Skip to content

Chương 21/3

LÊ TRUNG HƯNG
(1592 – 1789)

Đoạn ba

KHỞI ĐẦU CỦA 45 NĂM CHIẾN TRANH NGUYỄN TRỊNH

      Từ khi có tước Thanh Đô vương năm 1623, quyền hành của Trịnh Tráng phủ cả vua Lê Thần Tông. Ông quyết định mọi việc từ triều đình đến các trấn. Trịnh Tráng muốn hai trấn Thuận Hóa và Quảng Nam chỉ là hai thừa tuyên 12 và 13 của nhà Lê như từ xưa. Chúng không thể ly khai. Chúng không thể được gọi là “đàng trong” để phân biệt với “đàng ngoài”, một thứ tên gọi không hề có tôn ti nghi lễ. Theo tin báo, thế lực nhà Nguyễn không yếu đuối tàn tạ như họ Mạc. Phía bên kia bờ Linh Giang (sông Gianh) dần dần như một giang sơn riêng. Họ đã phát triển binh lực và tự ý buôn bán với nước ngoài. Phải chận đứng sự lộng quyền nầy. Mùa xuân đinh mão 1627, Trịnh Tráng gởi Thụy quận công Nguyễn Phúc Nguyên sắc chỉ của vua Lê Thần Tông: “ Bậc nhân tài hào kiệt, có thể cùng nhau mưu việc lớn lao. Đấng trượng phu lập chí quý ở chỗ biết rõ thời thế…Hiện nay thời buổi có nhiều việc đáng làm, dân chúng đều trông mong thịnh trị. Nếu ngươi biết nghĩ đến nghĩa vua tôi trên dưới, nhớ tới công cha ông cần lao, mà suy ra xét kỹ, kính cẩn trung thành, quy phục triều đình thì trẫm sẽ đối đãi bằng lễ đặc biệt, phong tước thượng công. Ngươi gắng giúp nhà ta để nhà nước được mạnh, thì thân danh của ngươi cùng vinh hiển với nước, đời đời hưởng tước lộc không bao giờ cùng vậy. Ngày nào nhận được dụ này, ngươi hãy chỉnh đốn tướng sĩ, voi ngựa, thuyền ghe đến kinh sư để lạy chào cho đúng nghĩa vua tôi. Nhược bằng đem quân chống mệnh, thì oai trời giáng xuống chỉ trong chớp mắt núi cao cũng thành đất bằng. Theo lệnh thì lành, trái lệnh thì dữ, ngươi hãy suy nghĩ.”.

      Nếu 27 năm trước cháu Trịnh Tùng gởi thư cho cậu Nguyễn Hoàng, thì lần nầy vua Lê Thần Tông gởi cho tôi thần Nguyễn Phúc Nguyên. Đối với  chúa Trịnh Tráng, chúa Nguyễn Phúc Nguyên vừa là chú họ bên ngoại vừa là anh vợ. Kể ra rất gần, nhưng không đủ thâm tình nên Trịnh Tráng dùng đến chiếu chỉ vua tôi. Lời lẽ vừa ân nghĩa vừa răn đe, nhưng hoàn cảnh đã khác. Cán cân quân sự giữa Trịnh Tráng và Nguyễn Phúc Nguyên vẫn còn chênh lệch, nhưng không cách quá xa như giữa Trịnh Tùng và Nguyễn Hoàng thuở trước. Dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên quân số đã tăng, lương thực đã nhiều, và nhất là nguồn tài nguyên khoáng sản và trầm hương đương phát triển. Không phải đến năm 1627 nầy vị Thụy quận công ở Đàng Trong mới chống mệnh, mà đã 3 năm rồi không chịu đóng thuế. Thanh Đô vương Trịnh Tráng không biết điều đó hay sao? Chúa Nguyễn Phúc Nguyên gạch tréo lên cái chỉ dụ răn đe vừa đọc. Chiến tranh phải đến.

      Cuối tháng 6 năm đinh mão 1627, Trịnh Tráng hộ vệ vua Lê Thần Tông xuất chinh. Dưới quyền của Thanh Đô vương có tới 20 ngàn quân. Họ tràn qua sông Gianh như nước vỡ bờ mà quân biên phòng Đàng Trong không thể nào kháng cự được. Đồn bót, lương thực đều phải bỏ lại; quân lính rút về một đồn binh lớn hơn ở bờ nam sông Nhật Lệ. Tại đây, quân Trịnh gặp hai đạo quân của nhà Nguyễn từ Ái Tử và Phước Yên kéo ra. Chúa Sãi đã cử thân vương Nguyễn Phúc Vệ làm tiết chế tổng chỉ huy chiến trường, và vị tướng trẻ Nguyễn Hữu Dật làm giám chiến. Giữa hai nhánh Đại Giang và Kiến Giang thành một bãi chiến trường. Gươm đao, người chết, và lửa lẫn lộn nhau. Nhiều căn nhà bị cháy. Nhiều người gồng gánh tản cư. Tiếng khóc trẻ con hòa lẫn với tiếng người lớn gọi nhau. Chiến tranh đang có mặt.

      So ra quân Trịnh mạnh hơn nhiều, chẳng những quân số đã gấp đôi, mà còn mang tinh thần chính thống quân triều đình đi trừ loạn giặc. Phó tướng Nguyễn Khải cùng tướng tiên phong Lê Khuê đang xuất chiến. Phía sau là đại quân của Thanh Đô vương Trịnh Tráng.  Trong 3 ngày liên tiếp, quân bộ binh Đàng Trong cứ phải lui dần. Dù bị áp đảo, nhưng quân nhà Nguyễn đã tận sức chiến đấu. Xác người của hai bên lên tới số ngàn nằm chồng lên nhau cả trên bờ lẫn dưới nước. Với sự gan lỳ của phó tướng Nguyễn Hữu Dật chỉ giúp tiết chế Nguyễn Phúc Vệ cầm cự được ở hành lang dọc theo nhánh Kiến Giang. Nhánh Đại Giang hoàn toàn bỏ ngỏ, và quân Trịnh ồ ạt vượt qua núi Thần Đinh tiến về phương nam.

      Trong giờ phút áp đảo ấy, bỗng quân Trịnh khựng lại. Những tiếng pháo nổ ngay trên đầu của họ.  Hải quân của công tử thứ tư Nguyễn Phúc Trung từ Thanh Chiêm kịp kéo ra yểm trợ. Từ bờ biển họ đã nã đạn về đám quân Trịnh đương tiến tới. Đó là những trái đạn đầu tiên mà chúa Sãi có được qua giao dịch với người Bồ Đồ Nha ở Hội An. Chúng không nhiều, nhưng sức tàn phá mới lạ đã cầm chân quân địch. Tướng Nguyễn Hữu Dật lợi dụng tình hình nầy cho những toán cảm tử giả dạng quân Trịnh, phao tin có loạn ở Đông Kinh do Trịnh Gia và Trịnh Nhạc chủ xướng. Một thứ “đạn lạ” và một tin tức bất tường làm Trịnh Tráng suy tính hơn thiệt rồi cho quân rút lui. Họ để lại cả ngàn binh sĩ tử thương.

      Đó là cuộc chiến đầu tiên của hai nhà Trịnh Nguyễn, và đó cũng có thể gọi là chiến thắng của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Sau lần chiến thắng nầy có nhiều nhân sĩ tiếng tăm đến chúc mừng chúa Sãi, trong đó một vị tên Trần Đức Hòa. Ông nầy chỉ là một vị quan khám lý ở địa phương Qui Nhơn, nhưng là một đại hào sĩ giàu có. Lúc đi ông dẫn theo một người con rể tài hoa đến diện kiến chúa Sãi. Đó là Đào Duy Từ.

      Đào Duy Từ sinh năm 1572, nguyên là con của một kép hát ở Thanh Hoa. Rất thông minh, làu thông kinh sử, nhưng ông không được đến trường thi hội vì con của kẻ hát xướng. Ông trốn vào nam, nhưng con đường tiến thân của ông vẫn không dễ dàng. Ông mang một tài học uyên thâm làm những công việc tay chân để độ nhật trong một thời gian dài. Từ việc theo thuyền ở khúc sông Chợ Củi chở muối về nguồn, đến việc đi làm thuê cho những người giàu có ở Qui Nhơn. Chính nơi nầy đã có người giới thiệu ông với hào sĩ Trần Đức Hòa. Ông Hòa nể phục sự thông thái của ông và gả con gái cho ông. Khi Đào Duy Từ gặp được chúa Sãi năm 1627, thì hai người tuổi đã cao nhưng không muộn màng. Năm ấy chúa Sãi đã 64 họ Đào đã 55, và họ hiểu được chí khí và tài lược của nhau. Chúa Sãi phong Đào Duy Từ tước Lộc Khuê hầu, giữ chức Nha úy nội tán được tham lý mọi việc chính sự. Chúa Sãi thường gọi Đào Duy Từ là “thầy Từ”, vừa để tỏ ý thân mật vừa tỏ ý tôn trọng vị nhân sĩ không có học vị này.

      Họ Đào thường có những sáng kiến, và được chúa Sãi nghe theo. Tháng 10 năm 1629, chúa Sãi đã làm theo ý của Đào Duy Từ là nhận sắc phong của vua Lê Thần Tông là một ví dụ. Lúc ấy, muốn chiêu dụ Đàng Trong, Trịnh Tráng sai lại bộ thượng thư Nguyễn Khắc Minh mang sắc chỉ của vua Lê Thần Tông đến chúa Sãi. Theo đó, từ thái bảo quận công Nguyễn Phúc Nguyên được gia phong thành thái bảo quốc công, coi sóc hai xứ nam phương, đời đời hưởng quốc lộc. Cũng theo đó, với tước vị mới, phải chuẩn bị quân mã đưa quân tham chiến ở Cao Bằng. Lý do: thái úy Thông quốc công tức “vua” Long Thái Mạc Kính Khoan đang làm phản ở xứ địa đầu nầy. Chúa Sãi tham ý triều thần, và hầu hết đều có ý từ chối sắc phong để xác lập vị thế Đàng Trong của mình. Riêng Lộc Khuê hầu Đào Duy Từ khuyên chúa Sãi nên nhận, vì cứng rắn lúc nầy dễ gây ra một cuộc chiến tranh không đủ phần thắng. (theo Đại Nam Thực Lục. Chúa Sãi tạm nhận, nhưng trả sắc phong lại theo giai thoại đi sứ với chiếc mâm hai ngăn. Trong ngăn dưới có một tờ thiếp của chúa Nguyễn Phúc Nguyên gởi cho chúa Trịnh Tráng do Đào Duy Từ viết. Đó là một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt. Phùng Khắc Khoan của nhà Trịnh đã phát hiện trong mỗi câu thơ đều có một ẩn ngữ. Đọc từ trên xuống dưới các ẩn ngữ nầy, sẽ có nghĩa “dư bất thụ sắc” tức là ta chẳng chịu sắc). Nhận sắc phong, nhưng chúa Sãi cứ lần lữa không chịu đưa quân đến Cao Bằng. Ông vin vào cớ miền tận cùng phương nam lúc ấy là Phú Yên đương có chiến tranh.

      Thật vậy, quan trấn thủ phủ Phú Yên là Văn Phong không thực lòng hàng Đại Việt. Khó để biết vị quan trấn gốc Chiêm Thành nầy nuôi dưỡng lòng phục thù từ lúc nào, nhưng tháng 10 năm 1629 ông quyết định ly khai với chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Ông ta liên kết với quân Kauthara (Hoa Anh) tiêu diệt quân đội nhà Nguyễn dưới quyền. Từ dinh quốc trấn Phước Yên phò mã Nguyễn Phúc Vinh (chồng của công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Liên, con gái thứ của chúa Sãi) lập tức được cử đến Phú Yên.  Vinh vốn là con của tướng Mạc Cảnh Huống được cải sang họ chúa, nên học được nhiều tài thao lược của cha và của cha vợ. Từng đoạn đường phò mã Vinh đi qua, là từng chiến thắng. Văn Phong đã liên tiếp thất bại trước liên quân Qui Nhơn và Phước Yên hùng hậu. Ông ta đã chết trong trận cuối cùng, và Phú Yên được tái lập trật tự. Sau loạn Văn Phong, chúa Sãi thấy tầm quan trọng của vùng biên trấn nầy, nên ông đặc biệt chú ý. Tháng 12 năm 1529 ông nâng phủ Phú Yên thành dinh Phú Yên với đầy đủ binh lực, và hệ thống hành chánh. Vì là vùng biên trấn nên dinh Phú Yên thường được gọi là dinh Trấn Biên, kể cả trên các văn bản.

      Tương tự như sự tăng cường quân sự vùng đất cực nam, ở vùng cực bắc cũng thế. Tháng 9 năm 1630 châu Nam Bố Chính ở cực bắc dinh Thuận Hóa cũng được nâng lên hàng dinh. Đó là phần đất từ bờ nam sông Gianh đến Động Hải (ngang cửa sông Nhật Lệ), và chúa Sãi đặt tên là dinh Bố Chánh. Tính theo ngày thành lập; đây là dinh thứ 4 sau Thuận Hóa, Quảng Nam, và Phú Yên. Ngay trong năm 1630 nầy, một kế hoạch phòng thủ chống Đàng Ngoài được Đào Duy Từ soạn thảo trình lên chúa Nguyễn Phúc Nguyên.

      Theo đó, dinh Bố Chánh lập nhiều đồn trại để canh phòng và thám thính. Ngoài các đồn trại ở dinh nầy;  ở các nhánh sông đổ về sông Nhật Lệ, hai chiến lũy được đắp lên. Một: Lũy Trường Dục, khởi công cuối năm 1630. Lũy nầy lấy hai nhánh Đại Giang và Kiến Giang làm hào chặn. Nó khởi đi từ chân núi Thần Đinh qua làng Cổ Hiền, và dài khoảng mươi cây số. Hai: Lũy Trấn Ninh, bắt đầu mùa hè năm 1631. Lũy nầy lấy nhánh Lệ Kỳ làm hào chặn. Nó khởi đi từ núi Đầu Mâu qua làng Trấn Ninh, và dài khoảng mười hai cây số. Nó ở phía bắc lũy Trường Dục, nên có người gọi là lũy Bắc thay cho tên gọi lũy Trấn Ninh hay lũy Đầu Mâu. Hai thành lũy nầy đều có độ cao 3m, chiều rộng 6m được đắp bằng một loại đất sét có độ dẻo cao. Chúng được gọi chung là lũy Đào Duy Từ hay gọi tắt là lũy Thầy.

      Trong hai năm Đàng Trong đắp lũy Thầy, thì Đàng Ngoài cũng bắt đầu giao dịch với người nước ngoài. Các tàu ngoại quốc đang tìm thị trường buôn bán và truyền giáo đã được Đàng Ngoài tiếp nhận mau lẹ. Sự lợi hại của mấy trái đạn pháo của Đàng Trong trong cuộc chiến 1627, đã khiến chúa Trịnh Tráng rộng mở cửa sông Hồng. Phố Hiến nằm trên bờ tả ngạn con sông huyết mạch nầy được thành lập. Nó nằm bao quanh trị sở ty hiến sát của trấn Sơn Nam ngày xưa. Dấu tích đền thờ sứ quân Phạm Bạch Hổ, đền thờ đức Trần Hưng Đạo, đền thờ tướng quân Phạm Ngũ Lão, trị sở ty hiến sát Sơn Nam vẫn còn đó. Đầu năm 1633 bao quanh những khu di tích lịch sử nầy, đã có những khu phố đông người. Dù phát triển sau Hội An, nhưng phố Hiến cũng đủ tiếng nói, đủ loại người trên những con tàu tấp nập.

      Nếu Trịnh Tráng lập ra một phố Hiến có những giao thương với nước ngoài được nhiều nơi biết đến, thì ông cũng làm một việc lạ đời mà thiên hạ lúc ấy ít ai hay: Gả đứa con gái góa của mình cho đương kim hoàng đế, Lê Thần Tông. Mối lương duyên cô cháu Nguyễn Phúc Ngọc Tú và Trịnh Tráng ngày xưa sinh ra tiểu thư Trịnh Thị Ngọc Trúc. Là phận gái, nhưng Ngọc Trúc giỏi thơ văn, làu thông kinh sử và kinh điển phật giáo. Cô tiểu thư nầy được gả cho Cường quận công Lê Trụ là chú của vua Lê Thần Tông. Qua 20 năm, họ đã có 3 mặt con. Năm 1630, Lê Trụ bị tội rồi chết trong tù cùng năm. Lúc nầy cô tiểu thư Ngọc Trúc năm xưa đã là một góa phụ 36 tuổi. Người cha Trịnh Tráng muốn quấn chặt quyền lực của mình lên nhà Lê đã đem Ngọc Trúc gả cho vua Lê Thần Tông.

      Đến năm 1630 nầy; nhà vua tròn 23 tuổi đã có hoàng hậu họ Nguyễn, và đứa con trai một tuổi Lê Duy Hựu. Đó là một gia đình êm ấm, bỗng nhiên người góa phụ Trịnh Ngọc Trúc bị ném vào để thay thế hoàng hậu họ Nguyễn. Không biết số phận của bà hoàng hậu họ Nguyễn về đâu, chỉ biết cuộc lương duyên mới nầy được tác thành. Bà thiếm dâu Trịnh Ngọc Trúc, cũng là chị em cô cậu ruột với nhà vua đã trở thành tân hoàng hậu (vua Lê Thần Tông là con của bà Trịnh Thị Ngọc Trinh, nhà vua gọi Trịnh Tráng là cậu ruột). Khó để nói cặp vợ chồng Trịnh Ngọc Trúc – Lê Thần Tông nầy có hạnh phúc, nhưng kể từ đây Trịnh Tráng có thêm cái quyền quốc trượng bên cạnh quyền thái tể Thanh Đô vương.

      Nếu Đàng Ngoài lập Phố Hiến là một tin vui, và vua Lê Thần Tông bị ép lấy người thiếm dâu của mình là một tin buồn; thì Đàng Trong cũng có hai tin vui buồn như thế. Tin vui: Mùa xuân năm tân mùi 1631 chúa Sãi gả công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Khoa về làm vợ vua Chiêm Thành Po Rome. Công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Khoa lên thuyền tại cảng Chiêm như hai người chị Ngọc Hoa và Ngọc Vạn của hơn 10 năm về trước. Nào ai biết được mai sau, nhưng những ngày xuân ấy đã có những nụ cười Chiêm Việt. Cô công nữ Ngọc Khoa thật sự yêu thương vị vua của nước láng giềng. Cô không mang nỗi buồn Huyền Trân. Ở tuổi 17 cô thực sự làm cầu nối giữa hai đàng Việt Nguyễn và Chiêm Thành.

      Tin buồn: Cùng trong năm tân mùi 1631 ấy, tháng 6, tổng trấn Quảng Nam dinh Nguyễn Phúc Kỳ đột tử. Ông chết để lại hai người vợ trẻ là Bùi Thị Phượng và Tống Thị Toại cùng 4 người con. Đang là một trừ vương uy tín sẽ lên thay thế quyền cha, nên cái chết bất ngờ của ông Kỳ đã đưa đến nhiều xáo trộn. Chúa Sãi chọn công tử thứ hai Nguyễn Phúc Lan làm thế tử, và đưa công tử thứ ba Nguyễn Phúc Anh làm tổng trấn Quảng Nam dinh. Theo Đại Nam Thực Lục thì công tử Nguyễn Phúc Anh không phục sự chọn lựa của cha mình nên đã có ý mưu phản. Theo đó, trong lúc làm tổng trấn Quảng Nam dinh, ông đã ngấm ngầm bắt tay với Trịnh Tráng để làm nội ứng. Việc sử nhà Nguyễn buộc Nguyễn Phúc Anh là kẻ phản loạn chưa biết có đúng thật không, nhưng Trịnh Tráng mang quân vào nam lần thứ hai là có thật. Đó là tháng 12 năm 1633.

      Lần thứ hai nầy, Trịnh Tráng cũng hộ vệ vua Lê Thần Tông xuất chinh. Tuy nhiên, quân Trịnh đã không thuận lợi như lần đầu trong năm 1627 trước đây. Tại vòng đai Lũy Thầy, quân Nguyễn tiến thoái nhịp nhàng dưới sự chỉ huy của tướng Nguyễn Hữu Dật và phó tướng Nguyễn Hữu Tiến. Tiến vốn là người trẻ tuổi tài ba được Đào Duy Từ nhận làm con rể và tiến cử với chúa Sãi. Hai vị tướng họ Nguyễn Hữu đã điều động quân biên phòng giữ thành lũy vững vàng suốt 15 ngày chiến đấu. Đã có những toán quân Trịnh liều lĩnh tấn công vào những pháo đài trên mặt thành, nhưng chẳng còn ai được sống sót. Đến ngày thứ 16 quận Trịnh rút quân về với lý do không chắc thắng, và không bắt được liên lạc với quân nội ứng Nguyễn Phúc Anh (?). Chiến cuộc lần thứ hai quân Nguyễn thiệt hại rất ít, chỉ ở hàng chục, nhưng chúa Sãi cũng xây thêm hào lũy thứ ba ở mặt biển theo sự tấu trình của tướng Nguyễn Hữu Dật. Lần nầy cũng đích thân Đào Duy Từ coi sóc. Ông nghiên cứu từng loại đất sét để phù hợp với vùng đất cát pha. Ông định hành lang phòng tuyến và đặt trạm gác thích hợp để chống lại địch quân tấn công từ mặt biển. Lũy mang tên Sa Phù hay Trường Sa được đắp tháng 6 năm 1634. Nó dài 7 cây số dọc theo bờ biển phía nam cửa Nhật Lệ. Khi đắp xong lũy Sa Phù thì việc phòng thủ mặt bắc hầu như rất vững vàng. Ba lũy Trấn Ninh, Trường Dục và Sa Phù sẽ là thành trì kiên cố. Rất tiếc hai người để tâm huyết nhiều nhất vào việc xây thành lũy nầy lại lần lượt qua đời. Đào Duy Từ chết vào tháng 10 năm 1634 khi lũy Sa Phù chưa xong, ông chỉ vừa qua tuổi 61. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên mất vào tháng 11 năm sau, năm 1635, khi ông được 72 tuổi. Trước khi mất chúa Sãi gọi triều thần dặn dò việc nước, và trao quyền cho thế tử Nguyễn Phúc Lan. Không biết vị chúa thứ ba của Đàng Trong sẽ làm gì trong cuộc chiến tranh đối đầu với nhà Trịnh.

Tưởng như thế ra rằng không thế
Xứ Đàng Trong một dạ xưng hùng
Thuế xưa không đóng tình không đón
Đôi ngả đôi đường bất nhượng dung

Trịnh xuống chiếu từ Lê hoàng đế
Gọi Phúc Nguyên thần tử nhà Lê
Xưa nay lập chí trung quân quốc
Há để nhơ danh khéo trở về

Tình là thế mà danh không thế
Lê hưng vong mấy lối mấy đường
Thờ Lê đâu khác chi thờ Trịnh
Cũng khó vì đời chịu khó thương

Trung với nước nguồn cơn khó tả
Đâu vua Lê đâu ý chúa Tiên
Giang sơn đã định từ muôn trước
Đất phương nam chúa Nguyễn tiền hiền

Nghĩa là thế, trung quân là thế
Lòng rạch ròi nam bắc phân tranh
Sãi vương chiến sách quân binh mã
Dòng Linh Giang nước quặn phải đành

Rồi một sớm chiến tranh đã đến
Non nước nầy lại nối can qua
Điêu linh Lê Mạc chưa từng khỏi
Trịnh Nguyễn phân tranh đến đó mà!

Muôn lê thứ đôi đàng khổ nạn
Người bắc nam chở nỗi oan khiên
Bao quân Việt Bắc tràn Nam Việt
Bố Chính hờn lên dấu oán phiền

Quân Trịnh Nguyễn như đà hò hẹn
Nước sông Gianh từng lớp phong ba
Sá chi cái giá nhà Lê ấy
Mà tiếc quân vương tiếc nước nhà

Trịnh thắng thế tràn về Nhật Lệ
Dòng Đại Giang khó cản quân thù
Kiến Giang người chết không thể đếm
Lớp lớp vô cùng buổi chớm thu

Khó nhường nhịn dù sai dù đúng
Thắng hay thua gươm giáo thi tài
Chính nghĩa đã trôi từ muôn trước
Nước Việt nầy Trịnh Nguyễn chia hai

Trận Nhật Lệ ai thua ai thắng
Bắc rút về, nam rõ oai phong
Sãi vương thế đứng riêng trời đất
Chiêu tập hiền nhân mở Nguyễn giòng

Nào Hữu Dật, Phúc Trung, Hữu Tiến
Nào Duy Từ hàn sĩ tài ba
Lũy Thầy được đắp ngăn quân Bắc
Giai thoại “từ phong” sứ Bắc Hà

Từ tiên chúa xa trông buổi trước
Nay Sãi vương rộng mở quân dinh
Trấn Biên xa mút về đâu tá
Thiên hạ nhà Nam mộng trị bình

Nam như thế, Bắc về phố Hiến
Lập điếm thương tranh với phố Hoài
Sông Hồng về biển mênh mông quá
Mà tiếc vua mình cứ nhỏ nhoi

Vua cô thế nhận chân làm rể
Lấy thiếm dâu, người chị cậu cô
Vốn là góa bụa con vương Trịnh
Ngọc Trúc buồn hiu chiếc hậu bào

Buồn phương bắc, phương nam nào khác
Giá mỹ nhân lại cột bính quyền
Ngọc Khoa hương sắc về Chiêm xứ
Đất Chàm công nữ phận thuyền quyên

Chưa biết được yên an phương ấy
Ở phương nầy có kẻ ra đi
Phúc Kỳ thế tử Thanh Chiêm trấn
Phận số không may chết giữa kỳ

Từ dạo ấy thị phi rối loạn
Đâu Phúc Anh, đâu lại Phúc Lan
Đâu Tống Thị, đâu quyền thế tử
Triều đình Nam mấy độ bàng hoàng

Chúa Sãi lập Phúc Lan thế tử
Giao trấn dinh đất Quảng: Phúc Anh
Ai người gian dối đi thờ Trịnh
Chính sử ngàn sau có chữa lành

Rồi đến lúc xuân xanh đã mãn
Ai người đi, ai trước ai sau
Duy Từ đi trước mùa đông trước
Chúa Sãi theo sau chậm tháng ngày

Sãi vương chết mùa đông ất hợi (1635)
Nguyễn Phúc Lan nối tập quyền cha
Ngoài kia đất bắc vương Trịnh Tráng
Nguyễn Trịnh phù Lê quả mặn mà!


<<  |  >>