Skip to content

Chương 21/8

LÊ TRUNG HƯNG
(1592 – 1789)

Đoạn tám

ĐÀNG TRONG: ĐỒNG NAI NỐI VỚI THUẬN THÀNH

 

      Nếu Đàng Ngoài có nỗi đau mất đất, thì Đàng Trong duyên phận may mắn hơn. Lãnh thổ rộng mở. Tuy nhiên, nó cũng phải đi qua những bước gian nan sinh tử. Khi chiến tranh Trịnh Nguyễn năm 1672 đương tiếp diễn ở Bố Chánh, thì ở Chân Lạp có loạn. Người con rể của vua Barom Reachea V gây chính biến, và giết nhà vua. Chính thể thay đổi, và ngai vàng thuộc về người con rể nầy tức vua Chey Chetta III. Chey Chetta III chỉ làm vua được 1 năm, bị con trai của vua Batom Reachea V là Ang Chea (Nặc Ông Đài) trả thù. Nặc Ông Đài hạ sát người anh rể lấy lại ngai vàng. Ông liên kết với chính quyền Xiêm đòi lại vùng đất mà vua cha Barom Reachea V đã sang nhượng từ năm 1658. Đó là Sài Gòn – Bến Nghé, và Bà Rịa. Dĩ nhiên, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần không bằng lòng. Chiến tranh xảy ra. Chiến trận không lớn, nhưng mãi kéo dài hai năm trên miền hoang sơ xen kẻ giữa rừng và rạch. Năm 1674 cai cơ trấn thủ dinh Thái Khang là Nguyễn Dương Lâm lập một thành tích chưa từng có trước đó. Ông được cử làm làm thống binh, và nhận lệnh phải chấm dứt chiến trường. Ông dẫn quân biên phòng Nha Trang phối hợp với Mỗi Xuy và Bến Nghé. Lực lượng nầy chưa tới một vạn quân, nhưng đã đánh bức quân Chân Lạp chạy sâu về miền tây của đất nước họ. Điều nầy buộc vua Nặc ông Đài phải chạy qua Xiêm lánh nạn. Chúa Nguyễn Phúc Tần ủng hộ Ang Sor (Nặc Ông Thu), em của Nặc Ông Đài, làm vua ở Oudong. Tuy nhiên, để tránh tình trạng gây rối như Nặc Ông Đài, chúa Nguyễn Phúc Tần lập Nặc Ông Nộn làm phó vương ở Sài Gòn. Nộn là em họ của Thu, trên danh nghĩa dưới quyền Oudong, nhưng bị chi phối bởi chính quyền Kim Long. Nặc Ông Nộn làm phó vương cai quản vùng phía đông Chân Lạp tức Thủy Chân Lạp. Dĩ nhiên là trừ đi phần đất đã sang nhượng, mà ranh giới vốn không rõ ràng.

      Khi Sài Gòn – Bến Nghé và Bà Rịa tạm yên như thế, thì ở Kim Long chúa Nguyễn Phúc Tần đón nhận trên 3000 quân nhân và thường dân tị nạn. Đó là những bại binh và gia đình người Tàu trong lực lượng kháng Thanh phục Minh. Tháng giêng năm 1679, họ đi trên 50 chiến thuyền do Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên chỉ huy cập bến Tư Dung và Đà Nẵng. Lúc nầy tinh thần dựng lập một triều đại cũ Nam Minh không còn nữa, họ đã mệt nhoài hơn 30 năm trôi qua. Hai vị cựu tướng lãnh họ Dương và họ Trần không đủ sức, và cũng không muốn phục quốc nữa. Họ chỉ xin đựơc tị nạn và trung thành với vùng đất mới. Chúa Nguyễn Phúc Tần dung nạp họ, nhưng chia làm hai đưa đến Thủy Chân Lạp với sự đồng ý của phó vương Nặc Ông Nộn.

      Mùa xuân 1679 hai vị lưu tướng Dương, Trần tạ từ nhà chúa đưa quân vào nam. Hơn một tháng trời, 300 thuyền binh mới đến được cửa sông vào vùng qui định: Mỹ Tho và Biên Hòa. Hai vùng nầy còn hoang sơ đến nỗi không có tên gọi chính thức của người Chân Lạp. Lúc bấy giờ cửa Đại sông Tiền đầy phù sa lầy lội, nên thuyền vào Mỹ Tho cũng cập cửa Soài Rạp như thuyền vào Biên Hòa. Cửa sông nầy rộng mênh mông, thuyền chèo đã vào trong khoảng mươi cây số mà lòng sông vẫn như giữa biển. Trước mặt họ là một ngã ba sông ở bên trái từ dòng Vàm Cỏ đổ về. Dương Ngạn Địch rẽ về hướng nầy, và cập bến ở ngã ba Tân Trụ nơi tập hợp của hai dòng Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Tại đây họ tiến về phía nam đến vùng khai phá Mỹ Tho.  Nếu Dương Ngạn Địch rẽ ngang thì Trần Thượng Xuyên chạy thẳng sông Soài Rạp đến sông Đồng Nai về Biên Hòa. Mỹ Tho và Biên Hòa không xa Sài Gòn – Bến Nghé và Bà Rịa bao nhiêu. Chúng trở thành 2 tụ điểm của đợt di dân thứ tư, sau 3 đợt 1620, 1623 và 1658.

      Khó để nói mỗi đợt như vậy, dân chúng chỉ khoanh vùng riêng lập. Lưu dân giúp đỡ nhau, dần dần khai phá nối gần lại. Đến những năm 1682 – 1686, sức khai phá của người Việt và người Tàu lớn mạnh. Nó ra ngoài phạm vi qui định, mà phó vương Nặc Ông Nộn không còn kiểm soát được. Điều nầy gây nên sự bất mãn đến phẫn nộ của nhà vua Nặc Ông Thu ở Oudong. Ông cho rằng chúa Nguyễn Phúc Tần cố ý vi phạm chủ quyền Chân Lạp. Ông đưa quân lấy lại vùng đất lưu dân nhà Nguyễn canh tác bằng sức mạnh quân đội. Nó nẩy mầm tình trạng căng thẳng giữa hai triều đình Chân Lạp và Đàng Trong, nhưng đã sớm lắng dịu. Nể tình đã được ủng hộ lên làm vua từ mấy năm trước, vua Nặc Ông Thu rút quân về, sau khi đàm phán với chúa Nguyễn Phúc Tần. Theo đó sẽ có một thỏa ước minh bạch hơn để định ranh giới. Rất tiếc, sự mong đợi nầy không diễn ra. Tháng 3 năm 1687, chúa Nguyễn Phúc Tần đã qua đời ở tuổi 68. Ông ra đi khi còn nợ vị vua Chân Lạp một cái hẹn.

      Người con thứ tức thế tử Hoằng Ân hầu lên thay quyền cha (con trưởng Nguyễn Phúc Diễn đã chết). Đó là chúa Nguyễn Phúc Thái. Lúc nầy ông đã 39 tuổi và thường được gọi là chúa Nghĩa. Vị chúa thứ năm nầy vẫn để ý đến tình hình Thủy Chân Lạp, nhưng công việc ở đó khá nhạy cảm nên nhà chúa cứ để diễn tiến theo tự nhiên trước khi quyết định. Ông làm một việc khác: Dời dinh. Dinh quốc trấn Kim Long được dời về Phú Xuân. Đó là một làng sát với Kim Long xuôi theo dòng sông Hương. Thế đất ở đây bằng phẳng mà khúc sông dịu dàng nầy như một dây nịt mượt mà ôm lấy vòng bụng cong cong Phú Xuân.  Ở phía nam, xa chừng vài dặm, có ngọn Bằng Sơn (Ngự Bình) mà theo phong thủy là ngọn núi bình phong. Ngăn gió độc và giữ gió lành. Các quan văn võ cũng cho Phú Xuân là cuộc đất đại cát. Họ tin rằng dưới lòng đất Phú Xuân có nhiều Long mạch từ Trường Sơn chảy đến, nên tháng 7 năm 1687 chúa Nghĩa quyết định dời dinh. Tuy không nguy nga, nhưng dinh Phú Xuân cũng phải tới mùa hè năm sau mới xong. Đó là lúc ở Thủy Chân Lạp đưa về những tin bất lợi.

      Tháng 6 năm 1688, Hoàng Tiến, nguyên là thuộc tướng của Dương Ngạn Địch giết vị cựu chủ tướng của mình. Ông nầy không chịu mềm dẻo với Chân Lạp như chủ trương của chúa Nguyễn Phúc Tần và chúa Nguyễn Phúc Thái mà Dương Ngạn Địch đang theo đuổi. Họ Hoàng quyết giành lấy đất theo sức mạnh. Ông kéo quân từ Mỹ Tho đến sông Hàm Luông, chiếm hết vùng dân cư heo hút. Được đà, họ Hoàng băng qua vùng sình lầy hoang sơ đến tận bờ nam sông Cổ Chiên. Khó để nói Hoàng Tiến muốn cát cứ một giang sơn riêng, hay ông ta sẽ giao đất nầy cho chúa Nguyễn. Trước mắt, nó làm căng thẳng thêm tình hình khiến chúa Nguyễn Phúc Thái sai tướng Mai Vạn Long từ dinh Thái Khang dẫn quân đến Mỹ Tho để giải quyết.

      Tháng 2 năm 1689 Mai Vạn Long đến Rạch Gầm, và ra lịnh Hoàng Tiến rút quân về địa giới cũ, nhưng họ Hoàng không nghe. Sợ rằng Hoàng Tiến sẽ là một cát cứ nguy hiểm, Mai Vạn Long đã sớm diệt ông ta, nhưng tình hình Chân – Việt vẫn không khả quan. Vua Nặc Ông Thu đem binh tướng sang đánh quân nhà Nguyễn không kể là quân của Hoàng Tiến hay của vị tướng họ Mai. Tới lúc này thì chiến tranh phải xảy ra. Mai Vạn Long đuổi quân của Nặc Ông Thu chạy về Cầu Nam, Bích Đôi rồi Nam Vang, nhưng rồi bị đánh ngược trở lại. Chiến trường lan rộng. Hai bên lui tiến trên miền sông rạch chằng chịt trong nhiều khu rừng hơn cả một năm. Quân nhà Nguyễn không hợp với thủy thổ phải rút dần về phía đông trong tình thế bị động. Thấy Mai Vạn Long làm tình hình tệ đi một hướng khác, tháng giêng năm 1690 chúa Nguyễn Phúc Thái gởi Nguyễn Hữu Hào đến thay thế vị tướng họ Mai. Ông Hào là con của Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật, anh của Nguyễn Hữu Cảnh. Là một võ tướng, nhưng ông nầy cũng là một danh sĩ đương thời. Vì thế ấy, chúa Nguyễn Phúc Thái kỳ vọng ông Hào không tạo ra chiến tranh với Chân Lạp, mà vẫn giữ được an ninh những vùng đất đã có. Với một điều kiện eo ép như thế làm Nguyễn Hữu Hào cũng không thành công, ông phải rút quân về gần tới Sài Gòn. (Tuy nhiên, theo giai thoại thì cả Mai Vạn Long và Nguyễn Hữu Hào đều bị sắc đẹp mê hồn của một người đàn bà tên Chiêm Dao Luật đánh bại). Tháng 8 năm 1690 Nguyễn Hữu Hào bị triệu về Kim Long như Mai Vạn Long một năm trước đó.

       Lúc nầy ranh giới không thể nào rõ ràng, nhưng nếu so với lúc Hoàng Tiến đi tung hoành thì lãnh địa nhà Nguyễn đã bị thu hẹp lại. Hầu như lưu dân Việt chỉ còn co cụm lại trên hành lang cong cong từ Soài Rạp qua Mỹ Tho, Sài Gòn, Biên Hòa về Bà Rịa. Đó là sự thắng thế của vua Nặc Ông Thu, và ông rút quân đội về Oudong. Nhà vua nầy còn thắng thế thêm một lần nữa. Tháng 2 năm 1691 chúa Nguyễn Phúc Thái bị bịnh qua đời, tháng 3 phó vương Nặc Ông Nộn cũng chết. Nhân hai cái chết nầy, vua Nặc Ông Thu đơn phương bãi bỏ chức phó vương Chân Lạp ở Sài Gòn. Người con của cố phó vương Nặc Ông Nộn là Nặc Ông Yêm được vua bác Nặc Ông Thu gọi về thủ đô Oudong gả con gái cho. Lúc nầy nhà Nguyễn bước sang thời kỳ vị chúa thứ sáu: Nguyễn Phúc Chu.

       Tháng 2 năm 1691, thế tử Nguyễn Phúc Chu mới 16 tuổi. Ông bất ngờ được truyền ngôi chúa, nhưng đã tỏ ra là người điềm tỉnh và khôn ngoan. Ông biết vua Chân Lạp xóa bỏ chức phó vương ở Sài Gòn là không còn nể trọng chính quyền Phú Xuân như trước đây, nhưng ông làm thinh. Bên cạnh Chân Lạp còn một Chiêm Thành chưa hoàn toàn khuất phục, chắc ông phải còn đối mặt với quốc gia nầy. Và, đúng như nhà chúa trẻ tuổi dự đoán. Chỉ một năm rưỡi sau khi ông lên ngôi, ông gặp phải chiến tranh với Chiêm Thành. Đó là một ngày đầu tháng 8 năm 1692.

      Nhớ lại chiến tranh 1653 trước đây. Khi cái nôi thần linh Kauthara ( Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh) vĩnh viễn mất tên, người Chàm phải thu về vùng đất cuối cùng Panduranga. Nó nằm bên kia sông Cái Phan Rang. Trong thời gian nầy họ dời thủ đô về Phan Rí để tránh xa vùng ranh giới. Ba mươi chín năm sau, quốc vương Panduranga như một kẻ ngủ yên thức dậy. Mùa thu năm 1692 vị vua nầy (người Việt gọi là Bà Tranh) phát động chiến tranh. Ông đưa quân qua bờ bắc sông Cái. Họ băng sông với lòng sôi sục của những người đi lấy lại quê hương. Tuy nhiên, đối với Đại Việt nói chung và nhà Nguyễn nói riêng, đây là sự xâm lăng. Thỏa ước 40 năm trước đã được phân định. Hơn nữa, cả vùng Panduranga và Kauthara đều là đất bị người Chiêm Thành lấy của người Phù Nam từ thuở xa xưa.

      Không ai có thì giờ tranh cãi ai là chủ đất nầy. Họ đánh nhau. Trời đã tháng 9, mây đen cứ ùn một chỗ như chực đổ nước xuống, mà quân Chiêm Thành không hề để ý tới. Lòng thù hận cọng với lòng yêu quê hương trên cả những đe dọa của thiên nhiên. Chính điều nầy đã giúp quân của vua Bà Tranh đánh tan quân biên phòng nhà Nguyễn dọc theo bắc sông Cái Phan Rang. Họ chiếm tháp Po Klong Garai, chiếm Đầm Nại, chiếm núi Chúa, chiếm Diên Thành, phủ trị của phủ Diên Ninh. Khi những ngày lạnh của tháng 11 bắt đầu, họ đã đặt chân lên Cam Ranh, địa giới Kauthara ngày xưa. Quân Bình Khang, tên mới của Thái Khang, cứ rút dần. Quân đội của vua Chàm làm chủ vùng ven biển nam đèo Cù Hin vào những ngày cuối đông năm 1692. Họ sẽ vượt con đèo nầy và chiếm lại toàn bộ Hauthara đã mất. Họ đang cầu xin nữ thần Po Nagar phù hộ cho họ.  Họ ước ao sẽ băng qua con sông lớn Ya Trang, và sẽ qùy dưới thân tượng của ngài để tạ ơn. Tượng tháp chỉ cách họ chừng 15 dặm về phía bắc. Họ thương dòng sông Ya Trang và nữ thần của họ biết bao. Giữa những ngày đông, tiếng reo vui hòa với tiếng sóng ầm ầm của biển.

      Diễn tiến ở Bình Khang được gởi về Phú Xuân từng ngày. Chúa Nguyễn Phúc Chu hội triều thần tìm kế sách. Cậu thanh niên Nguyễn Hữu Cảnh đã từng thắng quân Trịnh ở lũy Sa Phù năm 1672 được nhắc tới. Ông bây giờ là một danh tướng 42 tuổi, và triều đình giao mặt trận Bình Khang cho ông. Chưa qua khỏi những ngày tết qúy dậu 1693, quân của Nguyễn Hữu Cảnh đã lên thuyền xuôi nam. Họ là những đạo quân từ Phú Xuân và Ái Tử. Mặt trận Bình Khang lập tức sôi động khi những chiến thuyền đổ quân lên đèo Cù Hin. Liên quân Thuận Hóa – Bình Khang không phải là liên quân bất bại, nhưng tướng Nguyễn Hữu Cảnh là vị tướng chưa từng thua. Từ trận Sa Phù của 20 năm trước đến nay, ông đi đến đâu là thắng đến đó. Cái hùng lực ấy đã nhanh chóng đẩy quân Chàm trở lại Cam Ranh bằng tài điều quân thần tốc của vị tướng họ Nguyễn. Quân Việt tái chiếm núi Chúa, buộc quân Chàm phải rút về bờ nam sông Cái Phan Rang. Thống binh Nguyễn Hữu Cảnh không dừng lại ở con sông ranh giới nầy. Họ dùng thuyền chiến đưa quân qua sông. Đó là một cuộc đổ bộ xa nhất của người Việt vào đất Chàm kể từ thời vua Lê Đại Hành. Đối với Chiêm Thành, chiến trận ở lãnh thổ cuối cùng nầy xảy ra hiền dịu hơn, nhưng bi thảm hơn. Quân Chiêm đã dồn hết sức lực trong lần bắc tiến mùa thu năm ngoái, nên khả năng còn lại rất yếu ớt. Từng cánh quân tan rã. Vua Bà Tranh và một số thuộc tướng bị bắt. Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vỗ an dân chúng và cho quân đội bảo vệ các đền tháp. Tháp Poklong Garai và tháp Po Rome không héo một ngọn cỏ, như chưa từng qua một cuộc chiến tranh. Nếu hai vị tiên vương nầy có về chứng kiến, họ chỉ thấy vua Bà Tranh được mời về Phú Xuân. Ông được an trí trên núi Hương Uyển (Ngọc Trản). Bình yên, nhưng ngậm ngùi. Mùa xuân năm 1693 là thời điểm hoàn toàn chấm dứt vương quyền Chăm Pa.

      Phần còn lại cuối cùng Panduranga của Chiêm Thành đã mất. Nó trở thành vùng độn giữa Cam Ranh và Bà Rịa của Đàng Trong. Chúa Nguyễn Phúc Chu đổi tên vùng nầy thành trấn Thuận Thành (nay là Ninh Thuận và Bình Thuận) và giao cho chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh trấn thủ. Nguyễn Hữu Cảnh có tài, nhưng tình hình trở nên bất an khi tinh thần dân tộc của người Chàm được đốt lên. Có những cuộc chiến nhỏ xảy ra đã làm triều đình chúa Nguyễn sợ rằng sẽ ảnh hưởng tới vùng đất Chân Lạp cũng nhiều đa đoan ở đó. Tháng 11 năm 1694 chúa Nguyễn Phúc Chu quyết định cho Thuận Thành trấn thành phiên thuộc để làm dịu tình hình. Ông thay tướng Nguyễn Hữu Cảnh bằng một vương thân Chiêm Thành, và cho làm phiên vương. Đó là Kế Bà Tử, em vua Bà Tranh. Hai hình thức khác nhau, nhưng thực sự Panduranga đã mất. Năm 1697 chúa Nguyễn Phúc Chu thu hẹp trấn tự trị nầy lại để dễ kiểm soát. Hai huyện An Phước và Hòa Đa ở phía tây đã được lập thành phủ Bình Thuận. Trấn Thuận Thành chỉ còn lại vùng ven biển từ Phan Rang đến Phan Rí. (không thấy sử nhà Nguyễn nói Thuận Thành tự trị kéo dài bao lâu, chỉ biết đến năm 1744 dưới đời chúa thứ tám Nguyễn Phúc Khoát gộp Thuận Thành trấn và phủ Bỉnh Thuận thành dinh Bình Thuận. Nó giống như mọi dinh khác, điều nầy có nghĩa không còn tự trị nữa. Tuy nhiên, theo một trang của Wikipedia, Thuận Thành tự trị kéo dài tới 8 đời vua và chấm dứt vào năm 1832 dưới thời vua Minh Mạng. Xin được điều chỉnh, nếu về sau những chỉ cứ của trang mạng nầy là đúng).

      Sau Khi có trấn Thuận Thành và phủ Bình Thuận thì vùng tự trị Nam Bàn cũng thay đổi. Cư dân ở đây phần đông là người Jarai, Ê Đê. Họ sống âm thầm và không cương cường như người Chăm, nên dễ dàng lệ thuộc vào một sức mạnh gần họ. Từ thập niên 90 (1690) nầy họ có khuynh hướng bỏ văn hóa và tôn giáo mà người Chàm đã ảnh hưởng lên họ. Họ trở về với văn hóa thờ thần lửa và thần nước thay vì Bà La Môn hoặc Hồi Giáo. Họ sống thu hẹp nhưng rải rác trên rừng nguyên sinh mênh mông (nay là vùng Tây Nguyên). Họ không chia ranh giới rạch ròi với người Việt, nhưng chịu ảnh hưởng của người Việt nhiều hơn. Từ Phú Yên đã có những đường xuyên sơn đến Buôn Đôn đến Cheo Reo để đổi chác hoặc buôn bán. Họ nói được tiếng Việt, nhưng không bị bắt buộc tham gia vào chiến tranh với Chiêm Thành và Chân Lạp trước mặt.

Bờ Trịnh Nguyễn can qua đã dứt
Không chiến chinh mà biệt hai nơi
Sông Gianh chia cắt trời nam bắc
Hai nửa giang sơn cách vợi vời

Nếu Lê – Trịnh rộn ràng phố Hiến
Thì trời nam họ Nguyễn vươn xa
Nạp dung hai kẻ bồ thần mới
Mở rộng non sông mở nước nhà

Sông Soài Rạp ai về Đông Phố
Vàm Cỏ kia ai đến Mỹ Tho
Ba ngàn quân lính lưu vong ấy
Rừng nước phương nam những hẹn hò

Rừng rạch ấy sớm cho hương đất
Đổi cuộc nầy lắm kẻ hy sinh
Thiên nhiên độc thú theo khai phá
Người Việt tiên phong đã bỏ mình

Còn một nỗi truân chuyên sinh tử
Giá hoang vu bên giá chủ quyền
Rạch dày sông rộng rừng vô chủ
Khi trổ hoa màu đất hóa thiêng

Nào Phúc Tần, Phúc Trăn chúa Nguyễn
Nào Ông Đài, Ông Nộn, Ông Thu
Việt Chân hai xứ thành thù địch
Miền đất hoang vu bỗng khói mù

Từ thu trước thu sau mấy nhịp
Từ Kim Long, La Bích, Oudong
Phú Xuân dinh mới thành dinh cũ
Chân Việt bên nhau vẫn bất đồng

Những hò hẹn Oudong còn đó
Mà năm nao biến loạn Phan Rang
Ba mươi năm lẻ không chinh chiến
Tiếng trống xua quân bỗng rộn ràng

Vua Chiêm Thành Bà Tranh khởi chiến
Vượt sông Dinh chiếm tháp Garai
Bên bờ sông cái chiều thu cuối
Chiêm Việt tranh nhau ngọn tháp đài

Mất đồi tháp rút về Đầm Nại
Ngăn quân Chiêm mà lại không thành
Việt quân phải bỏ rừng Núi Chúa
Bỏ cả Diên thành, bỏ Cam Ranh

Tưởng sẽ trả nhà Chiêm đất tháp
Nào hay đâu chúa Nguyễn đã hay
Sa Phù tuổi trẻ người năm trước
Bình được quân Chiêm trận tháp này

Không dừng lại ở vùng tái chiếm
Tiến Phan Rang, Phan Rí thủ đô
Nước non đâu nữa hồn văn vật
Đất tháp còn đâu vận cơ đồ

Trấn Thuận Thành từ đây được lập
Vua Bà Tranh biền biệt nơi nao
Phú Xuân ai biết đồi Hương Uyển
Chắc biết vua Chiêm ở chốn nào!


<<  |  >>