Skip to content

Chương 21/6

LÊ TRUNG HƯNG
(1592 – 1789)

Đoạn sáu

ĐÔI BỜ SÔNG GIANH

 

      Sau khi quân Nguyễn trở về phía nam sông Gianh mùa đông năm 1660, thì mùa đông năm sau, tân sửu 1661, lại có chiến tranh ở vùng địa đầu nầy. Lần nầy đích thân Trịnh Tạc đưa vua Lê Thần Tông đi theo. Hành dinh đóng taị Phù Lộ bên bờ bắc. Trịnh Tạc đem con người bằng xương bằng thịt của vua Lê để dụ phục nhà Nguyễn, nhưng không thành công. Trước mặt ngài, bên kia sông, thần dân của ngài vẫn giết nhau, tính ra đã là lần thứ sáu. Không biết bao nhiêu người sẽ chết thêm? Nhà vua cứ mãi băn khoăn.

      Đó là lòng thương xót của một vị quân vương chưa hề cầm kiếm. Phủ Trịnh thực tế hơn. Xuất binh là cầu thắng dù có người phải hy sinh. Lần chinh nam nầy cũng thế, tướng Trịnh gồm có Trịnh Tạc, Đào Quang Nhiêu, Ngô Thì Hiến và Hoàng Nghĩa Giao. Đối lại tướng Nguyễn chỉ có Nguyễn Hữu Dật và Trương Văn Vân. So ra hàng tướng lãnh quân Trịnh trội hẳn, nhưng thời tiết khác thường năm ấy đã giúp cho Đàng Trong. Chiến cuộc đi ngang qua một nửa mùa đông và một nửa mùa xuân với những cơn ho thắt ruột của lính Đàng Ngoài. Chiến trận không thể nào diễn ra theo ý muốn Trịnh Tạc. Cái tết lạnh giá nhâm dần 1662 đã chứng kiến những cái chết vì không đủ thuốc men của quân Trịnh xảy ra hàng loạt. Tình hình như thể bị trời hại, buộc đến giữa tháng 2 chúa Trịnh Tạc phải rút quân về. Vua Lê Thần Tông hồi loan với những cơn bịnh từ chiến trường. Về đến kinh sư, nhà vua trở nên yếu đi và qua đời vào 6 tháng sau đó ở tuổi 56. Ông là vị vua duy nhất trong lịch sử Việt Nam có hai lần làm vua, và có 4 người con đều làm vua. Ngoài Lê Duy Hựu tức vua Chân Tông đã chết, vua Thần Tông còn lại 2 người con trai nhỏ. Đó là Lê Duy Vũ 8 tuổi, và Lê Duy Cối 2 tuổi. Sau hai hoàng tử nầy còn có một đứa con sắp chào đời chưa biết là trai hay là gái.

      Qua hai lần làm vua có một cái chết êm đềm, âu đó cũng là cái phúc của kẻ làm vì. Trịnh Tạc tống táng vua Lê Thần Tông đúng nghi lễ của một quân vương, và lập Lê Duy Vũ lên ngôi tức vua Lê Huyền Tông. Bên cạnh việc nắm giữ toàn bộ triều đình, chúa Trịnh Tạc đem hoàng tử Lê Duy Cối về nuôi như một đứa con nuôi. Lúc này chuyện đối ngoại với người phương tây gợn lên những cơn sóng nhỏ. Qua những thuyền buôn đã có những đợt truyền đạo Thiên Chúa. Những giáo sĩ đã nói tới vị chủ tể sinh ra vũ trụ, và sẽ được bình an phúc lạc khi tin có ngài. Trước mắt, những người tin theo được giúp đỡ về vật chất, và đi lễ. Họ dần dần bỏ đi việc thờ cúng ông bà. Văn hóa lâu đời nầy không được tôn trọng là một trong những nguyên nhân gây ra việc cấm truyền đạo Thiên Chúa. Chúa Trịnh Tạc đã ban hành lịnh cấm nầy, tuy nhiên lịnh vẫn không được áp dụng triệt để. Quân đội còn cần có súng. Có những giằng xé trong lòng những người nắm vận mệnh đất nước lúc bấy giờ. Không dễ gì bỏ đi một phong tục, nhưng cũng không dễ gì từ chối mua được một loại vũ khí tối tân. Đó là trở ngại trong việc mặn mà với người phương tây, nhưng ngoại giao phương bắc với Tàu thì lại thuận tiện. Mùa thu năm 1662 nhà Nam Minh đã hoàn toàn tan rã, nhưng vua Khang Hi nhà Thanh phải lo đối phó với loạn Tam Phiên của Ngô Tam Quế. Bên cạnh đó, quyền thần Ngạo Bái ở trong triều, và thế lực kháng Thanh của Trịnh Thành Công còn lại vẫn cần dẹp đi. Do những bận rộn nầy, mà Khang Hi không đụng tới nhà Lê. Hai triều Thanh – Lê có mối giao hảo bình thường.

      Nhờ rảnh tay trong việc đối ngoại, Trịnh Tạc có thời gian làm dày thêm quyền lực của mình. Tháng 3 năm 1664, họ Trịnh buộc vua Lê Huyền Tông ban một sắc chỉ mà ai đọc qua cũng thấy nhà chúa như đã ngang hàng với nhà vua: “…Huống chi Thượng sư Tây vương có huân lao to lớn với thiên hạ, công đức bao la như trời, lòng trung thấu tới vầng nhật, so với đời trước chưa từng có ai, xét trong sử xưa cũng chưa từng nghe thấy. Nếu không biểu dương cho thật rõ, sao xứng được với văn công thánh đức của Vương, thỏa lòng trông cậy của trẫm? Từ nay trở đi nên tôn bằng lễ, không xưng tên, không phải lạy. Khi vào chầu thì đặc cách giường gỗ bên tả ngự điện để tỏ ra điển lễ đặc biệt. Trẫm tuổi trẻ nối ngôi, tuy chưa biết hết ngọn nguồn lai lịch, song thường được nghe lời cố mệnh, không thể không tuyên dụ khắp thiên hạ, để biết công đức lớn của nhà Vương. Bọn các ngươi hãy kính theo!”. Từ lâu nhà Trịnh đã đoạt quyền nhà Lê, nhưng đây là lúc xác lập quyền vị ấy. Từ nay trong lúc thảo triều, các hàng quan lại văn võ lạy vua Lê có khác gì lạy chúa Trịnh ngồi ở bên trái nhà vua. Nếu nói Trịnh Tùng là người bắt đầu sang đoạt vương quyền nhà Lê, thì đứa cháu nội Trịnh Tạc là người bắt đầu công khai điều ấy. Hằng ngày chư quan vẫn chầu ở điện cần chánh, nhưng những sách lược quốc gia đều được bàn tính ở phủ chúa. Vua Lê Huyền Tông biết điều nầy, nhưng ông nào làm được chuyện gì. Đến tháng 8 năm 1664, ông còn chịu một sự sắp đặt nữa. Tây vương Trịnh Tạc gả đứa con gái thứ Trịnh Thị Ngọc Áng cho ông làm hoàng hậu. Vua và hoàng hậu còn quá nhỏ để nói tới việc vợ chồng hoặc việc nước. Ít năm sau ông lớn khôn hơn, nhưng ông đã thành người con rể ngoan hiền của chúa Trịnh Tạc. Ông có cuộc sống bình lặng, nhưng không kéo dài. Ông chết ở tuổi 17 vào mùa đông năm tân hợi 1671, khi chưa có con nối giòng.

      Tháng giêng năm 1672, đứa em kế Lê Duy Cối 11 tuổi được lên thay. Đó là vua Lê Gia Tông, và đó cũng là đứa bé 2 tuổi ngày xưa bị Trịnh Tạc bắt về nuôi dù nó còn mẹ. Từ lúc chưa biết nói ấy, Lê Duy Cối được Trịnh chánh phi Trịnh Thị Ngọc Lung coi như con đẻ. Cậu bé Cối yêu gia đình chúa Trịnh bằng tình cảm chứ không bằng sự mê hoặc. Trong năm đầu lên ngôi, nhà vua được Trịnh Tạc hộ giá đi theo đoàn quân đến chiến trường miền nam. Giống như vua cha, ông và chúa Trịnh Tạc chỉ ở bên bờ bắc sông Gianh để nâng cao tinh thần binh sĩ. Thế tử Trịnh Căn được gia phong phó đô tướng tổng chỉ huy chiến trường, với Lê Thì Hiến làm tướng quân giám chiến. Họ có hơn 5 vạn quân tràn qua sông Gianh, và tiến về Nhật Lệ vào một ngày giữa tháng 9 năm 1672.

     Để đối phó với cuộc chiến mùa thu nầy, chúa Nguyễn Phúc Tần cử người con thứ của mình là Nguyễn Phúc Hiệp tổng chỉ huy chiến trường, và tướng Nguyễn Hữu Dật làm phó tướng. Công tử Hiệp còn trẻ và chỉ tham gia một vài trận chiến trước đây, nên linh hồn cuộc chiến chính là lão tướng Nguyễn Hữu Dật. Ông điều quân từ Phú Xá, Động Hồi đến tăng viện quân Bố Chánh giữ lũy Trấn Ninh. Lũy phía bắc nầy do chưởng cơ Trương Phước Cang chỉ huy đương chống giữ bộ binh nhà Trịnh.  Quân Bao Vinh, Chợ Ngói vừa tiếp viện tới được tăng phái cho lũy Trường Dực, nơi đặt bộ tổng chỉ huy của công tử Nguyễn Phúc Hiệp. Đạo quân Quảng Bình do Nguyễn Hữu Dật trực tiếp điều động giữ lũy Sa Phù mặt biển. Nguyễn Hữu Cảnh, con trai ông cũng có mặt ở lũy nầy, và đương đối mặt với đội hải quân hùng hậu của quân Trịnh. Cả Sa Phù và Trấn Ninh đều chịu áp lực. Quân Trịnh từng đợt ồ ạt tấn công. Tuy nhiên, lão tướng Nguyễn Hữu Dật đã dày kinh nghiệm, ông điều quân kịp thời cản bước tiến quân Trịnh. Dù có quân đông hơn nhưng hết một mùa thu, phó đô tướng Trịnh Căn không giành được chiến thắng ở Nhật Lệ. Người ta tưởng mùa đông sẽ làm quân Trịnh mỏi mòn như các lần trước, nhưng lần nầy họ được tăng viện, và tiếp tục chiến đấu. Quân đồn trú ở nam bắc Nghệ An đều được gởi đến chiến trường. Chúa Trịnh Tạc quyết lập một chiến thắng trong mùa đông 1672 nầy.

      Và, ngày ấy đã đến. Với quân số tăng viện hùng hậu, chúa Trịnh Tạc quyết định tấn công vào nửa đêm đầu tháng 12 âm lịch. Thái bảo Lê Thì Hiến được lịnh tung cả đại quân về lũy Trấn Ninh. Phía nhà Nguyễn, chưởng cơ Trương Phúc Cang khó bề địch nổi với lượng quân gần như gấp đôi. Nếu bộ binh địch đánh bức lũy bắc nầy sẽ dễ dàng chiếm được lũy Trường Dực. Từ lũy Sa Phù phía đông, tướng Nguyễn Hữu Dật được tín hiệu khẩn cấp. Ông giao quyền chỉ huy lại đứa con trai Nguyễn Hữu Cảnh, lập tức mang quân tiếp cứu lũy bắc. Đoàn quân đi dưới những cơn se thắt của gió đêm, bỏ lại Nguyễn Hữu Cảnh đối đầu với Trịnh Căn đang khởi động tấn công. Máu Sa Phù đã đẫm trong đêm, nhưng tướng Nguyễn Hữu Dật đã kịp đến Trấn Ninh. Chưởng cơ Trương Phúc Cang đang kịch chiến với thái phó Lê Thì Hiến ở phía ngoài, trong khi vô số quân Trịnh đã tiến vào phía trong đường lũy. Vì lạ lẫm giữa hành lang trận đồ, quân Trịnh chưa kịp thủ thắng đã gặp quân tiếp viện Nguyễn Hữu Dật. Vị tướng nầy không cố đánh bật quân Trịnh ra ngoài như thường lệ. Ông ra lịnh tiêu diệt những toán đã vào phía trong, mà không cần ngăn quân Trịnh ở phía ngoài. Đây là một chiến thuật liều lĩnh xử dụng trong thế cấp bách mà rất thành công. Giữa đêm, quân Trịnh tiến vào phía trong như những chú cá con đi vào rọ. Dưới ánh sáng nhập nhòa của sao đêm quân Trịnh nằm chết la liệt. Khi Tây vương Trịnh Tạc ở bên kia sông Gianh biết điều nầy thì đã quá muộn. Ông ra lịnh Nguyễn Thì Hiến thu quân. Lũy Trấn Ninh không bị mất trong trường hợp nầy. Lúc ấy trời mới dợm sáng.

      Cứu được Trấn Ninh, Nguyễn Hữu Dật lo ngại nhìn về Sa Phù. Ông tin tưởng đứa con trai thứ tư của mình, nhưng nhìn về phía ấy vẫn không khỏi bất an. Cảnh vật chưa đủ sáng để thấy hình nét, ở đó chỉ có mờ mờ im lặng. Vượt qua sự lo lắng của cha, người thanh niên 22 tuổi Nguyễn Hữu Cảnh đã chứng tỏ mình là một tướng tài. Chưa thực sự tham chiến những trận đánh lớn, nhưng giỏi võ nghệ và đã từng học binh pháp nên Cảnh rất tự tin. Cảnh đã đẩy lui được quân Trịnh Căn nhờ cách điều quân, và tự thân mình xông pha tới trước. Tuy nhiên, máu đã chan hòa đổ ra tới những bờ cát ướt.  Khi mặt trời đã bỏ mặt biển dưới chân, người ta thấy từ Sa Phù đến Trấn Ninh là một cánh đồng xác chết. Ở một góc khuất trong lòng mỗi người, không còn ai muốn chiến tranh. Dù bên nầy hay bên kia đều thấy dưới những tia nắng lấp lánh là nỗi bi thương đồng chủng. Chính trong lúc nầy vị nguyên soái miền nam Nguyễn Phúc Hiệp nguyện rằng mình sẽ từ bỏ vương tước để nương thân cửa Phật. Ông chưa thành toàn việc xuất gia thì đã ngả bệnh. Riêng, chiến trường nam Bố Chính không còn tranh hùng nữa. Mưa lụt mùa đông đã về. Chúa Trịnh Tạc thu binh trong những ngày giá rét năm 1672. Đây là trận thứ 6 sang sông của quân Trịnh, cũng là trận thứ 7 của hai nhà Nam Bắc phân tranh dài nhất trong lịch sử . Sau 45 năm kể từ trận chiến đầu tiên 1627, cả hai nhà đều mệt mỏi. Họ huề nhau. Tuy nhiên, trên căn bản, nhà Nguyễn đã thắng. Nhà Nguyễn đã đi từ không đến có. Điều nầy có làm nhà Trịnh tái chiến nữa không? Chưa biết, nhưng từ cuối năm 1672 nầy, họ  công nhận sông Gianh là dòng chia cắt đôi bờ.

 

Chưa ai biết một mai thế cuộc
Mà đông sau Trịnh – Nguyễn gây hờn
Thần Tông được rước đi chinh chiến
Nỗi buồn nam bắc vọng từng cơn

Đất khổ nghiệp trăm năm Bố Chánh
Hẹn hò chi mà cứ binh đao
Trên đồi Phù Lộ quân vương tiếc
Nỗi khó lê dân quyện máu đào

Trịnh thắng thế nhưng dần thất thế
Ngọn đông phong đâu khéo đi về
Mang theo giá bấc mùa đông tiết
Chiến trường dầy dật kéo lê thê

Bỏ Bố Chính mùa xuân năm tới
Mang quân về vua lại ra đi
Mùa thu chưa hết Thần Tông mất
Truyền lại cho con tuổi ấu thì

Lê Duy Vũ chỉ tròn tám tuổi
Em Chân Tông miếu hiệu Huyền Tông
Chín năm ngồi vị Huyền Tông mất
Chắc sẽ an vui xứ non bồng

Bé hai tuổi ngày xưa Duy Cối
Tức Gia Tông nối nghiệp vua anh
Vốn coi nhà Trịnh như phụ mẫu
Không lý từ đâu gốc ngọn ngành

Chúa Trịnh Tạc đã thành quốc phụ
Từ Huyền Tông đã lệ “không xưng”
Huống chi đứa bé từng nuôi nấng
Lê Trịnh như nhau chỉ một từng

Sau ngưng chiến đã mười năm lẻ
Trịnh đưa Lê ấu chúa nam chinh
Đố ai mà biết nhà vua nhỏ
Có biết chi không suốt cuộc trình

Nam Bố Chính thình lình khói lửa
Quân Trịnh về từng vạn vạn quân
Sông Gianh u uẩn đôi bờ nước
Vương gió Hoành Sơn đến ngập ngừng

Trời đất tiếc mà cờ vẫn tiến
Người vẫn đi dẫu đất có buồn
Trận chiến trời nam không tránh khỏi
Quảng Bình trấn địa máu mưa tuôn

Đâu những lũy Trấn Ninh, Trường Dực
Đâu Trường Sa đâu lại Sa Phù
Nghiêng nghiêng mấy dãy sông về biển
Tranh chiến vô cùng tiếc thiên thu

Từ Phú Xá, Động Hồi quân tiến
Từ Bao Vinh, Cầu Ngói quân đi
Hạ tàn thu tận đà gian khó
Huống những đông phong buổi đông thì

Nguyễn đợi đông Trịnh cũng đợi đông
Cùng nhau đem máu vẽ tranh hồng
Ai tô huyết dụ lên thành lũy
Ai điểm sắc hồng bên bến sông

Nguyễn Phúc Hiệp nam phương tướng soái
Cùng Trịnh Căn một độ so tài
Linh hồn cuộc chiến hầu Chiêu Vũ
Máu chảy vô cùng ai xót ai

Máu đổ Sa Phù, đổ Trấn Ninh
Trôi theo sóng nước nước Thái Bình
Bốn lăm năm dứt ngày chinh chiến
Có được đôi bờ hết chiến chinh?


<<  |  >>