Skip to content

Chương 21/5

LÊ TRUNG HƯNG
(1592 – 1789)

Đoạn năm

ĐÀNG TRONG: BÌNH CHIÊM, CHỐNG TRỊNH, GIÚP CHÂN LẠP

 

      Tháng 2 năm 1648 thế tử Nguyễn Phúc Tần lên thay quyền cha, người ta thường gọi ông là chúa Hiền. Ông là con thứ hai, nhưng được lập làm thế tử từ nhỏ vì người anh cả Nguyễn Phúc Vũ đã chết. Ông được vua Lê Chân Tông gia phong chức tước. Trên danh nghĩa, Dũng Lễ hầu Nguyễn Phúc Tần được thăng tước Dương quận công, và trở thành tổng lưỡng trấn Thuận Hóa và Quảng Nam. Tháng 11 năm 1649 chúa Nguyễn Phúc Tần cho sứ ra đáp lễ nhân ngày thượng hoàng Lê Thần Tông trở lại ngôi vua. Vua Lê Chân Tông bất ngờ đột tử là lý do trở lại của vị thượng hoàng nầy. Trước đó ít lâu hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc đã đi tu, và vua Thần Tông (lần 2) có thêm những ái phi khác. Vui với thú vui thê thiếp, nhà vua giao hết mọi việc triều chính cho Thanh Đô vương Trịnh Tráng như cũ. Trịnh Tráng lúc này chưa thể tiến hành gây chiến tranh với Đàng Trong vì đang chuẩn bị đối phó với một tình thế phức tạp ở đất Tàu đang mang tới. Nhà Nam Minh của Chu Do Lang mạnh hơn lúc ban đầu nhờ vào các lực lượng Phản Thanh Phục Minh. Họ Chu củng cố lại Nam Kinh, viết chiếu chỉ phong Phó vương cho Trịnh Tráng và yêu cầu đưa quân yểm trợ chiến trường chống Thanh. Dĩ nhiên là Trịnh Tráng chẳng ham muốn gì chức vụ nầy, nhưng không thẳng thừng từ chối. Chúa Trịnh Tráng phải khôn khéo về ngoại giao với cả vua Thanh Thuận Trị đang thống lĩnh hầu hết nước Tàu, và quân Nam Minh đang có mặt ở các tỉnh phía nam. Giữa hai kẻ láng giềng nầy nghiêng bên nào cũng đều có hại, Trịnh Tráng liền tăng cường quân đội để tự bảo vệ.

      Những rắc rối như nhà Trịnh, Đàng Trong không gặp phải, nhưng năm 1651 lại có chiến tranh. Lúc nầy vua Chàm Po Rome đã lấy công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Khoa về làm vợ gần 20 năm. Thời gian ấy không đủ cho bà Ngọc Khoa cản nổi áp lực của thần dân và triều đình Chiêm Thành. Họ muốn đòi lại phần đất Phú Yên đã mất. Nhà vua vẫn nặng lòng với người thứ phi họ Nguyễn, nhưng giành lại đất của tổ tiên là điều thiên kinh địa nghĩa nên cuộc chiến đã xảy ra. Kết quả nhà vua và công nữ Ngọc Khoa đã chết trong lúc lâm trận, khi bà nguyện theo chồng ra chiến trường cố giữ gạch nối cuối cùng. Đó là một ngày đầy sương giá của mùa đông năm 1651 bên bờ bãi Môn. Cái chết của hai kẻ không muốn có chiến tranh nầy đã làm quân Chàm rút quân về.  Tưởng như bình yên, nhưng lòng âm ỉ của cuộc chiến đã làm mồi cho một chiến tranh lớn hơn  xảy ra vào hai năm sau. Tháng 6 năm 1653 vua Po Nraup (Bà Tấm), một người em của tiên hoàng Po Rome, được người Hà Lan giúp đỡ vũ khí, ông mang quân tái chiếm Phú Yên. Ông đã ồ ạt mang đại quân vượt qua núi Thạch Bi đã bị dời đến đèo Cả từ năm 1611. Với loại súng trường mới mua, họ đuổi quân nhà Nguyễn về bên kia sông Ea Drăng (Đà Rằng). Đó là lúc mùa lúa chiêm tháng 5 vừa thu hoạch.

      Lúc nầy quân nhà Nguyễn từ Qui Nhơn đã kịp đến. Sông Đà Rằng vô tình trở thành chiến tuyến, mà bên nầy luôn muốn vượt qua chiếm lấy bên kia. Nhưng, lòng háo hức của hai bên lâm chiến bị lòng sông quá rộng chận lại. Không hẹn mà cả hai cùng về thượng nguồn của nó. Đó là dòng sông Pa hẹp hơn, nhưng ngoằn ngoèo như một con rắn đang trườn mình qua những cánh đồng khô. Bây giờ thì hai bên có thể vượt sông để đánh nhau. Lúc này quân nhà Nguyễn mới biết, quân Chiêm Thành có cả súng trường liên thanh, khác với loại súng thô sơ mà mình đương mang theo. Dĩ nhiên là cuộc chiến không thể nào kéo dài. Quân Chiêm đã nhanh chóng tràn qua bờ bắc sông Pa. Họ vừa bắn vừa tiến nhanh không thể tưởng. Nếu lực tiến quân nầy kéo dài thì chỉ trong vòng ít ngày, quân Chiêm sẽ lấy hết đất Phú Yên trả về cho Kauthara như cũ. Rất tiếc điều đó không thực hiện được.

      Ba ngàn quân thiện chiến nhà Nguyễn do thống binh Hùng Lộc chỉ huy, đã được thủy vận từ cửa Eo (Thuận An) vào cửa biển Sông Cầu. Họ mang theo nhiều súng lớn mua được của người Bồ Đồ Nha. Những tiếng súng đại bác đã làm cuộc chiến xoay chiều. Quân Chiêm Thành chỉ nghe nói tới loại vũ khí nầy, không ngờ lại có mặt hôm nay. Cách nhau, nhìn nhau không rõ mà giết được tới mười mấy người cùng một lúc. Những cây súng trường liên thanh mà quân Chiêm tưởng là tân tiến quả thực không phải là đối thủ. Họ phải chạy lui về Nựu Sơn và núi Nhạn để phòng thủ.

      Hai đỉnh núi giữa cánh đồng ven biển nầy không bảo vệ được quân Chàm. Họ lui dần về sông Pa, và tiếp tục chạy về phương nam. Trước mặt họ là khu rừng mênh mông quen thuộc có dòng sông Đà Nông vắt qua.  Họ phải vượt qua nó và vượt luôn cả đoạn đường đèo vòi vọi mới mong tránh được đoàn quân Nguyễn đang đuổi theo phía sau. Suốt trong rừng ngàn cả một tuần trăng thì mới ra khỏi bìa rừng phía nam. Tháp tượng Po Inu Naga bên dòng sông Ya Trang đang hiện ra. Thủ phủ Kauthara đang đón đoàn chiến binh trở về. Tưởng bình yên, nhưng quân Đại Việt đã kịp đến. Nơi đây không còn thời huy hoàng của một Hoàn Vương ngàn năm trước. Bên những nhánh sông con lặng lờ, mọi thứ đã trở nên nghèo nàn. Những tiền đồn như những ụ đất dính ở một bên bờ ruộng không cản được đoàn quân binh Đại Việt. Vua Po Nraup kêu gọi toàn dân Kauthara chiến đấu. Không có cuộc chiến khốc liệt xảy ra, nhưng những cồn sông đã từ từ thấm máu. Lúc nầy đã sang tháng thứ hai kể từ lúc nhà vua Chiêm Thành cất quân đòi lại Phú Yên. Chừng ấy ngày tháng, họ đã dùng hết số đạn dược mua được. Những cây súng trường trở thành vô dụng, nên thủ phủ Kauthara (Nha Trang) đành bỏ ngỏ. Quân Chiêm chỉ còn lại giáo mác và cung tên nên lại tiếp tục thối lui. Một cuộc rượt đuổi giữa những khu rừng già trùng điệp phía nam dòng sông Ya Trang lại tiếp tục.

      Đây là vùng đất mà quân Đại Việt chưa từng bước chân tới. Không bao lâu họ lạc mất dấu chân Chàm. Họ không thấy dấu tích nào của đoàn quân bại trận để lại, mà thỉnh thoảng lại nghe được tiếng cọp gầm ở đâu đó. Họ phải dùng chút ánh nắng hiếm hoi để xác định phương hướng. Lâu lắm, những toán tiên phong mới thoát ra tới bìa rừng. Địa danh mà quân nhà Nguyễn vừa đi qua không biết người Chăm đặt tên gì, nhưng họ biết đang đến vùng đồng bằng sát biển. Họ thấy được nền trời, và thỉnh thoảng nghe được tiếng sóng biển. Những bước chân lần theo tiếng sóng. Phải chăng trước mặt là eo biển Cam Ranh họ đã từng nghe. Nếu đúng như thế, quân nhà Nguyễn chỉ mới đi qua 50 cây số từ lúc vượt qua sông Ya Trang. Sức người thật yếu đuối. Năm mươi cây số ấy đã chiếm gần 30 ngày.

      Tướng Hùng Lộc chỉnh đốn lại quân binh, kiểm soát đạn dược và lương thực. Ông tìm cách khẩn báo về Kim Long vì lo ngại sẽ đối đầu với lực lượng Chiêm Thành từ thủ đô Phan Rang đưa tới. Điều lo ngại của Hùng Lộc đến rất sớm. Lúc mới vừa đóng quân ở bìa rừng, quân Nguyễn đã bị tấn công. Rất may quân tiếp viện từ Kim Long đã có mặt. Chúa Nguyễn Phúc Tần đã nhận được tình hình từ lúc Hùng Lộc còn ở Nha Trang, ông lập tức gởi thuỷ quân vào vùng mới chiếm nầy. Chúa Hiền ra lịnh thường xuyên tuần tra vùng biển phía nam, và chính lực lượng nầy đã kịp tiếp ứng. Bên kia, vua Po Nraup không hề hay. Tưởng với một vạn quân từ Phan Rang kéo ra dễ dàng chiến thắng đạo quân Nguyễn bị lạc trong rừng, nhưng tình thế đã khác. Hải quân nhà Nguyễn ồ ạt tấn công. Chiến trường Cam Ranh còn nhanh hơn chiến trường Nha Trang. Quân Chiêm Thành bị đẩy lùi về phía nam. Vũ khí phương tây vẫn là yếu tố quan trọng quyết định. Hai bên đều có, nhưng lượng số và mức sát thương chênh lệch. Đến ngày thứ hai của chiến trường, quân Chiêm Thành không thể nào kháng cự nổi. Họ phải chạy dài bỏ lại những đồng đội bị thương tích.

      Hai bên lại một lần rượt đuổi. Lần nầy bộ binh nhà Nguyễn đã chiếm toàn vùng núi Chúa, và thủy quân đã nhanh chóng chiếm giữ vịnh Phan Rang. Nếu hai lực lượng thủy bộ nầy áp sát lại thì thủ đô cuối cùng của người Chiêm sẽ phải chịu một cuộc đồ sát, và phần lãnh thổ Panduranga còn lại sẽ rơi vào tay kẻ thù. Đứng trước tình hình ấy, vua Po Nraup cho người con trai là Xác Bà Ân mang hàng thư đến tướng Hùng Lộc ở núi Chúa. Theo đó sẽ nhường phần đất Kauthara còn lại, nghĩa là từ biên giới Phú Yên đến Cam Ranh, để đổi lấy hòa bình. Hùng Lộc không tự quyết định một điều trọng đại như thế, ông trình về triều đình Kim Long. Qua một tuần trăng sau mới có chiếu thư từ triều đình nhà Nguyễn. Theo đó, ranh giới nhượng địa không phải Cam Ranh mà là tới giữa dòng sông Cái Phan Rang. Điều nầy có nghĩa là toàn lãnh thổ Kauthara cọng với một phần của Panduranga bao gồm khu tháp Po Klong Garai bị mất.

      Vua Po Nraup phải bấm bụng chịu điều kiện nầy để đưa những con dân Chàm trong phần đất bị chiếm vào nam. Nhiều gia đình đã quang gánh theo nhà vua. Họ ra đi trong nỗi niềm mất nước. Tuy nhiên, khác với đoàn quân dân lê thê ấy cũng không ít người Chàm muốn ở lại. Họ chấp nhận một quê hương mang tên mới do chúa Nguyễn Phúc Tần đặt ra: dinh Thái Khang. Đây là dinh thứ năm sau Thuân Hóa, Quảng Nam, Phú Yên và Bố Chính (nam Bố Chính). Nó gồm phần đất từ ranh giới nam Phú Yên đến giữa lòng sông Cái Phan Rang, và được chia làm hai phủ. Phủ Thái Khang ở phía bắc, phủ Diên Ninh ở phía nam. Nha Trang nằm trong phủ Diên Ninh được chọn làm lỵ sở của dinh, và người đầu tiên trấn quản là vị tướng thắng trận, Hùng Lộc.  Lúc nầy trời đã sang thu, mùa thu năm 1653.

      Mười tám tháng sau khi bờ cõi mở rộng đến sông Cái Phan Rang, chúa Nguyễn Phúc Tần phải đối mặt với một cuộc chiến tranh khác.  Ở phía bắc. Tháng hai năm ất mùi 1655 Trịnh Tráng sai Khê quận công Trịnh Trượng và Phạm Tất Toàn đưa quân tràn qua vùng Nam Bố Chính. Điều nầy như một điều thường lệ để chỉ ra rằng miền đất phía nam sông Gianh vẫn là của nhà Lê. Tin nầy về tới Kim Long, chúa Nguyễn Phúc Tần nhận thấy tình hình biên cương sẽ giằng co mãi, nếu không đánh mạnh. Ông quyết định bắc tiến. Với 5 vạn bộ binh do tướng Nguyễn Hữu Dật tổng chỉ huy, chỉ trong 3 ngày tướng Dật đuổi quân Trịnh ra khỏi lãnh thổ nhà Nguyễn. Ông đưa quân vượt sông Gianh. Lúc này, 3 vạn quân của tướng Nguyễn Hữu Tiến theo đường thủy đổ bộ vào cửa Ròn. Liên quân hai tướng họ Nguyễn ồ ạt tiến về Hoành Sơn, nơi mà Trịnh Trượng và Phạm Tất Toàn đã rút quân về. Tại đây họ hợp với quân trấn phòng của Lê Hữu Đức để làm tuyến phòng thủ. Một cuộc chiến đẫm máu trên đèo Hoành Sơn xảy ra. Đây là lần đầu tiên chiến tranh trên đất bắc, và là trận chiến thứ 5 của hai đàng. Từng đơn vị nhỏ của mỗi bên giành nhau từng đoạn đường đèo quanh co tưởng như đứng trên đầu mặt biển. Dù là trên đất địch, nhưng thổ nhưỡng ở đây gần gũi với quân lính phương nam hơn là quân lính phương bắc. Yếu tố nầy đã giúp không ít cho quân đội Kim Long. Bên cạnh đó với tài điều quân của hai kiện tướng họ Nguyễn, quân Đàng Trong đã buộc quân Đàng Ngoài phải bỏ tuyến phòng thủ vắt ngang nầy.

      Dù đã cuối tháng hai, cái lạnh căm căm vẫn miệt mài trên đỉnh Hoành Sơn. Tướng Nguyễn Hữu Dật ra lịnh tiếp tục bắc tiến để tránh những cơn gió buốt. Lúc này Thanh Đô vương Trịnh Tráng ở Đông Kinh đã biết rõ tình hình. Nhà chúa tăng cường quân số cho Khê quận công Trịnh Trượng, và ra lịnh tái chiếm vùng đã mất. Trịnh Trượng có binh lực gần như gấp đôi, nhưng tình hình càng lúc càng xấu đi. Chiến trường Hà Trung, Đại Nại, Kỳ La, Đan Nhai, Nam Giới nằm giữa bắc Hoành Sơn và nam sông Lam đã làm cho quân Trịnh quá nhiều thương vong. Giữa tháng 9 năm ất mùi 1655, quân Trịnh bỏ ngũ hàng loạt. Đó là lúc tướng Nguyễn Hữu Dật đánh một trận quyết định ở thành Lạc Xuyên, gần bờ nam sông Lam. Nó không phải là thành lớn, nhưng trở thành chốt phòng thủ quan trọng khi quân nhà Nguyễn muốn áp sát tới con sông nầy. Quận công Trịnh Trượng đã dùng hết số quân cơ hữu của thành và lực lượng toàn vùng nam Nghệ An, nhưng thành vẫn bị mất. Từ Hà Trung, Đại Nại quân Nguyễn Hữu Dật tiến ra. Từ Kỳ La, Đan Nhai, Nam Giới, Nguyễn Hữu Tiến tiến tới. Một cuộc đẫm máu thứ hai sau Hoành Sơn lại tiếp diễn. Quận công Trịnh Trượng và các thuộc tướng phải bỏ Lạc Xuyên chạy về Bân Xá dẫn tàn quân qua sông Lam. Trong tháng 9 năm 1655 nầy, 7 huyện Kỳ Hoa, Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hương Sơn, Thanh Chương không còn một bóng quân Trịnh. Chúa Nguyễn Phúc Tần đích thân ra thị sát, và tăng cường quân số để bảo vệ vùng đất mới chiếm được.

      Tuy nhiên, chiến tranh không dừng lại ở đó. Từ Đông Kinh, Trịnh Tráng cách chức Trịnh Trượng và gởi thế tử Trịnh Tạc đến chiến trường, có tướng Đào Quang Nhiêu tham tá. Trịnh Tạc lúc nầy đã 49 tuổi, là người già dặn và mưu lược. Ông đã từng khôn khéo ép hai người em Trịnh Lịch và Trịnh Sầm đến khởi loạn để giết đi, và cũng là chiến tướng ở Cao Bằng trong chiến tranh Trịnh – Mạc. Khi đại quân của Trịnh Tạc mới tới kẻ Vang (Vinh) ở bờ bắc sông Lam, thì quân nhà Nguyễn bỏ Lạc Xuyên rút về Thạch Hà. Trịnh Tạc ngờ rằng có nghi binh nên không tiến quân sang sông. Hai bên giữ thế im lặng suốt một mùa đông 1655. Đến mùa xuân năm bính thân 1656, bất thần Trịnh Tạc được lịnh chuyển tới Cao Bằng vì Mạc Kính Vũ đương khởi loạn trở lại ở đó. Ở Nghệ An, Đào Quang Nhiêu lên thay, và chiến trường được khởi động khi những cơn gió đầu tháng ba báo hiệu đã hết mùa đông. Tướng họ Đào cũng nghi ngờ về sự rút quân của Nguyễn Hữu Dật như Trịnh Tạc, nhưng ông phải ra quân. Ông chỉ là một tướng quân, khác với cái thế thế tử của Trịnh Tạc. Ông không thể chần chừ quá lâu. Họ Đào ra quân rất cẩn thận, nhưng chiến trường Mẫn Tường và Bình Lãng ở chân núi Hồng Lĩnh đã đưa quân Trịnh đến thất bại nặng nề.

      Đào Quang Nhiêu rút tàn quân trở lại bắc sông Lam về thủ phủ Nghệ An. Ông dâng biểu về triều đình nhận tội và xin binh cứu viện. Trịnh Tráng tha tội Đào Quang Nhiêu, nhưng rút Nhiêu xuống làm phó tướng trở lại. Người con út của Trịnh Tráng là Trịnh Toàn từ Đông Kinh đến thay. Toàn là em khác mẹ với Tạc, có tài cầm quân và tận tụy với triều đình. Ông chỉnh đốn lại quân ngũ, và tháng 9 năm 1656 dẫn quân vượt sông Lam. Ông tiến quân dưới bầu trời đầy mây đen như sẳn sàng trút nước. Trong lúc quân Nguyễn không ngờ, ba vạn quân Trịnh tràn qua Mẫn Tường, Bình Lãng, đánh xuống Thiên Lộc, và chiếm lại miền bắc Thạch Hà. Chiến trận tại đồn Đại Nại giữa cơn mưa tầm tã mà quân Trịnh vẫn tiếp tục tấn công. Cái lì lợm của họ đã thắng, và quân Nguyễn phải bỏ lại cơ ngơi rút về bờ nam cửa Nam Giới (cửa Sót). Từ đầu năm 1657 chiến trường Trịnh Nguyễn ở hai bên bờ sông Rào Cái đổ ra cửa biển Nam Giới liên tiếp xảy ra. Hai bên hầu như bất phân thắng bại mà một sự chểnh mảng nhỏ cũng dễ gây nên thất trận. Trịnh Toàn như một chú lính tận tụy, ông thường xuyên có mặt với quân lính. Ông không kịp về thọ tang cha (Trịnh Tráng chết ngày 27 tháng 5 năm 1657 ở tuổi 80) khi chiến trường trở nên khốc liệt. Quân Trịnh tiếp tục thắng thế. Trận chiến Mai Phụ suốt trong 10 ngày cuối tháng 5 năm 1657, quân Nguyễn đã để lại vô số tử vong khi cố tràn qua sông. Trận Mai Phụ là một chiến tích, quân Trịnh toàn thắng.

      Sau chiến thắng nầy, mọi người đều tín phục Trịnh Toàn kể cả người anh Tây vương Trịnh Tạc đang là chúa Trịnh ở Đông Kinh. Rất tiếc, tín phục và hoài nghi lại đi đôi. Sợ người em út Trịnh Toàn gây thanh thế ở Nghệ An, Trịnh Tạc gởi con trai trưởng là Trịnh Căn đến chiến trường để giám sát. Dĩ nhiên trên danh nghĩa là phù trợ. Chỉ ít ngày sau đó, Toàn bị gọi về kinh thành. Tạc chỉ trách em sao không lo thu xếp để kịp về thọ tang cha, và bảo em hãy nghỉ ngơi dưỡng sức. Sự nghỉ ngơi nầy càng lúc càng nghẹt thở khi Toàn nghe rằng có những đại quan báo cáo mình mưu phản. Họ nói đã tìm thấy những phe cánh của Toàn khi làm tướng ngoài mặt trận. Trịnh Toàn vẫn không nghĩ đây là chủ ý của người anh mình, nhưng ông không có cơ hội giải thích. Ông bị giam vào ngục và chết âm thầm như nhiều công thần huynh đệ từ xưa. Nó không khác với cái chết của Nguyễn Phúc Anh ở Đàng Trong trước đây bao nhiêu. Trong lúc Trịnh Toàn bị giam, tháng 6 năm 1657, quân Nguyễn tái chiếm vùng đất từ Mai Phụ (sông Rào Cái) ra đến bờ nam sông Lam. Đây là thất bại lớn của chúa Trịnh Tạc, nhưng điều nầy làm ông ta quyết giành lại chiến thắng ở chiến trường. Ý muốn nầy được thôi thúc bởi lòng tự tôn của một vị tân chúa, và cũng để khỏa lấp mặc cảm tội lỗi giết đứa em trai vừa trải qua. Ông phong thế tử Trịnh Căn làm thái phó thống lĩnh chư quân, và đích thân mình thị sát mặt trận trong cuộc tái chiếm nầy. Trịnh Căn cùng các tướng Đào Quang Nhiêu, Hoàng Nghĩa Giao, Lê Thì Hiến, Đặng Thế Công, Lê Sĩ Triệt, Lê Sĩ Hậu…được lịnh bằng bất cứ mọi giá phải lấy lại 7 huyện đã mất.

       Giống với quyết tâm của Tây vương Trịnh Tạc, chúa Nguyễn Phúc Tần quyết tâm lấy sông Lam làm ranh giới chứ không phải sông Gianh. Ông cho lập tuyến phòng thủ bờ nam con sông Cả vùng Nghệ An nầy để giữ vùng mới chiếm được. Các địa danh Hương Sơn, La Giang, Hồng Lĩnh, Nghi Xuân, Dũng Quyết, cửa Hội được nhắc thường xuyên qua những trận chiến bất phân thắng bại. Không ai có thể đếm hết xác người từ mùa thu đinh dậu 1657 đến mùa thu kỷ hợi 1659. Chưa hết, chiến trường trở nên dữ dội từ tháng 9 năm 1659, khi Tây Định vương Trịnh Tạc được phong làm Chưởng quốc thượng sư Tây vương. Ông thay mặt vua Lê Thần Tông đến từng đơn vị làm khí thế quân Trịnh càng lên cao. Nhân danh quân chính thống nhà Lê đánh quân phản loạn nhà Nguyễn là điều thuận lòng trời, thuận lòng người. Làn gió nầy rất quen đến độ nhàm chán, nhưng tiếp tục thổi vẫn có hiệu qủa. Chỉ trong 10 ngày của tháng 9 năm 1659, họ đuổi quân nhà Nguyễn từ Hồng Lĩnh chạy về Hoành Sơn. Hai bên dàn trận ở vùng núi vắt ngang nầy lần thứ hai. Tại đây hai tướng Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tiến sinh ra nghi ngờ lẫn nhau, đã là một phần đưa đến phải bỏ phần đất sang sông của chúa Nguyễn Phúc Tần.

      Tuy nhiên cũng không quên một nguyên nhân khác. Khi chiến trường miền bắc đang sôi động ở Hương Sơn – Hồng Lĩnh năm 1658, thì chúa Nguyễn Phúc Tần còn phải dang tay về miền nam. Nó bắt nguồn từ cuộc lương duyên giữa vua Chân Lạp Chey Chetta II và công nữ Ngọc Vạn năm 1620. Lúc ấy triều đình Oudong đang suy yếu trước một đối thủ phía tây Ayutthaya (Thái Lan), nên đã tìm Đàng Trong làm chỗ dựa. Bà Ngọc Vạn chưa tới 20 được gả cho vua Chey Chetta II làm thứ thiếp, và rất được nhà vua sủng ái. Điều nầy đã giúp cho nhiều dân Việt đến Thủy Chân Lạp lập nghiệp mà trước đó chỉ có những người phiêu lưu đến khai phá. Dần dần số lưu dân đến đông hơn, một trạm thu thuế để tự trang trải những công ích được thành lập. Đó là năm 1623, tại Prey Nor (Sài Gòn), và được vua Chey Chetta II bằng lòng. Lúc nầy nhà vua Chân Lạp và công nữ Ngọc Vạn đã có hai mặt con, nên sự giao hảo giữa hai nước càng thêm gắn bó. Rất tiếc 5 năm sau, tức năm 1628, vua Chey Chetta II bất ngờ qua đời.

      Tình hình Chân Lạp từ đó trở nên phức tạp. Prea Outey là em ruột nhà vua được cử làm giám quốc để chờ thái tử Ponhéa So trở về. Vị thái tử nầy là con trưởng của vua Chey Chetta II đang tham gia khóa tu thiền tập theo truyền thống Chân Lạp lúc bấy giờ. Năm 1629, Ponhea Sô rời tu viện về làm vua, nhưng đến năm 1632 thì bị giết. Ông bị người chú ruột giám quốc sát hại, theo giai thoại, vì một cuộc tình. Ponhéa Nou, em kế của Ponhéa Sô lên kế ngôi anh. Cuộc sống vị vua nầy bình lặng, nhưng đến năm 1640 thì qua đời. Lúc này giám quốc Prea Outey vẫn còn quyền hạn bao trùm. Ông ta bỏ các người em ruột của vua Ponhéa Nou mà lập con trai trưởng của mình lên làm quốc vương. Đó là Ang Non tức vua Barom IV. Điều nầy gây phẩn uất cho người em kế của hai cố quốc vương Ponhéa Sô và Ponhéa Nou là Ponhéa Chan. Ông nầy có người mẹ gốc Mã Lai nên đã nhờ thế lực họ mẹ tạo sức mạnh. Năm 1642, Ponhéa Chan thừa cơ giết được cả vua Ang Non và giám quốc Prea Outey. Dĩ nhiên Ponhéa Chan lên làm vua. (người Việt thường gọi là vua Nặc Ông Chân) Lúc bấy giờ đạo Phật Nguyên Thủy vốn là quốc giáo của Chân Lạp, nhưng vua Ponhéa Chan không còn tôn trọng như thế. Ông ưu đãi những cọng sự đạo Hồi, cũng là họ hàng bên mẹ đã từng giúp ông lấy lại ngai vàng. Hoàng triều và thần dân náo loạn, Vua Ponhéa Chan lấy quyền thống trị để trừ diệt. Vị vua nầy trở thành vị hoàng đế đi ngược lại truyền thống tổ tiên, là mầm khởi loạn ở những năm sau đó.

      Năm 1657, hai người con còn sót của cố giám quốc Prea Outey khởi nghĩa. Đó là Ang Sur và Ang Tan. Hai người nầy vận động quần chúng chống lại vua “ngoại đạo” Ponhéa Chan, nhưng họ không thành công. Năm 1658 họ cầu cứu triểu đình chúa Nguyễn Phúc Tần qua công nữ Ngọc Vạn. Người cô nầy đã gởi thư cho chúa Phúc Tần khi quân của Ang Sur bị đuổi sâu tới vùng Thủy Chân Lạp. Đó là lúc mặt trận phía bắc chưa hề yên. Cuộc cầu cứu nầy đã đến không đúng lúc. Nó đặt chúa Nguyễn Phúc Tần vào tình trạng khó xử: Hoặc dồn hết binh lực theo đuổi đến cùng với chúa Trịnh, hoặc chia quân về Mỗi Xuy (Bà Rịa), nơi mà quân của Ponhéa Chan đã đuổi quân ly khai chạy đến. Trong thư, công nữ Ngọc Vạn đã phân tích tình hình làm chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần phân vân. Cuối cùng ông không tăng thêm viện binh cho miền bắc, và cử phó tướng trấn biên Phú Yên đi về phương nam. Đó là cai cơ Nguyễn Phúc Yến mang 3000 quân chận cuộc tiến binh của vua Nặc Ông Chân ở Mỗi Xuy. Kết quả vị vua Chân Lạp nầy bị bắt giải về Kim Long, và chúa Nguyễn Phúc Tần giúp đưa Ang Sur lên ngôi tức vua Barom Réachea V. Để trả ơn việc nầy, tân vương Chân Lạp cắt vùng Sài Gòn – Bến Nghé và Bà Rịa cho chúa Nguyễn. Đó là hai vùng đất mới mà Đàng Trong thực thụ có chủ quyền từ tháng 9 năm 1658. Đây là thời điểm trước khi quân Nguyễn thua quân Trịnh ở Hoành Sơn, phải rút về nam sông Gianh năm 1660.

Chúa đã mất, Phúc Tần thay thế
Người Đàng Trong hay gọi Hiền vương
Bao giờ cho hết ngày chinh chiến
Mấy độ đi qua mấy chiến trường

Giữa buổi ấy phương ngoài đất bắc
Vua Chân Tông chết yểu không còn
Thượng hoàng buổi trước thành vua mới
Lịch sử hai lần gánh nước non

Đâu hoàng hậu ngày xưa Ngọc Trúc
Đâu Trịnh vương người cậu nhạc gia
Khéo trông trong chốn cung đình ấy
Vua Thần Tông mặc thế nước nhà

Lo cho nước Trịnh vương son sắt
Thanh Đô vương buổi ấy nhọc nhằn
Hai con quạ ám bên thành bắc
Ngả ở bên nào cũng tối đen

Chữ son sắt trong veo khó tả
Trịnh phụ Lê, Nguyễn há phù Lê
Từ khi Tiên chúa xuôi nam ấy
Mấy kẻ ra đi muốn trở về

Chúa Phúc Tần đời sau hậu duệ
Đâu vì Lê mà mở phương nam
Ngọc Khoa công nữ bao năm trước
Duyên phận về đâu một xứ Chàm

Đất Chàm cũ Phú Yên chinh chiến
Mồ chôn ai hiu hắt giá đông
Đôi mùa khô đến chưa khô nước
Mà máu Chiêm xưa lại ướt đồng

Sông Đà Rằng mênh mông biển cả
Quặn về tây hun hút sông Pa
Tháp Chàm núi Nhạn bên bờ bắc
Đứng xót bờ nam cũng mất nhà

Quân về đâu tướng lại về đâu
Xa trông ai biết lẽ nhiệm mầu
Nha Trang cũng bỏ đồi linh tháp
Nối tiếp theo đời biển hóa dâu

Dòng sông Cái cứ trôi về biển
Sóng ngoái đầu gọi thánh Narga
Hỏi hồn vương đế Hoàn Vương cũ
Sẽ có còn không một tháp bà

Nha Trang mất giữa mùa hạ nắng
Trời sang thu lại mất Cam Ranh
Đôi bờ bến nước sông Dinh ấy
Một nửa bên sông nửa Chiêm Thành
Từ dạo ấy Thái Khang được lập
Dinh phương nam cuối đất phương nam
Sông xưa tháp cổ còn y đó
Người Việt man man một nỗi Chàm

Bình phương nam chỉ một mùa thu
Mà năm tháng lê thê trận bắc
Người vàng võ cầm gươm đánh giặc
Chết bên đồi tuổi vẫn trẻ măng

Mùa lịch sử tranh giành Trịnh Nguyễn
Của trăm năm phân cách đôi đàng
Bố Chánh, La Giang người chết đói
Hoành Sơn, cửa Sót máu chứa chan

Nào Trịnh Trượng xua quân Đại Nại
Bến Hà Trung nam bắc tranh hùng
Một chiều sương khói quân nam thắng
Quân bắc ơ hờ kiết hóa hung

Nào Trịnh Tráng thay quân xứ Nghệ
Rút Trượng về đổi Tạc lên thay
Quang Nhiêu danh tướng ba đời chúa
Thắng được phương nam ở trận này?

Cuộc thế tưởng bội phần thắng thế
Mà hay đâu thế đổi không ngờ
Quang Nhiêu phải thế qua sông lớn
Bình Lãng hôm nào lại thất cơ

Đổi chiến tướng, Trịnh Toàn thay thế
Vượt sông Lam chiến thắng Mẫn Tường
Đánh Thiên Lộc lấy đồn Đại Nại
Công lao nầy lại phải tai ương

Đâu bại tướng đâu là danh tướng
Đâu anh hùng Nguyễn Trịnh phù Lê
Tạc, Toàn đất bắc hiềm huynh đệ
Dật, Tiến phương nam lỗi hẹn về

Tàn chiến cuộc lê thê người đói
Tang thương nầy dân gánh hai vai
Trịnh về đô bắc phù Lê tiếp
Nguyễn dấn trời nam cuộc miệt mài

Làng Mỗi Xuy bên bờ biển rộng
Trận chiến đầu Chân Việt khai sinh
Trên vùng đất cũ Phù Nam ấy
Còn lại đâu đây chút sử tình

Nghiệp chưa định trên vùng đất mới
Mà Mỗi Xuy, Bến Nghé, Đồng Nai
Đoàn quân phá rẫy khai sông đến
Những kẻ tiên phong bước dặm dài


<<  |  >>