Skip to content

Chương 21/7

LÊ TRUNG HƯNG
(1592 -1789)

Đoạn bảy

NỖI ĐAU ĐÀNG NGOÀI

 

      Vua Lê Gia Tông theo chúa Trịnh Tạc trở về sau chiến tranh. Nhà vua đón tết nguyên đán qúy sửu 1673 với tâm hồn của một thiếu nhi. Lúc nầy Trịnh Tạc đã 67 tuổi, ông xin nhà vua phong cho thế tử Trịnh Căn tước Định Nam vương và chức phó vương. Dĩ nhiên là vua Lê Gia Tông thuận cho. Trong lòng vị vua vừa tròn 12 tuổi nầy, Trịnh Tạc là một quốc phụ đáng kính. Một ông vua “ngoan hiền” như vậy mà rất tiếc chúa Trịnh Tạc không giữ được. Chỉ sau một cơn sốt bất thường vào tháng 4 năm 1675, nhà vua 14 tuổi nầy qua đời. Đứa bé còn nằm trong bụng mẹ ngày xưa, khi vua cha Thần Tông băng hà, được đưa lên làm vua. Đó là hoàng tử Lê Duy Hiệp, nay đà 12 tuổi, tức vua Lê Hy Tông.

      Lúc nầy quân của Mạc Kính Vũ và chúa Bầu Vũ Công Tuấn hoạt động trở lại ở vùng Cao Bằng Tuyên Quang. Hai lực lượng Mạc – Vũ vẫn riêng lẻ, nhưng đều được sự ủng hộ của Ngô Tam Quế ở Vân Nam. Ngô lợi dụng họ để chống nhà Thanh. Họ lợi dụng Ngô để cát cứ vùng biên giới chống lại Lê – Trịnh. Tình hình như thế kéo dài đến khi Khang Hy quyết tiêu diệt quân Tam Phiên của Ngô Tam Quế vào năm 1677. Đó là lúc Trịnh Tạc thuận tiện cất quân đi tiểu trừ hai cát cứ biên cương nầy. Chỉ trong vòng nửa tháng 8, thế tử Trịnh Căn cùng hai thuộc hạ Đinh Văn Tả và Lê Thì Hiến đã làm xong. Vũ Công Tuấn rút quân chạy sang Vân Nam. Riêng quân họ Mạc bị tiêu diệt gần hết, Mạc Kính Vũ chỉ dẫn được chừng hơn 100 tàn quân chạy qua biên giới. Không biết số phận của vị vua họ Mạc sẽ ra sao bên đất Tàu, nhưng mùa thu năm 1677 nầy là thời điểm chấm dứt hẳn hậu triều nhà Mạc. Nó kéo dài trong nỗi truân chuyên lưu lạc 85 năm kể từ lúc vua Mạc Mậu Hợp bị Trịnh Tùng bắt và giết đi năm 1592. Không biết trong lúc tận tuyệt nầy, Mạc Kính Vũ có chợt nhớ đến lời nguyền của Đoan Mục hoàng thái hậu nhà Lê hay không. Lời nguyền ở tây cung trong một ngày đông năm 1526 cách nay đã hơn 150 năm: “Mạc Đăng Dung là kẻ bề tôi, manh tâm cướp ngôi, lại giết mẹ con ta, ngày sau con cháu nó cũng lại bị như thế.”.

      Diệt được hậu kỳ nhà Mạc, nhưng chúa Bầu Vũ Công Tuấn lại sinh một chuyện khác. Vũ Công Tuấn chạy qua Vân Nam, mượn sức quân Tàu khuấy rối dọc biên giới. Lần nầy có triều đình nhà Thanh đứng sau lưng, nên biên cương rối loạn đến năm 1682 khi Trịnh Tạc chết vẫn chưa yên. Trịnh Căn lên thay cha. Vị chúa 49 tuổi nầy cũng là vị chúa tài ba, nhưng không giải quyết được tình hình ở đó. Nó càng lúc càng tồi tệ. Các quan lại Vân Nam nhà Thanh không giống như Ngô Tam Quế. Họ không cần lá bài Vũ Công Tuấn, nên không để đất biên giới cho họ Vũ sống. Chính quyền nhà Thanh đưa quân tràn qua khắp 3 châu Thủy Vĩ, Vị Xuyên và Bảo Lạc có chung biên giới với Vân Nam. Một cuộc sát nhập ba châu nầy vào đất Tàu theo cách giang hồ. Quân Tàu đông như một ổ kiến lửa làm quân Việt phải lui binh. Chúa Trịnh Căn chỉ có khả năng đưa những người có tài biện luận qua Vân Nam để phân lý lẽ, nhưng không thành công. Họ là Lê Huyến, Đặng Đức Nhuận, Trần Thọ phải trở về trong nỗi đau của kẻ yếu.  Đại Việt mất 3 châu tây bắc, đó là tháng 5 năm 1688. Dĩ nhiên vua Lê Hy Tông và chúa Trịnh Căn cũng đau lòng nhược tiểu, nhưng không làm gì được. Chính quyền Đàng Ngoài chỉ làm một việc vớt vát là truy giết Vũ Công Tuấn. Lúc này Tuấn đã bị Tàu bỏ rơi nên bị quân Trịnh bắt và xử chết vào năm sau. Năm 1689 là năm chính thức mất hẳn dòng dõi chúa Bầu đã từng tự trị ở Đại Đồng hơn 150 năm, từ năm 1525.

      Chưa hết. Nỗi đau biên cương còn lặp lại một lần nữa vào tháng 10 năm 1689. Lần nầy không ở phía tây mà là phía đông, châu Lục Bình thuộc Lạng Sơn. Nếu ở đàng tây bị thua vì sức mạnh, thì ở đàng đông bị thua vì lừa dối. Ở châu Lục Bình có một vùng đất gọi là Na Oa rất màu mỡ, mà chính quyền các đời nhà Tàu luôn luôn thèm thuồng. Đã nhiều lần tranh tụng, nhưng nhìn đồi núi phân cách không thể nào nói Na Oa thuộc về đất Tàu. Đến tháng 10 năm 1689 thêm một lần tranh tụng nữa. Lần nầy hai bên bằng lòng đào dưới lòng đất tìm di vật để xác định biên giới. Rất tiếc là khắp cả vùng đất Na Oa đều có những đồ đồng sắt lâu đời chỉ có của người Tàu. Vì thế, đất nầy được xác định không phải của người Việt, biên cương lại phải dời về phía nam. Lúc nầy quan hội khám của nhà Lê mới biết rằng mình bị lừa. Những thứ đồng sắt vô dụng trước mặt họ đã được ai đó chôn dấu dưới lòng đất Na Oa. Mất Na Oa chỉ biết thêm một điều: Sự lừa dối chỉ đi đôi với sức mạnh mới thành công.

      Nỗi đau nào cũng rát ruột, nhưng dưới thời Lê Hy Tông – Trịnh Căn, đất nước tương đối bình yên. Họ không tranh hơn thua với Đàng Trong. Nhà vua chú trọng đến văn học và kinh tế, và được chúa Trịnh Căn đồng thuận. Về văn học: Chấn chỉnh lại khoa thi hương, thi hội theo đúng thời Hồng Đức mà từ lâu đã bị lệch lạc. Ngay những vị quan văn đã có học vị tiến sĩ cũng được khảo sát lại một hoặc nhiều phần. Nguyễn Công Đống, Vũ Thạnh, Hà Tông Mộc, Nguyễn Hành đã đậu trong khóa thi khảo năm 1693 là một ví dụ. Về kinh tế: Việc phát triển phố Hiến là nổi bật nhất. Ở đây đã mọc lên nhiều thương điếm của người Hà Lan, người Anh, người Nhật và nhiều nhất vẫn là người Tàu. Từ Phố Hiến theo sông Luộc về Hải Dương, theo Châu Giang về Phủ Lý, theo sông Hồng về Đông Kinh. Tuyến đường nào cũng đầy hàng hóa qua lại, nhưng nhộn nhịp hơn cả vẫn là tuyến đường từ Phố Hiến về thủ đô. Bất cứ nguồn hàng nào cũng ưu tiên về đây để cung cấp cho phủ Phụng Thiên, sau đó lên mạn ngược sông Hồng hoặc rẽ về sông Đuống. Kinh đô Đông Kinh và Phố Hiến ngày đêm tấp nập người qua lại ở thời vua Lê Hy Tông 1675 – 1705. Nó là giai đoạn đầu của thời phố Hiến huy hoàng kéo dài gần trăm năm. “Nhất kinh kỳ, nhì phố Hiến” là câu nói dân gian phát xuất trong lúc nầy.

      Từ việc phát triển phố Hiến kéo theo việc truyền đạo Thiên Chúa càng nhiều hơn, và triều đình nghiêm cấm cũng nhiều hơn. Đây là một vấn nạn thời bấy giờ, mà chỉ có sự hiểu biết và tự kiềm chế mới tránh khỏi tai hoạ. Rất may, cũng như thời chúa Trịnh Tạc và chúa Trịnh Tráng trước đó, không có những điều quá tệ xảy ra. Đaọ vẫn bị cấm, và đạo vẫn được truyền. Ở một cách nhìn nào đó, nó cũng giống như cấm dân Tàu để tóc đuôi sam sống trên đất Đại Việt. Lệnh vẫn cấm, nhưng những chỗ buôn bán sầm uất đều có người bím tóc, và nhà thờ truyền đạo. Cả vua Lê Hy Tông và chúa Trịnh Căn đều khôn khéo dung hòa các thế lực để cố đưa đất nước đi lên. Thời vua Lê Hy Tông khá bình ổn trong 3 thập niên kể từ năm 1675. Đến năm 1705 khi thái tử Lê Duy Đường đã 26 tuổi, nhà vua quyết định nhường ngôi và lên làm thái thượng hoàng. Vị vua mới nầy tức vua Lê Dụ Tông. Đây là lần truyền thừa của vua Lê không hề bị chi phối của chúa Trịnh trong thời Lê trung hưng.

      Nếu vua Lê Hy Tông suôn sẻ như vậy, thì chúa Trịnh Căn lại gặp không may trong việc truyền thừa thế tử. Trịnh Vịnh, Trịnh Bính là con trai trưởng và là cháu đích tôn của chúa Trịnh Căn đều được lần lượt truyền ngôi thế tử, nhưng đều lần lượt chết lúc chúa Trịnh Căn còn sống. Năm 1703 khi chúa Trịnh Căn 70 tuổi thì ông lập đứa chắt đích tôn là Trịnh Cương 17 tuổi lên làm thế tử. Sáu năm sau, năm 1709, chúa Trịnh Căn qua đời, và Đàng Ngoài dưới sự coi sóc của vua Lê Dụ Tông và chúa Trịnh Cương. Thời gian đã bước qua thế kỷ 18.

Chúa Trịnh Tạc thu quân về bắc
Chỉ đôi năm vua lại băng hà
Nhà vua còn nhỏ chưa thê tử
Truyền ngôi em út để theo cha

Lê Duy Hiệp vừa tròn mười một
Tức Hy Tông lò Trịnh mà ra
Mười năm dư lẻ từ phủ chúa
Nên Trịnh nên Lê vẫn một nhà

Đã chấm dứt bắc nam xâu xé
Lại Đại Đồng gây rối biên cương
Tròn hơn thế kỷ không thuần nhất
Hòa chiến phương nao khó tỏ tường

Vũ Công Tuấn liên minh nhà Mạc
Vua lưu vong hậu Mạc thuở nào
Nhờ quân Tam Quế bên biên bắc
Đem gió giông về khéo biết bao!

Rồi một sớm biên cương cũng ổn
Lúc Khang Hi ép được Tam Phiên
Trịnh vương Trịnh Tạc đưa quân tiến
Bình được Cao – Tuyên khắp một miền

Triều hậu Mạc từ đây chấm dứt
Non trăm năm từ lúc Mạc Toàn
Ai người còn nhớ thời Quang – Thống
Chắc nhớ Đoan Từ Trịnh Thị Loan

Diệt được Mạc nhưng còn họ Vũ
Mượn nhà Thanh gây rối tây biên
Đến khi Trịnh Tạc không còn nữa
Đại Việt năm nao mất thổ điền

Mất Thủy Vĩ, Vị Xuyên, Bảo Lạc (1688)
Mùa hạ nào quân Việt lui binh
Biên cương mất đất, nào không giữ
Dấu ấn ngàn năm cứ bất bình

Mất tây bắc đã hờn tây bắc
Mà phương đông nào đã được yên
Na Oa xứ Lạng tranh nhau lấy (1689)
Lừa đảo đi đôi với bá quyền

Nỗi đau ấy oan khiên non nước
Để Hy Tông khôn lớn dần dần
Hiểu ra thế nước là như thế
Vua xót trong lòng bể thế nhân

Cùng chúa Trịnh, nhà vua chấn chỉnh
Hẹn mai sau thù lấy lại mà
Luyện rèn quan lại thành hữu dụng
Tầm nhìn vua trẻ quả thật xa

Vun phố Hiến thêm hàng thương điếm
Dải sông Hồng, sông Luộc, Châu giang
Thuyền đi xuôi ngược về muôn xứ
Phố Hiến – Đông Kinh sóng rộn ràng

Việc truyền đạo can qua dâu biển
Nhưng cơn giông rồi cũng mau qua
Xét trong Lê – Trịnh từ lâu trước
Buổi ấy non sông được thái hòa


<<  |  >>