Skip to content

Chương 21/4

LÊ TRUNG HƯNG
(1592 – 1789)

Đoạn bốn

NHỮNG ĐỔI THAY CỦA HAI XỨ ĐÀNG TRONG VÀ ĐÀNG NGOÀI

 

      Tháng 10 năm ất hợi 1635 thế tử Nguyễn Phúc Lan lên ngôi chúa. Lúc nầy ông đã 35 tuổi. Ông đủ tài trí để đưa một Đàng Trong đi lên, dù trên danh nghĩa vẫn là một tôi thần phò tá nhà Lê. Vốn ông đã có tước Nhân Lộc hầu, nay được vua Lê Thần Tông gia phong thành thái bảo Nhân quận công, thay quyền vị của cha. Giống như hai đời chúa trước, tước vị của nhà Lê chỉ có trên giấy tờ, vừa lên vương vị, người ta đã gọi ông là chúa Thượng. Trong lúc vị chúa đời thứ ba nầy và “Thủ đô” Phước Yên còn để tang chúa Sãi, thì dinh Quảng Nam khởi loạn. Tổng trấn Nguyễn Phúc Anh muốn giành ngôi chúa đã đưa thủy quân ra cửa biển Đà Nẵng và đắp lũy Cu Đê làm kế cố thủ. Trước đây Anh đã ngầm liên lạc với Trịnh Tráng trong chiến tranh 1633, đã bí mật lập ra hội “Đồng Tâm”, và nay đã ra mặt tranh cường.  Hay tin, chúa thượng Nguyễn Phúc Lan đã khóc vì huynh đệ tương tàn. Ông có ý nhường ngôi cho người em của mình, nhưng triều thần, nhất là người chú Nguyễn Phúc Khê ngăn can. Họ cương quyết xin chúa đặt việc nước lên trên tình nhà. Khi ấy, chúa Thượng mới sai các tướng mang thủy và bộ binh đi tiểu trừ. Kết quả: Loạn quân ở cửa biển Đà Nẵng và sông Cu Đê bị diệt, tổng trấn Nguyễn Phúc Anh bị bắt ở thành Thanh Chiêm. Ông bị đóng gông giải về Phú Xuân. Tại đây, chúa Thượng đau lòng chìu theo quần thần xử chết người em của mình cùng bọn “loạn quân Đồng Tâm”.

      Khi dẹp xong “loạn” Nguyễn Phúc Anh tháng 12 năm 1635, thì địa vị của tổng trấn Quảng Nam không còn được coi trọng như thời chúa Tiên và chúa Sãi. Chúa Thượng không chọn anh em ruột thịt mà chọn một vị chưởng cơ bình thường. Bùi Hùng Lương được thay thế Nguyễn Phúc Anh làm tổng trấn, và dinh trấn Thanh Chiêm* cũng mờ nhạt theo đó. Chúa Thượng chú trọng về một Hội An với tiềm lực kinh tế đang phát triển. Những dãy phố bàn cờ đã có nhiều cửa tiệm buôn bán và nhà hàng ăn uống. Khách bộ hành rất đông, họ mua sắm và vui chơi đến tận khuya. Bên cạnh những cửa hàng nhộn nhịp ấy, còn có những tụ điểm truyền đạo Thiên Chúa và dạy chữ Quốc Ngữ. Một vị giáo sĩ tên Alexandre de Rhode (Đắc Lộ) đã có công rất lớn trong việc nầy. Trước ông, giáo sĩ Sanfrancisco de Pina và một vài vị ở dinh trấn Thanh Chiêm đã thực hiện, nhưng không mấy thành công. Dù hiểu cách nào về nguyên nhân truyền bá chữ Quốc Ngữ, nhưng cũng không thể quên công sức của các vị giáo sĩ Dòng Tên nầy. Họ đã giúp chúng ta có một thứ ngôn ngữ riêng lập đáng được trân qúi. Từ Thanh Chiêm đến Hội An có thể nói là một trong những dòng chảy đầu tiên của chữ Quốc ngữ.

      Khi Thanh Chiêm mất chỗ đứng đô hội để nhường cho Hội An, thì Phước Yên cũng mất chức “thủ đô”. Tháng giêng năm 1636, chúa Nguyễn Phúc Lan dời dinh phủ từ Phước Yên về Kim Long. Địa danh nầy có thế đất bằng phẳng ở phía đông đồi Hà Khê chừng vài ba dặm. Giống Hà Khê, Kim Long nằm bên bờ tả ngạn sông Kim Trà mà nay đã đổi thành sông Hương Trà theo tên làng được đổi. Từ Kim Long người ta nhìn thấy chùa Thiên Mụ ở đàng tây, và những ngôi nhà của làng Phú Xuân ở đàng đông. Chọn Kim Long tức là đã xa biên giới bắc hơn các “thủ đô” lúc trước, nhưng để an toàn hơn, chúa Thượng quyết định dẹp loạn biên cương. Năm 1637 ông ra lịnh hành quân tiểu trừ quân Trịnh thường tràn qua sông Gianh phá rối. Vùng nầy, ở phía bắc lũy Trấn Ninh, đã được chúa Sãi lập thành dinh Bố Chánh vào tháng 9 năm 1630, nhưng vẫn thường được gọi là Nam Bố Chánh để phân biệt với Bắc Bố Chánh của Đàng Ngoài. Trận chiến 10 ngày vào tháng 6 năm 1637 giữa tướng Nguyễn Đình Hùng của nhà Nguyễn và Nguyễn Tịch của nhà Trịnh là trận chiến thứ ba với kết quả khả quan cho Đàng Trong. Tướng Nguyễn Tịch đã tử thương và quân Trịnh kéo về bắc sông Gianh. Từ đây cả một giang sơn được bình yên, dù có đôi lần có nạn đói ở một vài địa phương nhỏ. Có nhiều lúc thảnh thơi, chúa Thượng thường dùng thuyền để thăm viếng các nơi dọc theo hai bên bờ sông Hương Trà. Đây là thời gian thú vị của nhà chúa, Ông đi từ biển đến nguồn. Chính trong thời gian du sơn thủy nầy, chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan đã đổi tên sông Hương Trà thành sông Hương. Nó không còn chỉ mang tên một địa phương Kim Trà hoặc Hương Trà mà mang một ý nghĩa rộng lớn hơn: Dòng chảy mang hương vị quê hương từ núi rừng đến biển cả.

      Trong những lần dạo chơi sơn thủy nầy, chúa Thượng ít khi mang người vợ Đoàn Thị Ngọc đi theo. Bà đã có một mối tình thơ mộng với chúa Thượng khi ông còn là một công tử 17 tuổi đi thăm người anh Nguyễn Phúc Kỳ, tổng trấn Quảng Nam. Lúc ấy công tử Nguyễn Phúc Lan đã say mê cô tiểu thư con của một vị quan họ Đoàn, ở xứ tơ tằm Duy Xuyên bên dòng sông Thu Bồn. Đã 20 năm qua mối tình sông Thu ấy không đủ hâm nóng nước Hương Giang. Người ta bắt gặp chúa Thượng thường đi với một người đàn bà khác: người chị dâu góa phụ Tống Thị Toại. Bà Toại đã có 3 mặt con, nhưng không có nhan sắc nào đẹp hơn bà.  Vẻ đẹp vừa cuồng nhiệt vừa thánh thiện cứ ẩn hiện trong người đàn bà chưa tới 30 tuổi này. Không biết chính xác là từ bao giờ, nhưng Thượng vương biết mình say mê người chị dâu quá đỗi. Cái u uẩn của một góa phụ đã gặp cái phong lưu của một quân vương. Người ta nói bà Toại đã dùng lẵng hoa trăm hoa để mê hoặc chúa Thượng. Không biết điều đó có đúng không, nhưng khi dời dinh về Kim Long được vài năm thì bà thường vào phủ chúa và rong chơi với chúa Thượng. Điều nầy không những bước lên nỗi đau của vương phi Đoàn Thị Ngọc, mà còn bước lên luồng sóng phản đối của triều đình Đàng Trong. Nhà chúa đã xao lãng việc triều chính, và cả đến việc cúng giỗ tổ tiên mà thời buổi ấy cho là rất thiêng liêng. Suốt từ đầu năm 1639 đến cuối năm 1640, người ta chỉ thấy một vị chúa Thượng mê muội. Rất may, đầu năm 1641, nhân vụ một tàu buôn người Hà Lan ăn hiếp ngư dân người Việt tại cù lao Chàm đã làm chúa Thượng thức tỉnh. Ông thấy mình phải có trách nhiệm với lê dân, và ông đã đi quá đà. Ông cho quân đội bắt hơn 100 thương nhân ngoại quốc có liên can về giam tại Hội An. Điều nầy đã gây nên xích mích giữa người Hà Lan và Đàng Trong, làm họ dời hết các thương điếm về phố Hiến ở Đàng Ngoài. Đó là những bất lợi về ngoại giao và kinh tế cho chúa Thượng, nhưng ông cũng đã dần dần quên được người chị dâu hương sắc.

      Nếu Đàng Trong có một vị chúa tài hoa như thế, thì ở Đàng Ngoài chúa Trịnh ra sao? Năm 1640, chúa Trịnh Tráng đã 63 tuổi. Ông lập một màng lưới quyền lực bao trùm cả xứ bắc. Trịnh Tráng giao cho người con trưởng Trịnh Kiều tước thái úy Sùng quốc công giữ quyền tiết chế quân đội. Bốn trấn quan trọng xung quanh phủ Phụng Thiên đều do các người con khác nắm giữ: Phó đô tướng thái bảo Tây quận công Trịnh Tạc là con thứ hai trấn giữ trấn Sơn Nam. Thái bảo Phù quận công Trịnh Lịch trấn Sơn Tây, Quỳnh Nham quận công Trịnh Lệ trấn Kinh Bắc, Thiếu úy Hoa quận công Trịnh Sầm trấn Hải Dương. Về kinh tế cũng song song theo đó mà phát triển, nhất là việc buôn bán với người ngoại quốc ở phố Hiến. Người Hà Lan từ Hội An ra đã lập nhiều cửa hàng buôn bán lớn ở đây. Họ còn giúp Đàng Ngoài mua được những súng đại bác tầm trung lúc bấy giờ. Tình hình như thế kéo dài 2 năm thì bất thần thay đổi. Năm 1642, Trịnh Kiều đột ngột bị một cơn trụy tim phải chết, Trịnh Tráng không giao chức vụ của người con trai trưởng nầy cho ai, mà ông giữ lấy quyền nầy. Ông đương thử tài các người con trai khác. Tháng 2 năm 1643 Trịnh Tráng sai hai con Trịnh Tạc và Trịnh Lệ mang quân vượt sông Gianh để đánh Đàng Trong một lần nữa. Tướng Bùi Công Thắng của nhà Nguyễn bị bắt khi trận chiến 3 ngày ở Bàu Bàng ở phía bắc sông Nhật Lệ kết thúc. Quân Trịnh chiếm giữ Nam Bố Chính một tuần trăng, nhưng không vượt qua lũy Trấn Ninh được. Trịnh Tạc và Trịnh Lệ phải rút quân về với những thiệt hại đương nhiên. Tuy vậy, qua cuộc chiến không mấy thành công nầy, Trịnh Tráng cũng bằng lòng với tài cầm quân của đứa con thứ hai Trịnh Tạc. Đó là cuộc chiến thứ 3 nhà Trịnh vượt sông Gianh.

      Dù nhà Trịnh đã mất đi một Trịnh Kiều và không thắng nổi chiến tranh, nhưng vua Thần Tông Lê Duy Kỳ không thể nào thoát khỏi đại gia đình họ Trịnh. Nhà vua đã 36 tuổi, nhưng phải một lòng tuân thủ những sắp đặt rất là vô lý của quyền thần Trịnh Tráng, người vừa là cậu ruột vừa là cha vợ. Không dưng tháng 10 năm quí mùi 1643, Trịnh Tráng bảo vua Lê Thần Tông nhường ngôi cho con trai duy nhất lúc bấy giờ là Lê Duy Hựu để lên làm thái thượng hoàng. Vua Thần Tông chẳng buồn hỏi tại sao. Ông an phận với một chỗ ngồi mới để dành ngôi hư vị lại cho con trai của mình. Không những vua Lê Thần Tông chán cảnh quyền và vị không tương xứng nầy, mà hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc cũng không vui. Mười ba năm trong phiền lụy cung đình với bao tham vọng của người cha, như là thuận duyên đưa đẩy bà đến với cửa phật nhiều hơn. Trước khi được phong vị hoàng thái hậu, bà đã thí phát quy y. Bà đã chịu nhiều nổi trôi nhung lụa, và hóa giải nó trong tâm thiện lành của bà. Nhưng, triều đình lúc đó đương rộn rã hơn thua.

      Vừa khi lên ngôi, vua Lê Duy Hựu tức vua Lê Chân Tông phong Tây quận công Trịnh Tạc chức Khâm sai tiết chế quân đội. Chức vụ nầy có quyền trên thủy bộ chư dinh cả nước. Đây là sự sắp xếp của chúa Trịnh Tráng dành cho đứa con thứ hai Trịnh Tạc. Nhưng, điều nầy đã khiến Trịnh Lịch và Trịnh Sầm ngầm bất mãn. Trịnh Tạc biết bụng dạ của hai đứa em mình nên đã dùng quyền tiết chế chèn ép họ, dồn hai người nầy mang quân bản bộ nổi loạn ở 2 năm sau. Đó là lúc Trịnh Tạc có cơ hội tiêu diệt. Đầu tháng 5 năm 1645, Trịnh Tạc sai thuộc tướng Đào Quang Nhiêu đem quân đánh và bắt được Trịnh Lịch ở Sơn Tây, nhưng Trịnh Sầm và tàn quân chạy được. Họ cố thủ ở núi Trầm bên nguồn sông Đáy một thời gian ngắn trước khi đầu hàng. Bị giam trong ngục, Trịnh Lịch và Trịnh Sầm hy vọng được người cha và người anh khoan thứ, nhưng điều đó không xảy ra. Họ đều bị xử chết.

      Giết được hai người em có thể tranh quyền thế tử với mình, Trịnh Tạc được sai đi dẹp loạn ở Cao Bằng. Trước đó, năm 1625, vua Long Thái Mạc Kính Khoan đã hàng nhà Lê và được phong Thông quốc công trấn giữ biên giới bắc, nhưng sau vài năm vị quốc công nầy nổi loạn. Ông ta dai dẳng chiến đấu đến năm 1638 thì mất. Con trai là Mạc Kính Vũ lên nắm giữ ngôi vương, và đặt niên hiệu là Thuận Đức. Vua Thuận Đức hậu kỳ nhà Mạc nầy đương cố chống lại thế tử Trịnh Tạc, và chưa biết thế trận sẽ về đâu.

      Nếu Trịnh, Mạc, Nguyễn có những chiến tranh như thế, thì ở đất Tàu trong thập kỷ 40 (1640) nầy có một chiến tranh rộng lớn hơn làm ảnh hưởng đến cả Đại Việt. Đó là chiến tranh Minh – Thanh. Quân Thanh có nguồn gốc từ bộ tộc Nữ Chân ở Mãn Châu. Họ đã trưởng thành để lập ra một nhà Đại Kim diệt Bắc Tống năm 1127, cai trị miền bắc nước Tàu hơn cả trăm năm. Năm 1234, họ dường như bị tận tuyệt bởi liên quân Mông Cổ và Nam Tống. Bộ tộc Nữ Chân nầy tìm đường về nguyên quán băng giá như những con gấu bị thương nặng. Gần 400 năm sau, họ chữa lành vết thương và trỗi dậy. Đó là nhà Hậu Kim của Nỗ Nhĩ Cáp Xích  đại hãn.

      Vị đại hãn Hậu Kim nầy diệt các huynh đệ và thống nhất các lãnh chúa miền đông quan ngoại, và đặt thủ đô tại Thịnh Kinh (Thẩm Dương). Ông là vị vua khai sáng nhà Thanh, dù rằng đến 10 năm sau khi ông qua đời, con ông mới đặt quốc hiệu nầy.  Ông chết năm 1626 giữa lúc mọi việc còn dang dỡ. Người con thứ 8 là Ái Tân Giác La Hong Taiji (Hồng Thái Cực) lên thay giữa lúc đối thủ Minh Hy Tông đang bị quyền thần Ngụy Trung Hiền thao túng. Hy Tông chết vào năm 1627 và truyền ngôi cho em là Chu Do Kiểm tức hoàng đế Sùng Trinh. Sùng Trinh lên ngôi giữa lúc tình thế vô cùng bấp bênh. Từ quan ngoại, quân của Hồng Thái Cực đã nhiều lần đánh phá phần cuối của Vạn lý trường thành và quan ải Hải Sơn ở Liêu Đông. Tướng Viên Sùng Hoán trấn giữ Hải Sơn quan đã đem hết tài thao lược cầm giữ quân quan ngoại trong nhiều năm. Trong lúc đó Sùng Trinh phải khôn khéo lắm mới diệt được quyền thần Ngụy Trung Hiền. Giá như đem tài năng của vị tướng họ Viên và vua Sùng Trinh cọng lại, thì triều đại nhà Minh sẽ còn kéo dài nữa. Rất tiếc, Minh Sùng Trinh nghi ngờ vị tướng quan ải thông đồng với các vương thân họ nhà Ái Tân Giác La. Vị vua nầy bắt giam tướng Viên Sùng Hoán tháng 2, và xử chết vào tháng 8 năm 1630.

      Ngô Tam Quế, một thuộc tướng của họ Viên, lên thay trấn giữ Hải Sơn quan trong trường hợp nầy. Đó là lúc triều đại Minh Sùng Trinh bước dần xuống lụn bại. Tham quan, áp bức, loạn lạc và đói kém xảy ra, đã dậy lên phong trào chống Minh khắp nơi. Riêng tại Thiểm Tây có 4 lực lượng của Vương Nhị, Cao Nghênh Tường, Trương Hiến Trung và Lý Tự Thành đã gom lại thành một uy hiếp triều đình Bắc Kinh. Năm 1637 Lý Tự Thành tập họp tới 20 vạn quân. Quân đội ô hợp mà đi đên đâu thắng đến đó trong nhiều năm liền. Từ Thiểm Tây họ lần lược chiếm giữ Hồ Bắc, Hà Nam, Sơn Tây, và phía nam Hà Bắc rồi chiếm Bắc Kinh vào mùa xuân năm 1644. Vua Sùng Trinh phải chạy đến Môi Sơn giữa một tình thế rối bời chỉ còn mấy kẻ thân tín. Ông ta tự sát sau khi không tìm thấy những đứa con trai mà quân địch đang đuổi sát tới sau lưng.

      Diệt được triều đình Sùng Trinh, Lý Tự Thành lập ra nhà Đại Thuận và xưng hoàng đế. Song song việc dựng lập triều đình mới, nhà vua nầy thu gom châu báu và đàn bà đẹp. Điều nầy đã đưa đến sự ly khai của người huynh đệ Trương Hiến Trung, ông Trung đưa quân bản bộ về Tứ Xuyên. Sự ra đi của họ Trương không làm thức tỉnh vị tân vương họ Lý. Lý Tự Thành cho thủ hạ tiếp tục vơ vét châu báu và bản thân ông chiếm giữ một người đàn bà đẹp nhất kinh thành lúc bấy giờ. Đó là Trần Viên Viên, ái thiếp của tướng Hải Sơn quan Ngô Tam Quế. Người ta nói vì lý do nầy mà Ngô Tam Quế đưa quân Thanh vào Bắc Kinh để trả thù Lý Tự Thành, nhưng có lẽ không hoàn toàn như thế.

      Kỵ binh của miền băng giá Mãn Châu không thua gì kỵ binh của miền thảo nguyên Mông Cổ. Nếu Ngô Tam Quế không chịu bắt tay với quân Thanh lúc ấy, thì quân Minh chỉ được tiếng là “đền nợ nước” ở Sơn Hải quan chứ không còn một ai sống sót. Dù Hoàng Thái Cực chết vào tháng 9 năm 1643 trước đó, nhưng quân Thanh vô cùng hùng mạnh dưới tài điều binh của thân vương Đa Nhĩ Cổn. Ông nầy là nhiếp chính vương cho Ái Tân Giác La Phúc Lâm tức vua Thuận Trị mới 6 tuổi vừa lên ngôi. Khi liên quân Đa Nhĩ Cổn và Ngô Tam Quế tới Bắc Kinh vào tháng 3 năm 1645, thì Lý Đại Thành không chống đỡ nổi. Quân đội tan rã ngay lập tức, và vị hoàng đế Đại Thuận dẫn tàn quân trốn biệt.

      Trong lúc nầy, một số thân vương nhà Minh đã đưa quân bản bộ của mình chạy về phía nam tới sông Dương Tử (Trường Giang tức Yantze River). Tại đây họ không tìm được các hoàng tử con của vua Sùng Trinh bèn lập một vị thân vương có đất thực ấp ở huyện Nam Kinh lên làm vua. Đó là Chu Do Tung, vị vua đầu tiên của nhà nước Nam Minh được thành lập. Chu Do Tung lấy niên hiệu là Hoằng Quang đóng đô ở thủ phủ Nam Kinh phía nam sông Dương Tử, mà xéo xéo bên kia bờ sông là thành Dương Châu do Sử Khả Pháp trấn thủ. Đó là tiền đồn quan trọng phía bắc bảo vệ nhà nhà Nam Minh.

      Nếu ở hai bên bờ Dương Tử quân nhà Minh thành lập được một nhà nước, thì ở Bắc Kinh tướng Ngô Tam Quế không đủ khả năng giữ thế liên minh cân bằng với Đa Nhĩ Cổn. Ông ta chịu phục tùng quân đội nhà Thanh để rước vua Thuận Trị đến trị vì nước Tàu. Từ đó, nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn tiếp tục chinh nam. Điểm nhắm tới đầu tiên là Nam Kinh. Cái tuẫn tiết sĩ khí của Sử Khả Pháp sau 10 ngày chiến đấu ở thành Dương Châu đã chấm dứt triều đình Hoằng Quang. Đó là một ngày vào đầu tháng 4 năm 1645, khi quân Thanh từ Dương Châu tràn qua thủ phủ Nam Kinh bắt sống Chu Do Tung. Sau khi Nam Kinh thất thủ, một vương thân khác tên Chu Duật Kiện chạy về Phúc Châu lập triều đại mới xưng Long Vũ đế, nhưng cũng bị quân Thanh tập sát tiêu diệt vào tháng 8 năm 1646. Em trai của Chu Duật Kiện là Chu Duật Ngạc chạy thoát về Thiệu Hưng xưng Thiệu Vũ đế lại cũng bị tiêu diệt vào tháng 10 năm 1646.

      Từ tháng giêng 1645 đến tháng 10 năm 1646, cả ba triều đại Hoằng Quang, Long Vũ, Thiệu Vũ đều chết yểu, nhà Nam Minh hầu như tận tuyệt. Tuy nhiên, một vương thân khác là Quế vương Chu Do Lang được những người còn lại tôn làm Vĩnh Lịch đế để tiếp tục chống Thanh. Họ đóng đô ở Triệu Khánh (Quảng Đông). Bản thân triều đình Vĩnh Lịch không mạnh, họ cố bắt tay với những lực lượng Phản Thanh Phục Minh đang nổi lên lúc bấy giờ. Ở các xứ tây nam, Chu Do Lang được các lãnh tụ Tôn Khả Vọng và Lý Định Quốc giúp sức, miền đông nam, lãnh tụ Trịnh Thành Công cũng ra sức phò trì. Nhưng, công cuộc Phục Minh vẫn yếu đuối với triều đình Thanh Thuận Trị lúc bấy giờ. Điều nầy buộc Chu Do Lang phải nhờ đỡ đến tất cả các thế lực có thể tiếp cận được. Ông ta nghĩ đến Đại Việt. Đó cơ duyên triều đình Nam Minh gặp triều đình nhà Lê trong thế bình đẳng. Tháng 2 năm 1646 Vĩnh Lịch đế trả lại tên nước An Nam quốc cho người Việt, và thừa nhận thượng hoàng Lê Thần Tông là An Nam quốc vương.

      Dĩ nhiên là có những sứ thần qua lại giữa Đông Kinh và Triệu Khánh với những sắc phong, ấn vàng, ấn bạc, nhưng tất cả chỉ là hình thức. Đơn giản là nhà Minh đã yếu lắm rồi, họ không còn đủ mạnh để làm một thứ bá hộ hung hãn bên lưng một thường dân Đại Việt. Họ đương nhờ triều đình nhà Lê giúp một tay để chống Mãn Thanh. Tính từ tháng 11 năm 1540 khi Mạc Đăng Dung chịu để đất nước làm một ty của Tàu (An Nam đô thống ty), đến tháng 2 năm 1646 là 106 năm. Một trăm lẻ sáu năm mặt mũi Đại Việt đã bị xấu đi, và bây giờ chỉ như tô được một chút phấn hồng. Nó chẳng khác gì hơn, tang tóc vẫn kéo dài, Trịnh Nguyễn vẫn tiếp tục tranh quyền thống trị đất nước.

      Tháng 3 năm nhâm tý 1648, Trịnh Tráng quyết định chinh nam một lần nữa. Đây là lần thứ tư Đàng Ngoài mang quân đánh Đàng Trong. Ba vạn quân do đích thân Trịnh Tráng chỉ huy vượt sông Gianh tấn công phía bắc lũy Thầy. Năm vạn quân khác được thuyền chiến mang về phía nam phủ Quảng Bình để đánh ngược ra. Đạo quân phía nam nầy do Đào Quang Nhiêu và Lê Văn Hiểu chỉ huy. Với lối dàn quân gọng kiềm, chúa Trịnh Tráng muốn san bằng hệ thống lũy Thầy. Họ Trịnh chọn mặt bắc làm diện để nhử quân Nguyễn bỏ trống phía nam. Nó vốn ít phòng bị hơn nên trở thành điểm để quân Trịnh tấn công. Tưởng lưỡng đầu thọ địch, quân Nguyễn sẽ nao núng, nhưng không phải thế. Đích thân chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan dẫn quân từ Kim Long ra Quảng Bình. Ông ra lịnh tướng Nguyễn Triều Văn dẫn 5 ngàn quân yểm trợ cho con mình là tướng Nguyễn hữu Dật đang cố thủ lũy Thầy. Tại đây nâng quân số lên chỉ tới một vạn quân, nhưng quân Trịnh không thể nào đến gần. Quanh co từng đoạn lũy như một trận đồ, mà những khỏang trống tưởng như thông lộ sẵn sàng dẫn vào ổ phục kích. Lúc nầy Trịnh Tráng mới thấy cha ông và vua Lê Thế Tông đã sai lầm khi để Đào Duy Từ trốn thoát vào nam. Hệ thống lũy Thầy đã cầm chân gần 3 vạn quân bên bờ sông Nhật Lệ mà không thể bắt tay được với cánh quân của Đào Quang Nhiêu ở phía nam.

      Vị tướng họ Đào của nhà Trịnh cũng không thể đánh ngược ra. Ông ta đương đối mặt với đích thân chúa Nguyễn Phúc Lan. Nhà chúa có thế tử Nguyễn Phúc Tần và Nguyễn Hữu Tiến là hai tướng thuộc quyền. Năm vạn quân đối mặt với năm vạn quân. Đó là một trận kinh hoàng trên những địa danh Hạ Trạch, Mỹ Sơn, Xóm Cồn thuộc miền nam phủ Quảng Bình. Chúa tôi nhà Trịnh không bắt tay được với nhau, đã làm quân Trịnh xuống tinh thần. Năm vạn quân của Đào Quang Nhiêu đã bị đánh tan tác sau 3 ngày tham chiến. Người chết la liệt. Trên một vạn binh còn lại phải đầu hàng sau khi những chiến thuyền rút lui bỏ họ lại. Số người nầy gồm cả hai tướng Gia và Lý. Hai vị tướng nầy đều không rõ mang họ gì, nhưng đã cùng quân lính của mình đầu hàng nhà Nguyễn. Tất cả đều được tha. Họ được định cư ở 5 phủ thuộc dinh Quảng Nam nếu họ muốn, bằng không, họ được tự do về trở lại bên kia sông Gianh. Lòng nhân hậu của chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan được truyền đi khắp nam bắc từ đó, nhưng rất tiếc ông không nghe hết được những lời xưng tụng nầy. Trên đường trở về Kim Long, ông bất ngờ sốt nặng và chết trên thuyền khi mới tới phá Tam Giang.

 

Chưa qua hết mùa đông tang chế
Sao đệ huynh đùa cợt trêu nhau
Phúc Anh thọ tử mà không hiểu
Sao nỡ thù nhau đến thế này!

Từ dạo ấy Thanh Chiêm mờ nhạt
Đổi phố Hoài mở rộng thênh thang
Thuyền ai rẽ sóng muôn phương tới
Cửa Đại mênh mang đợi gió ngàn

Chữ được viết thay Nôm buổi trước
Kinh Mân Côi đôi ngả truyền thừa
Dòng Tên từng bước đeo gian khó
Cũng mấy truân chuyên mấy gió mưa

Vừa lúc ấy dinh xưa cũng đổi
Về bên sông chầm chậm muôn năm
Nguồn về lưỡng trạch xuôi về biển
Trăng sánh thuyền trăng những độ rằm

Lòng chúa Thượng mấy trong mấy đục
Sông Hương Trà mấy khúc quanh co
Từ về dinh trấn Kim Long ấy
Lòng bỗng đa mang những hẹn hò

Khi Thiên Mụ, Phú Xuân vãng cảnh
Khi Dã Viên, Cồn Hến rong chơi
Khi về biển sóng mênh mông nước
Khi đến rừng xanh núi với trời

Lòng bỗng thấy quê hương vời vợi
Thấm hương quê hương sắc ngọt ngào
Sông Hương chuyên chở bao tình tự
Chúa Thượng đi về cứ nao nao

Nào những nhớ những yêu người chị
Nào những thương Đoàn Ngọc vương phi
Sực mình mới nghĩ điều chi đó
Non nước từ lâu đã chuyện gì!

Khi buổi ấy mùa thu phương bắc
Thanh Đô vương lại đổi thay vua
Thần Tông được lập lên thượng thánh
Duy Hựu thành vua chẳng chuyện đùa

Vua Duy Hựu mấy mùa đế vị
Để làm vì nào có quyền đâu
Trong triều Ngọc Trúc quy y Phật
Phố Hiến ngoài kia đổi sắc màu

Sóng sông Nhị cau cau sóng biển
Hạ sông Hồng nhộn nhịp thuyền qua
Thuyền đi ngược gió thuyền xuôi gió
Xứ Bắc vờn lên ánh mượt mà

Đất là thế mà người không thế
Lại đệ huynh ai lại giết ai
Lịch, Sầm oan khuất hôm nao đó
Có hận ai không ở tuyền đài

Trịnh mấy kiếp đai cân khanh tướng
Mạc mấy đời còn loạn biên cương
Trăm năm biên bắc dài suôn suốt
Trịnh – Mạc ai đau cuộc hí trường

Cuộc Trịnh Mạc chưa từng chấm dứt
Mà nhà Minh chịu loạn khắp trời
Nam họ Lý, Nữ Chân phương bắc
Núi non nào Do Kiểm chơi vơi

Lý thắng thế, Sùng Trinh tự sát
Thanh về thành, Lý bỏ nơi nao
Ai kia có trách Ngô Tam Quế
Bỏ nước vì thương lệ má đào

Từ độ ấy Nam Minh dựng lập
Trải ba triều đến lượt Chu Lang
Duyên nầy đẩy gặp triều Lê Việt
Trả lại Thần Tông đế Việt hoàng

So từ Mạc trăm năm buổi trước
Danh có hơn mà nước cứ thua
Lê dân cứ khổ từng chinh chiến
Đói rách lầm than tháng tiếp mùa

Rồi chiến trận được thua nhâm tí (1648)
Ở nơi nao Địa Lý xa xưa
Xóm Cồn, Hạ Trạch nam thành lũy
Người chết bao nhiêu đếm cho vừa

Tàn chiến cuộc đưa ai về Quảng
Vạn hàng binh họ Trịnh tần ngần
Đắp thêm từng đợt di dân mới
Nguyễn chúa nam triều dạ lâng lâng

Đường trước mắt thêng thang như thế
Sao không về lại bỏ đi xa
Lênh đênh thuyền đến Tam Giang phá
Chúa bỏ nhân gian bỏ nước nhà
_________________________

      *  Dinh trấn Thanh Chiêm đã đi vào dòng sử Việt. Theo Đại Nam Thực Lục, thì dinh Thanh Chiêm được chúa Nguyễn Hoàng cho xây năm 1602 ở xã Cần Húc làm lỵ sở Quảng Nam. Xã Cần Húc về sau không tìm thấy trên bản đồ, vậy địa danh nào ngày nay tương xứng với Cần Húc có dinh trấn Thanh Chiêm ngày xưa? Bên cạnh câu hỏi nầy, một câu hỏi khác được đặt ra là tổng trấn Nguyễn Phúc Anh ở dinh Thanh Chiêm có tạo phản năm 1635 để phải chịu án tử hình hay không?

      Câu hỏi thứ nhất: Tuy không dò tìm được xã Cần Húc, nhưng ở Quảng Nam có một làng tên Thanh Chiêm vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Nó không có một dấu tích gì về một thành Thanh Chiêm được xây cất ở đây cả, nhưng ở làng Phước Kiều gần đó có một làng nghề đúc đồng có từ thời tổng trấn Nguyễn Phúc Kỳ. Lúc ấy khai thác đồng từ miền tây Quảng Nam và chở về dinh Thanh Chiêm làm nơi trung chuyển. Do vậy mà có làng đúc đồng ở đây, chủ yếu là làm chân đèn, lư hương để thờ cúng. Theo hai hiện hữu nầy thì có thể dinh Thanh Chiêm ở gần Phước Kiều và Thanh Chiêm ngày nay. Nếu đi trên quốc lộ I theo chiều nam bắc, chúng ta sẽ gặp cầu Câu Lâu bắc ngang qua sông Thu Bồn ở Quảng Nam. Khi vừa qua cầu thì làng Phước Kiều nằm bên trái, và làng Thanh Chiêm nằm bên phải của quốc lộ I. Hai làng nầy và các làng xung quanh gần đó được gọi chung là vùng Cầu Mống. Đó là tên dân gian gọi theo hình thể của một cây cầu thực dân Pháp bắc qua một nhánh sông Thu Bồn, mà hiện nay còn lại một chân cầu. Dù nhiều chính thể đi qua, tên làng địa phương cứ thay đồi, nhưng tên Cầu Mống vẫn còn hoài. Nó đương cất dấu một trấn thành Thanh Chiêm ngày xưa mà không ai tìm được. Ngoài Phước Kiều và Thanh Chiêm, các làng An Quán, Phú Chiêm, Đông Khương, thậm chí ngay trong lòng sông đều có thể là nơi đã có trấn thành nầy.

      Khó để hình dung trong những vườn làng yên ả bên sông ngày nay, có một trấn thành lớn coi sóc vùng đất từ đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông trong 9 đời chúa Nguyễn. Người ta cũng không ngờ rằng nơi đây là một trong vài nơi truyền đạo Thiên Chúa giáo sớm nhất vào xứ Việt. Và, cũng ít ai để ý nơi đây là địa danh đầu tiên dùng chữ Quốc Ngữ. Công việc truyền đạo của giáo sĩ Francisco de Pina đi đôi với sáng chế chữ Quốc Ngữ đã diễn ra ở đây vào thập niên thứ hai của thế kỷ 17.

      Câu hỏi thứ hai: Sử nhà Nguyễn cho rằng tổng trấn Quảng Nam  Nguyễn Phúc Anh có tính kiêu ngạo, và đã tạo phản. Công tử Anh là con trai thứ ba của chúa Nguyễn Phúc Nguyên sau công tử Kỳ và công tử Lan. Kỳ là con trưởng nên được lập làm thế tử, và vào trấn thủ Quảng Nam chờ sau nầy sẽ tiếp nhận ngôi chúa. Bất ngờ năm 1631, thế tử Kỳ chết. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên lập Lan làm thế tử, và cử Anh đi làm trấn thủ Quảng Nam. Theo sử nầy thì trong trận chiến tháng 12 năm 1633 với Trịnh Tráng, Phúc Anh đã cố tình thông đồng với giặc nhưng bất thành. Lúc nầy chúa Nguyễn Phúc Nguyên đang tại vị, và không thấy ông trị tội trấn thủ Nguyễn Phúc Anh. Năm 1635 chúa Nguyễn Phúc Nguyên chết, thế tử Lan lên ngôi chúa, và tổng trấn Anh ở Quảng Nam cất quân làm phản. Điều nầy không biết hư thực thế nào, nhưng dường như có điều oan trái. Trong chương viết về chúa Nguyễn Phúc Lan, Đại Nam Thực Lục đã viết:

 “Trấn thủ Quảng Nam là Anh làm phản bị giết. Đầu là Hy Tông (chúa Nguyễn Phúc Nguyên) sai Anh làm trấn thủ Quảng Nam.  Anh đến trấn, ngầm mang chí khác, muốn cướp ngôi thế tử, nuôi riêng dũng sĩ vài trăm người, bí mật ghi tên vào sổ ‘đồng tâm hướng thuận’. Từng viết mật thư đầu hàng họ Trịnh, nhưng công việc không thành. Đến đây khi nghe chúa (Nguyễn Phúc Lan) lên ngôi, Anh tức thì phát binh làm phản, cùng ký lục là Phạm mưu đắp lũy Cu Đê làm kế cố thủ và bày thủy quân ở cửa biển Đà Nẵng để chống lại quân Chúa. Phạm lẻn về đem tình trạng làm phản ấy trình chúa. Chúa triệu Tôn Thất Khê (chú ruột) vào, khóc mà bảo rằng:

 ‘Anh bất hiếu, bất trung, tội không tha được. Nhưng tôi là con, đương ở vào cảnh tang chế đau thương, nay cầm dao mà đâm kẻ ruột thịt với mình, lòng tôi thực không nỡ. Vả vì một người mà làm lụy đến trăm họ, điều đó người nhân giả cũng lấy làm thương tâm. Vậy tôi muốn nhường ngôi để tắt sự tranh giành, chú nghĩ thế nào?’

 Khê thưa rằng:

‘tội Anh tất phải giết, thần và người đều giận, lẽ nào nín náu để hại đến nghĩa lớn ư? Thần xin lấy nghĩa mà cắt đứt ơn riêng, để tỏ rõ phép nước’

Chúa gạt nước mắt nghe theo. Rồi sai Bùi Hùng Lương, Tống Triều Phương lãnh thủy sư tiến đến vụng Trà Sơn; Tôn Thất Yên, Tống Văn Hùng lãnh bộ binh đến lũy Cu Đê, hai đạo giáp đánh. Bấy giờ cai đội bộ binh là Dương Sơn cùng tôn thất Tuyên theo đường tắt, đánh thẳng vào Quảng Nam. Dưong Sơn đến trước xông vào dinh (Thanh Chiêm) bắt được quyển sổ “đồng tâm”. Tuyên tiếp theo sau phóng lửa đốt. Anh sợ chạy trốn về cửa biển Đại Chiêm. Tuyên đuổi theo bắt được, đóng gông giải về. Anh nằm rạp xuống sông kêu van. Chúa còn không nỡ giết.

 Khê và các tướng đều kêu xin rằng:

‘Anh phản nghịch, tội rất lớn. Phải xử theo phép nước để răn bọn loạn tặc’. Chúa bèn theo lời, sai Khê theo sổ “đồng tâm” mà bắt giết hết.”

      Nhưng ký lục Phạm phụ tá cho trấn thủ Anh là ai? Thử đọc một đoạn trước đoạn vừa nêu: “Tân mùi, năm thứ 18 (1631), mùa hạ, tháng 6, hoàng tử cả là Hữu phủ chưởng phủ sự Kỳ mất. Kỳ ở Quảng Nam, ân uy đều nổi tiếng. Chúa (Nguyễn Phúc Nguyên) lo Anh là người kiêu ngạo, phóng túng, muốn chọn một người văn thần để trông coi. Văn chức Phạm (không rõ họ) xin đi, tức thì trao chức ký lục. Bấy giờ hoàng tử thứ hai là Nhân Lộc hầu ( Nguyễn Phúc Lan) vốn cùng Phạm bái biệt nói rằng: ‘Phạm ở đây thì minh công cứ gối cao nằm yên’, Từ đấy Anh có làm gì hay không, Nhân Lộc hầu đều biết cả.

      Theo như vậy, người họ Phạm là người của chúa Nguyễn Phúc Lan ngay khi còn là thế tử. Thế tử Lan đã sợ người em tranh ngôi với mình nên đã để ý từ lâu, và tìm cách diệt trừ đi. Không diệt được năm 1633 vì không tạo đủ chứng cớ làm phản,  thì diệt năm 1635 vậy. Diệt lúc nầy hay lúc khác cũng là lẽ thường của những kẻ tranh hùng thời phong kiến. Tuy nhiên, khó tìm thấy lòng thật tình thương tiếc trong những giọt nước mắt của chúa Nguyễn Phúc Lan. Chúng chỉ là những giọt nước cố bôi trơn một điều ít thành nhiều, hoặc không thành có.


<<  |  >>