Skip to content

Chương 21/2

LÊ TRUNG HƯNG
(1529 – 1789)

Đoạn hai

THỜI KỲ TIỀN CHIẾN TRANH TRỊNH NGUYỄN

 

      Từ hai thập niên đầu của thế kỷ 17, ở Thuận Hóa và Quảng Nam yên ổn hơn đất bắc. Nếu Trịnh Tùng phải lo chống tàn dư nhà Mạc và phế lập vua Lê, thì Nguyễn Hoàng và người con trai Nguyễn Phúc Nguyên lo canh tân hai thừa tuyên miền nam. Khi Nguyễn Hoàng bình an về đến Trà Bát trong mùa hè 1600 thì quan ngự sử Lê Nghĩa Trạch mang thư của Trịnh Tùng đến. Thư không nhân danh vua Lê mà lời thư của người cháu Trịnh Tùng, vừa ân tình vừa đe dọa. ĐVSKTT trong chương viết về vua Lê Kính Tông đã viết: “Bậc đại thần, nghĩa phải cùng vui cùng buồn với nước. Cậu đối với nước mà nói thì là bề tôi huân cựu đời đời, đối với nhà mà nói thì là tình nghĩa chí thân…..[một đoạn dài nói về ân tình và công lao từ Nguyễn Kim đến Trịnh Kiểm đến lúc Nguyễn Hoàng bỏ trốn về nam, sau đó kể tội Nguyễn Hoàng]….. Việc đã như thế, nếu cậu quả biết tỉnh ngộ ra, hối lại lỗi trước, nghĩ đến công nghiệp của tổ tiên nên sai người mang thư đến hành tại lạy trình, rồi đốc nạp tiền thuế để cung việc chi dùng của nhà nước lấy công chuộc lỗi, triều đình đã có pháp điển, mà công lao ngày trước của cậu được vẹn toàn, huân danh sự nghiệp bao đời được vẹn toàn mãi mãi. Nếu không thế thì lấy thuận đánh nghịch, triều đình hùng binh đã có cớ rồi, danh tiết của cậu sẽ ra làm sao? Cậu trong việc quân vẫn thường lưu ý đến kinh sử, xin hãy nghĩ kỹ, đừng để hối hận về sau”. Nhận được thư, Nguyễn Hoàng cố làm dịu tình hình để không gây nên chiến tranh. Ông nạp thuế, và đặc biệt gợi ý gả đứa con gái út cho con trưởng Trịnh Tùng để kết thân. Người con gái có tên Nguyễn Phúc Ngọc Tú được gả làm thiếp cho Trịnh Tráng, con trai trưởng của Trịnh Tùng. Lúc nầy Tráng 24 tuổi đã có chánh thất, và được phong làm thái phó Thanh quận công.

      Việc đóng thuế, và mối lương duyên cô cháu giữa Nguyễn Thị Ngọc Tú và Trịnh Tráng là một phần giúp cho bình yên phương nam. Lúc nầy mộng tự trị, hay xa hơn là mộng lập quốc đã thôi thúc Nguyễn Hoàng. Năm 1601, ông xây dinh quốc trấn Trà Bát kiên cố hơn, và ông cho lập một số thiền tự chùa tháp để thu phục nhân tâm. Bà tiên mặc áo đỏ hiện về trên đồi Hà Khê ở kẻ Huế không ai thấy, nhưng người ta tin là thật. Theo đó bà tiên là một thiên sứ đến xứ sở nầy để cứu độ lê dân qua một vị chân chúa. Niềm tin cứ lan truyền, và chùa Thiên Mụ được lập thành. Chùa còn đơn sơ, nhưng mang một huyền thoại thần thánh. Điều nầy giúp không ít cho chúa Nguyễn Hoàng thành công. Đầu năm 1602 ông lập trấn thành Thanh Chiêm làm lỵ sở thừa tuyên Quảng Nam. Thành nầy ở tả ngạn sông Chợ Củi mà xa xa phía bên kia sông là cổ thành Simhapura của Lâm Ấp cả ngàn năm trước. Sông Chợ Củi vốn là đoạn hạ nguồn của sông Thu Bồn, mà tiếp theo nó là đoạn sông Hoài đổ ra cửa biển. Từ khi chọn Thanh Chiêm làm lỵ sở thì sông Hoài cũng sống lại. Nó trở thành nơi quần tụ cho những người theo đường biển đến và đi khỏi Thanh Chiêm. Bên tả ngạn bờ sông là một phố thị Chàm tiêu sơ có từ xa xưa, mà không còn ai biết tên. Sự bồi đắp của phù sa và tàn lụi của đất nước Chiêm Thành đã làm phố dần dần xa biển và phố dần dần mất đi. Từ khi tướng Bùi Tá Hán đưa quân nhà Lê vào diệt quân nhà Mạc năm 1545, thì phố nầy cũng đã tiêu sơ rồi. Bên nầy sông là một dãy phố nghèo nàn đổ nát, bên kia sông là những gò bồi tiêu điều không người ở. Đó là lúc người ta nghe người Chàm kể về huyền thoại một phố thị xưa. Phố có những chuyến đi xa ra biển của tổ tiên họ. Phố cũng có những chiến thuyền theo dòng sông về mạn ngược bảo vệ cổ thành Simhapura. Họ kể như thế, nhưng họ cũng không biết tên phố là gì. Từ đó những người lính Việt dưới thời tổng trấn Bùi Tá Hán gọi phố ấy là phố Hoài, và dòng sông cùng mang tên của phố. Riêng cửa biển thì người ta gọi là cửa Chiêm. Cửa Chiêm, phố Hoài và sông Hoài đã chết dần như thế cho đến cuối năm 1602 mới bắt đầu tỉnh lại. Đó là lúc chúa Nguyễn Hoàng cử Nguyễn Phúc Nguyên vào Thanh Chiêm giữ chức tổng trấn Quảng Nam. Người con trai thứ sáu nầy trở thành người con trai lớn nhất, khi các người con lớn đã chết và người con thứ năm Nguyễn Hải vẫn còn làm con tin ở Bắc Hà.

      Khi đến Thanh Chiêm, Nguyễn Phúc Nguyên đã 39 tuổi, ông là một người có tài và có duyên nợ với nhà Mạc. Thử lùi lại 10 năm về trước, năm 1592. Khi ấy quân Trịnh Tùng ồ ạt chiếm lấy Đông Kinh, vua Mạc Mậu Hợp phải chạy về Hải Dương và các tôn thất nhà Mạc tản lạc khắp nơi. Nếu anh em Mạc Kính Chỉ và Mạc Kính Cung lên Kinh Bắc để chiêu quân kháng chiến, thì hai ông có hai người em gái út theo một chuyến tàu lưu lạc vào nam. Đó là Mạc Thị Giai và người em kế. Cô Giai lúc ấy mới 15 tuổi, nhưng cũng biết mình có một người chú là Mạc Cảnh Huống đã theo Hạ Khê hầu Nguyễn Hoàng vào nam  từ năm 1558. Dĩ nhiên là chú cháu nầy chưa hề gặp mặt nhau, nhưng họ đã sớm nhận ra tình máu mủ. Mạc Cảnh Huống đang là một tổng binh và là một trợ thủ đắc lực của Nguyễn Hoàng nên đứa cháu gái mau chóng được sự giúp đỡ cuả họ Nguyễn. Cô gái 15 tuổi đang từ nơi khuê các phải trở thành kẻ mất nước mất nhà đã làm động lòng vị tướng trẻ tuổi Nguyễn Phúc Nguyên lúc ấy đã 29 tuổi. Cuối năm 1593 khi cô Mạc Thị Giai chỉ chớm 16 tuổi, họ trở thành vợ chồng để cùng với các tướng Nguyễn Ư Kỷ, Mạc Cảnh Huống, Tống Phước Trị gánh vác hai xứ Thuận – Quảng. Đó là thời gian tổng lưỡng trấn Nguyễn Hoàng mới ra bắc và bị cầm chân suốt 8 năm.

      Khi vào trấn thủ Quảng Nam năm 1602, thì ông bà Nguyễn Phúc Nguyên đã có 6 mặt con: Nguyễn Phúc Kỳ, Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Anh, một người con gái nuôi Nguyễn Phúc Ngọc Hoa, và hai người con gái ruột Nguyễn Phúc Ngọc Vạn, Nguyễn Phúc Ngọc Khoa. Đó cũng là lúc thừa tuyên Quảng Nam được rộng ra hơn, vì chúa Nguyễn Hoàng có những điều chỉnh địa lý. Tháng giêng năm 1603, chúa cho đổi từ “thừa tuyên” thành “dinh”. Có nghĩa là từ đây có dinh Thuận Hóa và dinh Quảng Nam theo hệ thống: dinh, phủ, huyện, xã, làng. Dinh Quảng Nam vẫn có 3 phủ cũ, nhưng phủ Hoài Nhơn đổi tên gọi thành phủ Quy Nhơn. Năm 1604 tách huyện Điện Bàn từ phủ Triệu Phong của dinh Thuận Hóa về dinh Quảng Nam và được nâng lên hàng phủ. Không biết những sửa đổi hành chánh nầy có gợi ý cho chúa Nguyễn Hoàng nhìn xa hơn hay không, mà ông đã bắt đầu cho “thăm dò” vùng đất của vương quốc Chàm. Nó vốn bị đẩy lùi về bên kia đỉnh Thạch Bi, và đã chia thành thành 3 vương quốc nhỏ từ hơn trăm năm trước.

      Đến những năm đầu của thế kỷ 17 nầy thì vùng biên giới Việt Chiêm vẫn còn là vùng hoang sơn địa không rõ ràng. Nhiều mõm đá vôi trên núi từ đèo Cù Mông đến đèo Cả lúc bấy giờ đều có thể gọi là đỉnh Thạch Bi. Mùa xuân 1611, chúa Nguyễn Hoàng sai Văn Phong, một thuộc tướng gốc Chàm, và Lương Văn Chánh mang quân tiến về phía nam để xác định huyện Tuy Viễn. Nguyên huyện nầy thuộc phủ Qui Nhơn (Hoài Nhơn cũ) có chung đường biên giới với xứ Hoa Anh của Chiêm Thành, mà núi Thạch Bi là điểm giữa. Nó được vua Lê Thánh Tông thành lập từ năm 1471. Núi Thạch Bi đã không rõ, thì dĩ nhiên biên cương huyện Tuy Viễn cũng không thể nào minh bạch. Đó là lý do có chiến tranh Việt – Chiêm khi một trong hai bên cần xác định. Và, nó thật không cân sức. Quân Chiêm phải nhượng bộ, họ phải công nhận núi Thạch Bi nằm ở đèo Cả (địa điểm hiện tại). Chúa Nguyễn Hoàng thu nhỏ huyện Tuy Viễn về phía bắc đèo Cù Mông. Từ đèo nầy kéo về phía nam đến đỉnh Thạch Bi, chúa Nguyễn Hoàng đặt tên là phủ Phú Yên. Nó gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa. Đây là phủ thứ 5 của dinh Quảng Nam sau Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Qui Nhơn và Điện Bàn. Nó là phủ cực nam sát biên giới Chàm, và được giao cho Văn Phong trấn giữ. Có được Phú Yên khiến dinh Quảng Nam rộng thênh thang. Đây là thời kỳ rộng nhất của dinh nầy, từ Hải Vân đến đèo Cả.

      Không có chứng từ nào để nói tổng lưỡng trấn Nguyễn Hoàng có báo cáo về triều Lê việc phủ Phú Yên mới thành lập, và những sửa đổi địa chính trước đó. Điều nầy như là một thái độ ly khai mà hai thời mốc 1558 và 1570 không làm được. Do vậy, lần trở vào nam năm 1600 của Nguyễn Hoàng, người ta đã gọi ông là chúa Tiên, tiền hiền của một Đàng Trong gồm hai xứ: dinh Thuận Hóa và dinh Quảng Nam. Theo dân gian thì “Tiên” có hai nghĩa: vừa là khởi đầu vừa là tiên thánh do trời sai xuống lập Đàng Trong, nhưng trong chữ thì chỉ có nghĩa thứ hai.

      Sau khi kéo dinh Quảng Nam rộng thêm được đến cả Phú Yên thì chúa Nguyễn Hoàng đã quá trọng tuổi. Ở tuổi 87 thể lực đã suy yếu, nhưng tinh thần mở rộng biên cương vẫn chưa dừng. Nó xung khắc với lòng hòa ái của ông, nhưng nó về hùa với mộng bành trướng của một đế vương. Tấn công phương bắc? Dĩ nhiên là không được. Tiếp tục chiếm đánh phương nam? Ở đó, một dân tộc Chàm hiền hòa, chịu đựng, nhưng sẵn sàng trở nên hung dữ. Không nên dồn họ đến đường cùng. Lợi bất cập hại. Ánh mắt của lão tướng như một kiếm thủ đi khai phá nhìn xa xăm hơn về hướng đông. Trên những cuộn sóng vừa quen thuộc vừa xa lạ kia là những hoang đảo mà ông nghe những gia thuộc kể lại trên đường trở về nam năm 1600. Chinh phục. Mùa xuân canh tý 1612, tức 1 năm sau có đất Phú Yên, chúa Nguyễn Hoàng đưa quân lên những hòn đảo ngoài khơi đầy những cát vàng nằm gần nhau. Ở đây chưa có dấu chân người, và chúa Nguyễn Hoàng đặt tên quần đảo nầy là Hoàng Sa. Mộng ước còn đi xa hơn nữa, nhưng thường không chiều theo tuổi đời. Vị tiền hiền nhà Nguyễn mở mang phương nam nầy mất vào năm sau. Đó là mùa hè năm 1613, ở tuổi 89.

      Chúa Nguyễn Hoàng mất đi là nỗi mất mát lớn của nhà Nguyễn. Tổng trấn dinh Quảng Nam Nguyễn Phúc Nguyên từ Thanh Chiêm về Trà Bát thọ tang cha với lòng buồn rười rượi. Đó cũng là lúc ông được vua Lê Kính Tông gia tước Thái bảo quận công và cho thay cha giữ chức tổng lưỡng trấn Thuận – Quảng. Trên đà tiếp tục thực hiện một đất nước hưng thịnh riêng lập, Nguyễn Phúc Nguyên từng bước đi tiếp. Giống như cha, đối với vua Lê ông chỉ là tổng lưỡng trấn, nhưng đối với lê dân Đàng Trong ông là chúa. Tháng 4 năm 1614 vị chúa Nguyễn thứ hai nầy giao cho con trưởng Nguyễn Phúc Kỳ làm tổng trấn Quảng Nam dinh, và ông đặt ra tam ty ở “triều đình” Trà Bát. Ty Xá Sai coi việc văn án, từ tụng; ty Tướng Thần coi việc trưng thu tiền thóc và phát lương cho các đạo; ty Lệnh Sử lo việc tế tự lễ tiết và riêng phát lương cho quân đội bảo vệ “hoàng thành”. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên chuộng Phật giáo Đại Thừa, nhưng vẫn tôn trọng Phật giáo Nguyên Thủy, Ấn giáo và Hồi giáo của đa số người Chiêm Thành. Từ đó người ta gọi ông là chúa Sãi mang ý nghĩa một vị chúa hiền từ, dung hòa. Tinh thần “sãi” của chúa Sãi đã giúp làm tan những gợn sóng bất đồng về sắc tộc và tôn giáo giữa hai sắc dân Chàm – Việt lúc bấy giờ. Trong thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên có những bước đi không còn dè dặt với Bắc Hà như thời chúa Nguyễn Hoàng.

      Về quân sự, cách tuyển binh và quyền lợi được áp dụng đồng đều cho độ tuổi trai tráng bất cứ nguồn gốc nào. Dưới quyền của Thống binh Mạc Cảnh Huống chưa phát huy thành những binh đoàn lớn, nhưng đã có những binh đội giữ cửa biển, đường sông và đất liền. Không nói chống lại nhà Lê – Trịnh, nhưng cũng chỉ ra rằng họ đủ sức tự vệ nếu bị tấn công. Về kinh tế cũng bắt đầu phát triển. Từ năm 1616 đến nhiều năm sau, tổng trấn Quảng Nam Nguyễn Phúc Kỳ thừa lịnh của cha cho khai thác trầm hương, vàng, đồng, quế và gỗ ở miền núi. Dinh trấn Thanh Chiêm là nơi trung chuyển nhiều nguồn lâm sản đi các nơi. Một làng nghề đúc đồng được khai sinh ở đây. Chủ yếu họ làm chuông, khánh, và đèn thờ… Người ta đã dùng gỗ quí để làm nhà rường và đóng thuyền. Hải quân dần dần có những binh đội đường biển lớn hơn, và nghề đánh cá cũng không còn chỉ đánh bắt ở ven bờ. Lúc nầy đã có thuyền buôn ngoại quốc cập bến cửa Chiêm để giao thương với dinh trấn Thanh Chiêm. Họ là người Nhật, người Tàu, người Chân Lạp, người Ấn. Người Bồ Đào Nha từ thuộc địa Ma Cao cũng đến buôn bán.

      Tất cả những phát triển đó đã làm cho Đàng Trong và nhất là Thanh Chiêm bắt gặp đạo Thiên Chúa và chữ Quốc Ngữ rất sớm. Giáo sĩ Francisco de Pina đã theo tàu buôn Ma Cao ghé cửa Chiêm vào năm 1615. Ông và những giáo sĩ khác đã dừng lại trấn thành Thanh Chiêm nhiều lần. Họ đã dùng mẫu tự La Tinh tạo ra một thứ tiếng Việt khác với tiếng Nôm lúc bấy giờ. Họ dùng ngôn ngữ mới nầy truyền đạt ý chúa, và đã thành công. Có thể nói giáo sĩ Francisco de Pina là người khai sinh ra chữ Quốc Ngữ, nhưng ở những năm đầu của thế kỷ 17 nầy sự phổ cập của nó rất giới hạn.  Bên cạnh việc truyền đạo thì việc giúp mua vũ khí cũng được đặt ra. Súng trường và súng đại bác hạng nhẹ mà Đàng Trong có được cũng nhờ các vị giáo sĩ nầy.  Nhìn chung Thanh Chiêm còn phát triển hơn cả dinh quốc trấn Trà Bát. Nhưng, đến khoảng năm 1619 – 1620 thì Thanh Chiêm phải nhường địa vị nầy cho phố Hoài.

      Vì địa thế gần cửa biển, vì tàu ngoại quốc lớn không thể đi sâu vào nguồn sông là hai lý do phố Hoài vượt trội Thanh Chiêm. Đường về lỵ sở Quảng Nam vẫn nhộn nhịp, nhưng không còn quan trọng. Điều kiện tự nhiên đã giúp phố Hoài tự nó đứng vững và phát triển. Người Ấn và người tây phương lưu trú tại đây thay vì Thanh Chiêm như lúc trước. Người Phi, người Mã Lai, Người Thái, người Chân Lạp đều có mặt. Người Tàu và người Nhật thường trực hơn. Nhiều người của họ đã xin định cư ở đây, và đã được chúa Nguyễn Phúc Nguyên chấp thuận. Theo tính quần tụ của những người xa xứ, hai sắc dân nầy đã có hai khu phố nhỏ dọc theo bờ sông. Nhưng đông hơn cả, vẫn là người Việt tập trung về đây. Người ta xây nhà và lập phố. Quả phố Hoài đã thành nơi tụ hội để an cư lập nghiệp. Tên Hội An mang ý nghĩa nầy được khai sinh, thay cho một phố Hoài hoài niệm. Cửa Chiêm cũng không còn tên gọi mà người ta đã đặt là cửa Đại. Nó là nơi cập bến của các tàu lớn để chuyển hàng về các cửa Đà Nẵng, cửa Eo (Thuận An) và Thị Nại.

      Bên cạnh những chuyến tàu đến và đi đầy hàng hóa, thì cũng có những chuyến tàu ra khơi mang theo số phận của những vị công nữ.  Năm 1619 chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả người con gái nuôi Nguyễn Phúc Ngọc Hoa cho một thương nhân người Nhật. Năm 1920 chúa gả người con gái ruột Nguyễn Phúc Ngọc Vạn về thủ đô Oudong cho vua Chân Lạp Chey Chetta II. Đó là những cuộc lương duyên chính trị mà “thủ đô” Trà Bát đã cho những đứa con gái của mình lên thuyền ra khơi từ cửa biển này. Đến năm1626 khi chúa Sãi dời đô từ Trà Bát về Phước Yên, thì Hội An đã phát triển khá rõ rệt. Bên cạnh những tụ điểm trao đổi ở ven sông đã có những vựa, những sạp phân phối hàng hóa ở những con đường phía trong. Người ta đã xây nhiều dãy nhà có tường gạch với những cột gỗ, đá tán. Nếu Phước Yên và Thanh Chiêm là hai trấn dinh chính trị, thì Hội An được xem là chiếc nôi kinh tế của Đàng Trong.

      Đàng Trong của nhà Nguyễn có những bước đi như thế thì họ Trịnh đương làm gì ở Đông Kinh? Cái “nề nếp” vương phủ Trịnh và triều đình Lê điều hành đất nước từ năm 1619 vẫn được duy trì. Đến tháng 6 năm 1623 chúa Trịnh Tùng bị ốm. Lúc nầy họ Trịnh đã 73 tuổi, ông nghĩ đến việc lập người thừa kế mà trước đây Lê Bật Tứ đã đề nghị. Trịnh Tùng có 4 con trai. Người con trưởng đã chết lúc còn nhỏ, đứa con út tên Khải không tranh ngôi, chỉ còn lại Trịnh Tráng và Trịnh Xuân. Xuân cũng có tài điều quân, nhưng là em và có vết mờ liên kết với vua Lê Kính Tông năm 1619, nên Trịnh Tráng được chọn làm thế tử. Điều nầy có nghĩa là từ năm 1623 nầy, song song bên vua Lê có thái tử thì bên vương phủ Trịnh có thế tử.

      Điều cha truyền con nối thế tử bên phủ Trịnh là một điều trái với trật tự vua tôi, mà vua Lê Thần Tông không có quyền lực để bỏ đi hoặc phản đối. Nhưng, một người khác lại phản đối. Trịnh Xuân nổi loạn. Lợi dụng lúc vương phụ Trịnh Tùng còn yếu, Trịnh Xuân đưa quân bản bộ đốt phá nhiều nơi và trực tiếp mang tinh quân vào Trịnh vương phủ. Trước thế hung hăng của kẻ làm càn, Trịnh Tùng phải chạy ra Thanh Oai trong tình trạng suy nhược. Với cố gắng cuối cùng, ông phủ dụ Trịnh Xuân để lừa bắt và giết thằng con nghịch tặc trước khi qua đời. Sau khi Trịnh Xuân bị giết, thì Trịnh Tùng cũng chết, sinh ra nhiều thứ loạn khác. Loạn cướp, loạn của quân trung thành với Trịnh Xuân, và nhất là quân đội của Mạc Kính Cung và Mạc Kính Khoan trở về. Trước tình thế ấy, Trịnh Tráng phải vội vàng lo tang chế cho cha, và đưa vua Lê Thần Tông chạy về Thanh Hoa. Đông Kinh một lần nữa bị bỏ ngỏ.

      Vừa đến Thanh Hoa vào tháng 7 năm 1623, vua Lê Thần Tông phong Trịnh Tráng tước Thanh quốc công giữ chức Bình chương quốc quân trọng sự. Đây là chức vụ của Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng đời trước mà nó nghiễm nhiên trở thành thế tập đến đời thứ ba. Ở Thanh Hoa được 3 tháng, Trịnh Tráng đưa quân về lại thủ đô dẹp các loạn tướng. Đó là lúc họ đã trở nên kiệt quệ. Quân họ Mạc là quân mạnh nhất, nhưng vẫn không đủ sức chống đỡ với quân triều đình. Một lần nữa họ Mạc phải rút chạy về miền rừng núi phía bắc. Lúc này đứa cháu Mạc Kính Khoan thấy người chú Mạc Kính Cung luôn luôn là một bại tướng, nên ly khai khỏi “triều đình” Càn Thống. Mạc Kính Khoan lập một “triều đình” mới và xưng vương lấy niên hiệu là Long Thái. Cùng tồn tại ở rừng núi Việt Bắc, nhưng sự chia hai nầy làm quân Mạc yếu thêm nữa, trong lúc đó binh lực nhà Lê chỉ duy nhất dưới tay một Trịnh Tráng. Tháng 11 năm 1623 ấy, Trịnh Tráng được phong vương như một điều đương nhiên: Thanh Đô vương. Trịnh Tráng tiếp tục nề nếp “vua Lê – vương phủ Trịnh” của cha để lại, và không phải cật lực chiến đấu dẹp họ Mạc như cha và ông nội.

      Mùa xuân năm ất sửu 1625, Trịnh Tráng sai người con trưởng Trịnh Kiều đi dẹp tàn dư nhà Mạc ở Cao Bằng. Trịnh Kiều mang một vạn binh ra đi, và chỉ qua một tuần trăng đã bắt được Mạc Kính Cung. Lần nầy “triều đình” Càn Thống của Kính Cung mới thực sự tan rã sau hơn 30 năm tồn tại. Tuy nhiên, Mạc Kính Khoan và “triều đình” Long Thái của ông nầy chạy thoát. Chưa tới một ngàn quân, ông Khoan tập trung vào những làng Dao ở xa trong núi, và tiếp tục chiêu quân cầm cự. Lực lượng nầy không chết nhưng rồi ra cũng èo uột. Do vậy Khoan xin đầu hàng triều đình với điều kiện được tập ấp. Để rảnh tay với một phương nam đang có mầm ly khai đã trồi lên, Trịnh Tráng bằng lòng. Họ Trịnh trình với vua Lê Thần Tông cho Mạc Kính Khoan tước thái úy Thông quốc công trấn giữ Cao Bằng. Đó là cuối năm 1625. Cái mũi phương bắc nầy được yên ổn, nhưng phương nam đang ló dạng chiến tranh.

Thế đã rõ đua tranh nam bắc
Trêu nhau chi một khúc sơn hà
Danh nào thúc điệt, danh tôi chúa
Nguyễn Hoàng nín nhịn một can qua

Ép phế phổi thông gia với cháu
Gả con thơ làm thiếp nhà người
“ Tiễn Dư” thuế lạ đem dâng nộp
Mưu sự chưa thành há dễ ngươi

Nguyễn Ngọc Tú đi về đất bắc
Giã trời nam là mãi chia xa
Tình như cô cháu hòa Trịnh Nguyễn
Nghĩa giống phù Lê trọn một nhà

Rồi buổi ấy xây thành Trà Bát
Dốc Đăng Xương đông bắc cao cao
Xanh xanh kẻ Huế hồn nam tiến
Thiên Mụ linh thiêng mụ hồng bào

Mạc Cảnh Huống quyền quân thống soái
Cùng Nguyễn Hoàng tham lược mưu cơ
Vốn từ một thuở xa xưa ấy
Mạc – Nguyễn duyên ai khéo đợi chờ

Những Cảnh Huống, Mạc Giai, Ư Kỷ
Riêng gian nan từ độ Nguyễn sơ
Sông Gianh chung nỗi phân ly nước
Lạc mất quê hương đến bao giờ

Dinh Trà Bát xa trông đất Quảng
Cử Phúc Nguyên trấn thủ Thanh Chiêm
Biên cương mờ mịt Chàm biên giới
Đá đã phôi pha khó vạch tìm

Kéo xứ Quảng từ đèo Mây cũ
Đến bãi Môn xa tít mù sương
Phú Yên lập phủ muôn năm ấy
Bước tiến đầu tiên Nguyễn mở đường

Chừng như thể chưa yên mở rộng
Sông chừng đâu nước lại chừng đâu
Cát Vàng từng đảo hoang vu ấy
Thuyền khơi ghé bến bước chân đầu

Lên biển đảo ngẩn ngơ mây nước
Tầng mây bay theo gió bay hoài
Hoàng Sa biển sóng xuân nhâm tý (1612)
Đất đá im lìm trăng gió soi

Từ độ ấy nước non mở rộng
Mà chúa Tiên lại bỏ qui tiên
Vô thường ai biết muôn sau nữa
Đâu xâm lăng đâu lại tiền hiền?

Chúa Tiên chết, Phúc Nguyên thế tập
Đưa Đàng Trong lên dốc thăng hoa
Lửa binh không dậy nhiều thu tới
Non nước yên vui buổi thái hòa

Làng Trà Bát đi sau Ái Tử
Đến Phước Yên thủ đắc thành đô
Bồ Giang quyến rũ hơn Thạch Hãn
Chúa đã dời đô một sớm nào

Cùng buổi ấy biển nguồn nở rộ
Đâu trầm hương đâu những mỏ vàng
Phố Hoài cửa biển thành thương cảng
Chắc rằng mai mốt đẹp thênh thang

Hàng thương điếm bên dòng sông cũ
Thuyền nhấp nhô nhộn nhịp đi về
Lạ người lai vãng bao khách trú
Trời chiều vàng thẩm trải phương quê

Rồi duyên đến ai về xứ lạ
Bến sông xưa lại tiễn người đi
Chị đi theo gió về đông đảo
Em lấy chồng Chân đất tây kỳ

Thế là thế Đàng Trong là thế
Ở Đàng ngoài Lê – Trịnh ra sao
Nếp xưa vương Trịnh choàng Lê đế
Hiu hắt chiều hôm tấm ngự bào

Trịnh thao túng từng đời tiên đế
Vua Thần Tông nào có quyền uy
Dấu xưa thần tử bao gương soán
Ngoại tổ ai ơi cứ đoạt vì

Rồi một sớm Trịnh vương suy yếu
Vương chọn ai để lập trừ vương
Tráng, Xuân huynh đệ như Tùng, Cối
Bước chân xưa ai vội manh cường

Giành ngôi trưởng, Xuân về Trịnh phủ
Đoàn quân reo ngằn ngặt bao vây
Đệ huynh phụ tử đâu hề sá
Mà đã ra sao thế cuộc nầy?

Nhớ buổi ấy một mùa Vĩnh Tộ
Loạn kinh thành họ Mạc thừa cơ
Vua Lê được Tráng đưa về phủ
Dẫn tới Thanh Hoa ngắm thế cờ

Mạn Kinh Bắc, Đông Kinh ngơ ngác
Cuộc tranh cường người mãi u mê
Giết nhau chẳng kể ai gom lợi
Họ Mạc buông tay lúc Trịnh về

Trịnh về một lúc thành vương tướng
Thanh Đô vương, Tráng nối nghiệp cha
Sai con Kiều trưởng đi bình Mạc
Càn Thống năm xưa vận xế tà

Càn Thống chết nhưng còn Long Thái
Khéo khen thay nhà Mạc kéo dài
Bao giờ bỏ cuộc nào ai biết
Bếp lửa không hồng sẽ một mai

“Vua” Long Thái về hàng họ Trịnh
Tước quốc công trấn giữ Cao Bằng
Nước non suôn suốt chiều nam bắc
Chắc có thanh bình ngắm gió trăng?


<<  |  >>