nguồn sông Bassac chỉ cách Nam Vang chừng 5 dặm. Tướng Nguyễn Hữu Cảnh quyết định chiếm thành Nam Vang đầu tháng 3 năm 1700. Tưởng khó khăn, nhưng lại rất dễ dàng.

      Vốn Nặc Ông Yêm (con của phó vương Nặc Ông Nộn) là phò mã và cũng là một hoàng thân của triều đình Oudong. Từ Sài Gòn trở về năm 1691, ông chủ trương hòa hoãn với Đàng Trong. Ông hiểu thế nào là áp lực của các chúa Nguyễn, nhưng theo ông, kẻ thù Ayutthaya mới là nguy hiểm. Đế quốc nầy đã tàn phá thủ đô Angkor Thom và thủ đô Lovek là một bằng chứng. Quan điểm nầy khác với quan điểm của vua Nặc Ông Thu, nhưng Nặc Ông Yêm luôn luôn tuân thủ ý chỉ của người vua bác cũng là cha vợ của mình. Ông vẫn theo vua trong cuộc đông tiến với lòng trung thành. Khi về đến Kongpong Long ông cố yểm trợ cho vua Nặc Ông Thu rút về Oudong cũng trong ý niệm đó. Bản thân ông ở lại thành Nam Vang cùng với quân đồn trú chống quân Nguyễn. Tuy nhiên, khi Nặc Ông Yêm thấy quân Nguyễn phá vỡ lũy Bích Đôi và tràn vào Nam Vang, ông tự biết không thể nào chống cự. Mối giao hảo với Sài Gòn  từ xưa vẫn còn, nên không có thiệt hại về nhân mạng khi hai bên Chân Việt gặp nhau. Hoàng thân Nặc Ông Yêm để quân Nguyễn vào thành Nam Vang, và chịu làm gạch nối giữa tướng Nguyễn Hữu Cảnh và vua Nặc Ông Thu.

      Dù lúc nầy Nam Vang không phải là thủ đô, không quan trọng như Oudong, nhưng không thể mất. Một giải pháp được thỏa thuận sau đó: Quân đội nhà Nguyễn phải rút về, đổi lại vua Nặc Ông Thu chấp nhận chúa Nguyễn Phúc Chu đặt cơ sở hành chánh trên phủ Gia Định. Đạt được thỏa thuận, tháng 3 năm 1700 tướng Nguyễn Hữu Cảnh rút quân. Trên đường về tới Long Xuyên, chưởng cơ họ Nguyễn được lệnh dừng lại. Chúa Nguyễn Phúc Chu sợ một tình thế bất lợi có thể xảy ra, nên ra lịnh cho vị thống suất bình nam như thế. Đoàn quân nầy đóng quân dọc theo tả ngạn sông Hậu từ ngã ba sông Vàm Nao đến cù lao Ông Hổ. Ở đây còn hoang hóa, và người ta sống theo từng cụm quần cư: Chân, Việt, Tàu, Chiêm. Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh cho quân đội giúp dân thông phá kinh rạch. Khai quang những cù lao âm u gần đó thành nơi quang đãng. Ông được mọi người qúy mến dù là lưu dân hay địa phương. Người ta đã đặt rạch Ông Chưởng, cù lao Ông Chưởng, cù lao Giêng (doanh) trong lúc nầy, nhưng rất tiếc đến đầu tháng 5 ông phát bịnh nặng. Chúa Nguyễn Phúc Chu ra lịnh rút quân về Biên Hòa khi nghe tin nầy, nhưng chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh chỉ đến được Rạch Gầm. Ông chết sau 20 ngày thọ bịnh. Đó là một ngày cuối xuân năm 1700.

      Sau khi kinh lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh chết thì tình hình phía nam tạm yên, nhưng không thấy ai thay ông coi việc phủ Gia Định. Một lỵ sở đặt chung cho cả phủ không có trong lúc nầy, mà chia thành hai dinh: dinh Phiên Trấn tức Tân Bình, dinh Trấn Biên tức Phước Long. Đô đốc Trần Thượng Xuyên từ Biên Hòa được chuyển về Sài Gòn coi sóc Phiên Trấn. Cai cơ Trương Phúc Phan từ Phú Xuân đến Biên Hòa trấn thủ Trấn Biên. Lúc nầy, phần đất phương nam nầy phải đối đầu với hai biến cố:

      Thứ nhất: Tháng 8 năm 1702, những thuyền buôn của công ty Đông Ấn thuộc Anh chiếm quần đảo Côn Sơn. Những dân binh ở đây báo về quan trấn thủ Trấn Biên. Cai cơ Trương Phúc Phan là người điềm đạm và am hiểu tình hình. Ông biết bọn tay buôn nầy đã dấu mặt một lực lượng chinh phục. Một mặt ông báo về Phú Xuân, mặt khác ông sắp xếp một cuộc thương thảo với kẻ có súng. Tuy nhiên, cuộc dàn xếp nầy bất thành. Thuyền buôn Đông Ấn ngang nhiên lập cơ sở giao dịch và định cư. Tình trạng như thế kéo dài đến một năm sau, khi trấn thủ Trương Phúc Phan có kế hoạch tấn công. Ông đã liên kết với Mã Lai để tìm sự ủng hộ của họ. Tháng 10 năm 1703, những đơn vị biệt hải Mã – Việt bí mật xâm nhập các đảo nhỏ của quần đảo Côn Sơn. Họ nhanh chóng áp đảo phe địch, bắt gần trăm quân Đông Ấn đồn trú và tước hết vũ khí. Nhóm tù binh nầy chưa kịp tỉnh hồn thì đảo lớn Côn Sơn bị tấn công. Hải quân Đại Việt từ Bà Rịa đã tiến vào mặt tây đảo với trang bị súng trường mà Phú Xuân vừa mua được. Cuộc giao tranh ở đây chưa đến lúc chín muồi, thì bộ chỉ huy của địch ở phía nam đảo bị đột kích. Những toán biệt hải đã nhanh chóng chiếm những ổ kháng cự. Những dinh cơ bị đốt cháy. Ánh lửa nhập nhòa trong đêm. Lập tức cánh quân Đại Việt từ mặt tây tiến về bộ chỉ huy nầy. Chỉ trong một canh giờ cầm cự, quân đồn trú phải đầu hàng. Cuối tháng 10 năm 1703, quân Đông Ấn rút khỏi Côn Sơn. Quần đảo nầy chính thức sát nhập vào đơn vị hành chánh Bà Rịa, trực thuộc dinh Trấn Biên lúc bấy giờ.

      Thứ hai:  Tháng 10 năm 1705  Nặc Ông Thu đã già yếu, trao quyền cai trị cho thái tử Nặc Ông Thâm. Vua Nặc Ông Thâm hòa hoãn với Ayutthaya hơn cả cha mình. Cùng lúc ấy nhà vua nghi ngờ lòng trung thành của hoàng thân Nặc Ông Yêm tức em rể ông. Lần đầu hàng ở Nam Vang của Nặc Ông Yêm 5 năm trước vẫn còn ghim trong đầu vị tân vương nầy. Ngay trong những ngày đầu tiên làm vua, ông đã biểu lộ thái độ không thân thiện với Nặc Ông Yêm. Sợ một cuộc thanh trừng có thể xảy ra, hoàng thân Yêm chuẩn bị quân đội để bảo vệ mình. Điều nầy gây ra những trận chiến mà Yêm luôn luôn ở thế yếu, nên ông ta cho người về Sài Gòn cầu cứu. Phó tướng dinh Phiên Trấn lúc bấy giờ là cai cơ Nguyễn Cửu Vân được lịnh mang quân qua Oudong can thiệp. Chiến trận xảy ra đưa đến kết quả Nguyễn Cửu Vân yểm trợ được Nặc Ông Yêm về cố đô Lovek. Tại đây họ lập phòng tuyến chống với quân đội của vua Nặc Ông Thâm ở thủ đô Oudong. Hai địa danh Oudong và Lovek chỉ cách nhau non mươi cây số mà có tới hai triều đình được hai thế lực ngoại bang yểm trợ. Quả nước Chân Lạp xuống quá thấp so với một thời Khmer cực kỳ huy hoàng của 500 năm trước.

      Để dễ yểm trợ cho một Lovek chống lại Oudong, chính quyền Phú Xuân tăng cường sức mạnh cho Phiên Trấn tức huyện Tân Bình. Ở mặt nam nầy tiện đường đến Lovek bằng hai dòng sông Tiền và Hậu. Từ Sài Gòn, những đường đất đường sông được khai thông tới sông Tiền. Kênh Bảo Định từ Tầm Bôn (Tân An) đến Mỹ Tho được đào năm 1705 nằm trong kế hoạch nầy. Không có chiến tranh xảy ra, nhưng có nhiều binh đoàn Đại Việt có mặt khắp vùng phía nam. Cai cơ Nguyễn Cửu Vân có bộ chỉ huy ở Bình Phan (bắc Mỹ Tho) đã tạo ra một sức mạnh đáng kể. Chính sức mạnh nầy đã giúp cho chúa Nguyễn Phúc Chu có được một phần đất mà không hề đổ xương máu: Hà Tiên.

      Hà Tiên vốn là vùng đất cực nam hoang vu của Chân Lạp nằm hai bên bờ hạ nguồn sông Giang Thành (Prêk Ten). Vùng đất nầy được Mạc Cửu từ Quảng Đông bên Tàu đến khai phá vào những thập niên cuối thế kỷ 15. Ban đầu với sự đồng ý của triều đình Chân Lạp cho Mạc Cửu khai khẩn một diện tích nhỏ, nhưng càng lúc nó càng mở rộng. Nó như một tiểu quốc độc lập khi triều đình nầy quá yếu không can thiệp đến. Sự phát triển của Hà Tiên trở thành điểm nhắm tranh giành của đế quốc Ayutthaya (Thái) đang muốn bành trướng về phía đông. Họ đã nhiều lần mang quân đánh phá vùng ven biển nầy làm Mạc Cửu không yên lòng. Họ Mạc vốn là một thương gia, ông không có mộng hùng cứ như một kẻ mưu đồ vương bá. Ông cân nhắc được thua một cách hiền hậu hơn những tay bá nghiệp. Ông chọn một trong ba thế lực hiện hữu để làm nội thuộc. Ayutthaya đang là vương quốc hùng mạnh, nhưng ở xa. Triều đình Chân Lạp đã tụt dài mà không có cơ hội đứng dậy. Đàng Trong của Đại Việt đang có đồn binh vững chắc ở Mỹ Tho, và có quân đội dàn  trên hai sông Tiền sông Hậu. Vì lý do ấy, năm 1708 ông đã tự động trao “tiểu quốc” Hà Tiên cho chúa Nguyễn Phúc Chu để làm một chức tổng binh.

      Có thể nói chúa Nguyễn Phúc Chu bất ngờ có được Hà Tiên, nhưng cũng có thể nói nhờ sức mạnh của phủ Gia Định do chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh tạo ra trước đây. Dù bằng cách nào, chính thức là đầu tháng 8 năm mậu tý 1708, Đàng Trong có thêm phần đất Hà Tiên. Nó gồm vùng duyên hải từ Krong Kaeb (hiện nay đã thuộc về Campuchia)  đến Cà Mau, và các hải đảo. Đó là những Phú Quốc,  hòn Wai, Thổ Chu, và các đảo nhỏ có nước ngọt mà dân cư đang sinh sống. Giữa mùa thu 1708 nầy, nếu một ai đó đứng ở đảo Thổ Chu ngước về hướng bắc, chắc sẽ thấy một giang sơn Đàng Trong vời vợi biển trời. Nó đã khác rất xa với thời vị chúa thứ nhất Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa. Để xác lập cho một triều Nguyễn có quyền uy và lãnh thổ rộng mở nầy, chúa Nguyễn Phúc Chu ra lịnh đúc ấn truyền quốc. Ấn đúc xong tháng 12 năm kỷ sửu 1709. Nó được được khắc dòng chữ: “Đại Việt Quốc Nguyễn Chúa Vĩnh Trấn Chi Bửu”.

      Được chính quyền chúa Nguyễn bảo vệ, Hà Tiên càng phát triển ở những năm kế tiếp. Tháng 4 năm 1711, Mạc Cửu về Phú Xuân để tạ ơn chúa. Khả năng hàng hải của họ Mạc lại được chứng tỏ thêm trong lần nầy. Từ Phú Xuân, ông được chúa Nguyễn Phúc Chu cử dẫn đầu một đoàn quân thăm dò quần đảo Trường Sa. Đây là lần đầu tiên quân đội nhà Nguyễn đặt chân lên quần đảo có hơn 100 đảo lớn nhỏ nầy. Cùng trong khoảng thời gian đó, chính xác là tháng giêng năm 1712, chúa Nguyễn Phúc Chu cho dời dinh từ Phú Xuân về Bác Vọng. Dinh mới nầy cách Phú Xuân chừng mươi lăm cây số về hướng bắc, nằm bên tả ngạn sông Bồ. Nó rất gần với dinh cũ Phước Yên dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên bên hữu ngạn dòng sông. Sự di dời nầy như là đi ngược về chỗ cũ, nhưng Đại Nam Thực Lục chỉ ghi biên niên chứ không giải thích tại sao. Có thể là dòng chảy của sông Hương lúc ấy gây thiệt hại cho Phú Xuân? Hoặc để trả ơn một bà tiên đã cứu chúa Nguyễn Hoàng theo huyền thoại “dây tơ” trên khúc sông Bác Vọng? (thuyền chúa Nguyễn Hoàng sắp bị chìm. Nó đang trôi về phá Tam Giang, nhưng được một bà tiên cứu vớt. Bà tiên từ Bác Vọng phóng dây tơ ra kéo thuyền chúa Nguyễn lại).

      Dù dinh trấn quốc ở chỗ nào thì chúa Nguyễn Phúc Chu cũng phải dõi mắt về phương nam, và Chân Lạp. Tưởng Nặc Ông Yêm đã yên ở Lovek, nhưng không thể. Năm 1714 vua Nặc Ông Thâm ở Oudong mượn được quân Xiêm cùng với quân bản bộ tấn công thành Lovek. Áp lực nầy là sức mạnh của 2 vạn quân làm Nặc Ông Yêm chống đỡ không nổi nếu phải kéo dài. Ông khẩn báo về Bác Vọng nhờ can thiệp. Đô đốc Trần Thượng Xuyên lúc nầy đã trở về Trấn Biên, và được lịnh đưa quân cứu cố đô Chân Lạp. Cai cơ Nguyễn Cửu Phú từ Phiên Trấn, và cai cơ Nguyễn Cửu Triêm từ Bình Khang cũng được lịnh tiếp ứng. Ba lực lượng nầy trước sau lên tới 3 vạn quân dưới quyền chỉ huy của đô đốc họ Trần. Họ tiến quân dọc theo sông Hậu qua khỏi địa bàn Châu Đốc (Komgpong Long) vào cuối tháng mười. Họ lấy lại Bồn Bột mà trước đó ít ngày bị quân của Nặc Ông Thâm chiếm mất của Nặc Ông Yêm. Lúc nầy liên quân Chân – Xiêm dưới quyền tổng chỉ huy của vua Nặc Ông Thâm đang bao vây thành Lovek. Thành nầy ở phía tây bắc và rất gần với Oudong, nên muốn cứu nó mà tránh Oudong là điều không thể.

       Kế hoạch tấn công thành Oudong được thực hiện. Đô Đốc Trần Thượng Xuyên dùng toàn lực Trấn Biên và Bình Khang tập kích vào mặt đông của thành nầy. Chỉ trong một ngày đã chiếm ưu thế. Nó đã buộc vua Nặc Ông Thâm phải bỏ thành Lovek về cứu Oudong. Nhờ đó Nặc Ông Yêm thoát được sự bao vây Lovek. Ông nầy lập tức bắt tay được với cai cơ Nguyễn Cửu Phú ở bờ nam sông Siem Reap. Liên quân Việt – Chân (Yêm) nầy đã tiến hành những cuộc phản kích không ngừng nghỉ ở mặt bắc. Nó đồng hành với mặt đông của Trần Thượng Xuyên và Nguyễn Cửu Triêm. Hai mặt đều bị tấn công, thành Oudong trở lại thế thủ. Dù vua Nặc Ông Thâm đã trở về, nhưng liên quân Xiêm – Chân (Thâm) nầy không phải là đối thủ của 3 vạn quân Đại Việt cọng với quân của Nặc Ông Yêm. Chưa đầy ba ngày trực chiến, mà lính Oudong và lính Xiêm còn sống sót không có người nào lành lặn.

      Thời gian lúc nầy đã bước sang tháng 12 năm 1714. Nền trời trong vắt màu xanh, nhưng Lovek và Oudong đầy màu khói xám. Giữa ngổn ngang binh lính vừa bị thương vừa bị chết, người ta không tìm thấy vua Nặc Ông Thâm. Ông đã theo chân quân Xiêm chạy về đất Thái. Ở đây chỉ còn thượng hoàng Nặc Ông Thu và một số quân trung thành. Vị cựu hoàng nầy đau lòng nhìn cảnh hoang tàn của thủ đô, và cũng đau lòng khi đứa con trai chạy theo kẻ cựu thù. Ông chấp nhận Nặc Ông Yêm lên làm vua Chân Lạp với yêu cầu quân chúa Nguyễn Phúc Chu phải rút về. Tiếng nói của ông vẫn còn giá trị cho một Chân Lạp bình yên. Đó là một ngày đầu tháng giêng 1715.

 

Vua Chiêm sống trên đồi đất tháp
Một tàn thu rồi cũng qui tiên
Thuận Thành sắp đặt cho Bà Tử
Chúa Nguyễn nhìn xa mấy xứ miền

Nào Lộc Dã quanh co sông nước
Nào Mỗi Xuy, Bến Nghé, Sài Gòn
Ở đâu Đại Phố, đâu Đông Phố
Dấu bước chân trần dựng nước non

Lập Phiên Trấn, Trấn Biên lỵ sở
Mở Tân Bình lại mở Phước Long
Dặm nghìn sông nước miền Gia Định
Một sớm Đàng Trong bước Việt giòng

Chưởng cơ Cảnh vốn từng kiệt tướng
Đã bình Chiêm nay lại bình Chân
Một ngày xuân sớm còn đông tiết
Chiến cuộc như đâu đã đến gần

Qua xuân hạ châu Doanh yên tĩnh
Mà sang thu sóng nước gợn thù
Vua Chân đông tiến về sông Hậu
Một sớm thu nào cau gió thu (1699)

Dòng sông nhỏ Long Hồ trong suốt
Nước ai pha mà bỗng hóa màu
Châu Doanh trại Nguyễn nghiêng gò thấp
Máu đổ bao lần có thấm đau?

Mùa mưa dứt nền trời bỗng lớn
Đất hanh khô quân Việt phản công
Chưởng quân Hữu Kính từ Phiên Trấn
Vượt tiến qua sông mấy cánh đồng

Sông Long Hồ trông qua sông Hậu
Nước Hậu Giang mùa nắng mùa mưa
Một dòng nước chảy như bình thủy
Mà sóng chinh tây lại có thừa

Dừng ở bến Long Xuyên một độ
Một thư hùng ai đã bại vong
Ai về Châu Đốc, Ngư Khê ấy
Ai bỏ Nam Vang có bận lòng?

Trận công thành Nam Vang đã định
Thành Nam Vang buổi ấy ra sao
Hai bên dừng lại bên thành cổ
Thỏa ước thay cho cuộc máu đào

Hoà bình một thuở thôi chinh chiến
Quân Nguyễn rút về xứ Trấn Biên
Nửa đường dừng lại bờ sông nước
Rạch uốn quanh co suốt xứ miền

Từ Vàm Nao bên bờ sông Hậu
Dọc về xuôi lau lách xôn xao
Kinh đen cồn phá còn dang dỡ
Ai bỏ ra đi bỏ chiến bào

Nguyễn Hữu Cảnh ra sao buổi ấy
Về Rạch Gầm bỏ cuộc qui tiên
Nhớ ơn sơ lập vùng thủy thổ
Hương khói miền nam dậy khắp miền

Hoà bình buổi ấy như mưa hạn
Không đủ trang đầy những khó thương
Một chiều biển lặng Côn Sơn ấy
Bỗng sóng bờ tây dậy sa trường

Việt thắng thế nối vòng biên hải
Nối Thổ Chu, Phú Quốc, Hà Tiên
Nối vùng đất mới nhà Mạc Cửu
Biển đảo mênh mông một mối giềng

Đất mở rộng mà không thể hiểu
Bởi vì sao chúa Nguyễn dời dinh
Phú Xuân trôi giạt về Bác Vọng
Có phải trong ai có ẩn tình?

Giữa buổi ấy Oudong đổi khác
Nặc Ông Thâm lên thế vua cha
Nghi ngờ em rể Ông Yêm ấy
Chân Lạp chia hai xé nước nhà

Cuộc thế ấy sinh ra chinh chiến
So kiếm cung mấy lúc mấy lần
Mượn quân xứ khác về tranh thắng
Xiêm, Việt hai đầu quặn xứ Chân

Rồi một trận bên thành La Bích
Máu xương đầy Xiêm Việt rút lui
Oudong tàn cuộc chiều sương khói
Có kẻ bên sông đứng ngậm ngùi

Đất Chân Lạp, Ông Yêm vua mới
Quân Việt về trở lại Trấn Biên
Việt Chân gắn lại tình xưa cũ
Tiếng vọng bình yên khắp xứ miền


<<  |  >>