Skip to content

Chương 21/15

LÊ TRUNG HƯNG
(1592 – 1789)

Đoạn mười lăm

ĐÀNG TRONG VỚI BÓNG DÁNG TÂY SƠN

      Tháng 9 năm 1765 thế tử Nguyễn Phúc Côn được thả ra, nhưng ít ngày sau uất ức mà chết. Ông để lại hai người vợ mà họ là chị em ruột, cùng 7 người con trai gái. Cái chết của vị cựu thế tử âm thầm bao nhiêu, thì quyền lực của Trương Phúc Loan rực rỡ bấy nhiêu. Ông ta như một thân cây có rễ cái cắm sâu trong triều đình chúa Nguyễn Phúc Khoát, và nở tỏa ra thành cổ thụ dưới thời chúa Nguyễn Phúc Thuần. Với quyền hạn quốc phó, Trương Phúc Loan rút quan tham mưu dinh Điều Khiển Nguyễn Cư Trinh từ Gia Định về Phú Xuân. Ông Trinh nổi tiếng là người tài giỏi và liêm chính, nên được rút về. Mục đích làm dáng cho một triều đình đang bị tai tiếng. Tháng 10 năm 1765, họ Trương cắt bớt phần kiêm bộ Lại của Nguyễn Phúc Nghiễm giao cho Nguyễn Cư Trinh. Với chức vụ của một thượng thư Lại bộ, ông Trinh có thể có tiếng nói trong triều đình, nhưng ông đành bất lực. Mười một năm ở Gia Định mới về, ông chưa thực sự có một chỗ đứng trước một quốc phó bao trùm. Ông như một kẻ mang vòng kim cô, mà sự vùng vẫy chỉ làm siết chặt thêm. Ông trở thành một viên thư ký nhàn rỗi. Ông sống bình lặng làm một quan văn bình thường. Trong thời gian nầy ông có thì giờ nhuận sắc tác phẩm “Sãi Vãi” mà ông viết trước đó. Không biết có phải buồn vì thế cuộc hay không, mà chỉ 2 năm sau ông qua đời ở tuổi 51. Cái chết của Nguyễn Cư Trinh như một khúc cây nhỏ ngáng đường được gạt đi.

      Không còn e dè gì nữa, Trương Phúc Loan càng nhũng lạm. Họ Trương thành lập một hệ thống thuế khóa mà chủ yếu là mang nguồn lợi về cho mình. Nông nghiệp, lâm sản, mỏ quặng, hải sản, bến tàu đều bị tăng lên một phần thuế giao động theo sản lượng. Nguồn lợi nầy không được nhập vào quốc khố mà dành cho phe nhóm họ Trương. Màn nhện Trương Phúc Loan trở thành một hệ thống quan lại kiêm luôn địa hào địa chủ. Chúng lan ra đến từng địa phương. Đám tham quan nầy vừa thu thuế, vừa mua bán quan tước một cách công khai. Từ đây sinh ra một lớp dân nghèo luôn bị áp bức. Nhiều người lương thiện bị tù tội, nhiều phụ nữ trở thành kẻ phụ bạc khi chồng đang chịu cảnh oan sai.  Xã hội đi từ nghèo đói đến lầm than. Bên cạnh ấy, dân chúng ở dinh Quảng Nam gánh chịu những năm hạn hán và mưa bão đến kiệt quệ. Họ bị đánh đập vì thiếu thuế sinh ra nổi loạn. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổi lên.

      Mùa hạ năm kỷ sửu 1769 ở phủ Quy Nhơn có cuộc khởi nghĩa đầu tiên. Đó là cuộc khởi nghĩa của Vũ Văn Doan. Doan sinh ở làng Phù Ly thuộc huyện Phù Ly, và mồ côi cha từ nhỏ. Người mẹ đưa con về quê ngoại ở Tây Sơn để sinh sống. Cậu bé lớn lên trở thành một thanh niên giỏi võ, hay giúp người và rất lanh lợi. Vì sự lanh lợi nầy, người quanh vùng gọi là Doan là Lía. Đó là thứ tên “cúng cơm” trong lúc trò chuyện thân mật. Nhìn cánh đồng lúa chết héo ở quê ngoại, chàng Lía rủ bạn bè về quê nội ở Phù Ly. Ở đây mùa màng chưa đến nỗi quá tệ, đám thanh niên nầy đi làm thuê qua mùa gặt. Bất ngờ lúc ấy có một bọn cướp tràn xuống làng trước sự bất lực của đám dân quê hiền lành quê nội. Đó là dịp để Lía ra tay. Cùng những huynh đệ đến từ Tây Sơn, Lía nhanh chóng khuất phục bọn cướp cỏ nầy. Bọn cướp không ngờ gặp phải một đối thủ trẻ tuổi tài cao, có những ngón võ lạ đời. Chúng khâm phục, và mới hay ra rằng đôi bên đều là những kẻ đói rách và bất mãn chính quyền như nhau. Nể tài và cùng một tâm trạng, bọn cướp tôn Lía làm thủ lãnh. Từ đó, việc “trừ tham quan, giúp dân nghèo” trở thành tôn chỉ. Căn cứ Truông Mây trên đường đèo về thượng nguồn sông Kim Sơn được thành lập. Họ hành hiệp theo kiểu giang hồ nghĩa khí. Đó là những bước đi đầu tiên của cuộc khởi nghĩa nầy. Họ sớm được nhiều người hưởng ứng từ Phù Ly đến Vĩnh Sơn, An Khê, Tây Sơn, Phú Lạc…rồi lan rộng khắp cả phủ Quy Nhơn. Rất tiếc, cuộc khởi nghĩa mau chóng thất bại. Đó là tháng 8 năm 1770, khi ký lục dinh Quảng Nam là Trần Phước Thành tuần tra phủ Qui Nhơn. Tên quan nầy nổi tiếng nhũng lạm và hà khắt, nên Vũ Văn Doan cùng một số huynh đệ nòng cốt tìm đến để hành thích. Chưa gặp tên Thành đã bị lộ và không chạy thoát được. Họ bị bao vây nhiều ngày trong một ngôi đình làng và bị bắt sau đó.  Nhóm huynh đệ còn lại hội nhau đi cứu người bị bắt, nhưng cũng bị lộ. Trước sau hai nhóm đều bị tiêu diệt. Quân khởi nghĩa ít ỏi còn sót lại như rắn không đầu. Họ tản mác đi nhiều nơi, và căn cứ Truông Mây không còn nữa.

      Cái chết của huynh đệ chàng Lía đã qua, Truông Mây chỉ còn lại những câu chuyện buồn buồn, nhưng chúng như những thỏi than rời vung vãi đâu đó. Chúng không đủ sức nhen nhúm, nhưng chúng gợi lên là chúng đã có mặt. Điều nầy đã giúp cho những cuộc khởi nghĩa nổi lên. Mùa hè năm 1770 những thổ dân ở Đá Vách phủ Quảng Ngãi nổi loạn. Sự bùng phát nầy không phải là mới, nó là sự thức dậy của 20 năm ngủ yên. Trước đó (1750) tuần phủ Nguyễn Cư Trinh đã nâng quyền lợi của thổ dân, và đến bây giờ bị tước đoạt trở lại đã sinh ra những cuộc phản kháng. Họ thành lập nhiều toán dân quân từ Sơn Hà, Ba Tơ đến An Lão. Rất tiếc, giống như Truông Mây, họ không thành công. Lực yếu, và không thống nhất tuyệt đối trong các họ tộc là nguyên nhân. Thổ dân Đá Vách bị tan rã chỉ sau vài tháng.

      Sau hai cuộc khởi nghĩa không làm cho chính quyền Đàng Trong thiệt hại, nhưng đã cho biết có một sự phản kháng trong tầng lớp quần chúng. Trước tình hình như thế, một dật sĩ tên Ngô Thế Lân ở Vu Lai dâng thư cải đổi thuế khóa và tiền tệ, nhưng không được Trương Phúc Loan lưu tâm. Lúc nầy chúa Nguyễn Phúc Thuần đã 16 tuổi, ông có cái nhìn cuộc diện rộng hơn. Ông nghĩ đến những cuộc nổi loạn, nghĩ đến lời trần tình của Ngô Thế Lân và nghĩ đến người ông cậu Trương Phúc Loan. Ở đâu đó có một điều chưa rõ, nhưng chúa Phúc Thuần biết mình cần phải tách rời vị quốc phó họ Trương nầy. Nhà chúa nghĩ đến những vị hoàng thân, ai là người có thể giúp ông, nhưng rồi lại tư lự. Ý nghĩ chỉ là ý nghĩ thôi. Chúa Nguyễn Phúc Thuần chưa bắt tay vào việc gì, thì tình hình chiến sự biến chuyển một cách mau lẹ: Ở ngoài bắc Trịnh Sâm vừa diệt xong cuộc khởi của hoàng thân Lê Duy Mật ở Trấn Ninh, và giết thái tử Lê Duy Vĩ ngay trong triều. Hai việc nầy chỉ làm nao nao lòng người Đàng Trong, nhưng có hai việc khác trực tiếp ảnh hưởng lên triều đình chúa Nguyễn Phúc Thuần: Quân Xiêm đánh chiếm Sài Mạt tràn qua Hà Tiên, và anh em họ Nguyễn ở Tây Sơn khởi nghĩa. Đó là mùa đông năm 1771.

      Thụt lùi về mùa hè năm 1767 khi vương quốc Xiêm bị quân Miến Điện (Myamar) tiêu diệt. Họ dùng lực lượng áp đảo san bằng thủ đô Ayutthaya. Vua Ekhathat và tướng lãnh Xiêm xiêu tán, nhưng quân Miến cũng không đặt nền móng ở kinh đô mới vừa chiếm được. Họ chỉ đặt một cánh quân nhỏ ở đây, lực lượng lớn phải dồn về mặt bắc chống quân Thanh đang gây hấn. Điều nầy giúp cho quân dân Xiêm tiến hành những cuộc hành quân tái chiếm thủ đô. Tuy nhiên, lực lượng Xiêm lại không thống nhất vì vua Ekhathat đã chết trong cuộc chạy loạn. Họ đã chia làm 5 thế lực cát cứ từng vùng. Dĩ nhiên thế lực mạnh yếu khác nhau, và Tahsin (Trịnh Quốc Anh) chiếm vùng hạ nguồn sông Chao Phraya là mạnh nhất. Chỉ trong vòng 7 tháng Trình Quốc Anh đánh bại các lực lượng khác, trở thành lãnh tụ duy nhất chống quân xâm lăng Miến Điện. Tháng 11 năm 1767, Trình Quốc Anh thành công và trở thành quốc vương Xiêm. Ông dời đô từ Ayutthaya về Thonburi, nơi chỉ cách bờ biển Pattaya chừng vài mươi dặm. Ông xây dựng hải quân và bộ binh. Quân đội mau chóng đưa nước Xiêm trở lại thời hùng mạnh cũ.

      Ba năm sau, khi đủ sức mạnh, Trình Quốc Anh muốn lấy lại quyền bảo hộ Chân Lạp. Tháng 10 năm 1771, bộ binh Xiêm tràn qua Oudong, và Hải quân tràn qua Hà Tiên. Từ vịnh Pattaya hàng ngàn chiến binh hải quân được bốc đến Sài Mạt, Cần Vọt, Linh Quỳnh. Đây là vùng duyên hải mà vua Nặc Tôn đã tặng cho Mạc Thiên Tích từ năm 1757. Chỉ trong một ngày, tất cả nhượng địa nầy nằm trong tay hải quân Xiêm. Thừa thắng, họ tràn qua sông Giang Thành chiếm lỵ sở Hà Tiên. Họ tràn qua Rạch Giá, tiến sâu vào đất liền. Trước sức tấn công vũ bão của hải quân Xiêm, Mạc Thiên Tích phải rút chạy về trấn Giang (Cần Thơ). Tại đây họ Mạc gặp vua Chân Lạp Nặc Tôn trên đường bôn tẩu. Tin cho biết Nặc Non (người đã chạy qua Xiêm trong chiến tranh giữa Nặc Hinh, Nặc Tôn và Nặc Non vào tháng 7 năm 1756) đã được lập làm vua.

      Cả bộ binh và hải quân Xiêm đều có những bước tiến vũ bão. So ra, chỉ trong vòng một tháng mà Chân Lạp đã nằm dưới quyền bảo hộ của quân đội Xiêm. Đầu năm 1772 bộ binh Xiêm tiến qua Tầm Phong Long, và Hà Tiên thì gần như mất trắng. Tình hình chuyển biến quá mau lẹ làm rung chuyển cả Gia Định. Quan điều khiển (trấn thủ) lúc bấy giờ là Tống Văn Khôi vội vã đưa quân về Long Hồ. Lúc nầy bộ binh Xiêm đã tràn qua Châu Đốc, áp lực của chúng quá mạnh. Ông Khôi đành bỏ ngỏ mặt tây nầy, tập trung về mặt nam. Chiến trường từ Tam Khê đổ về lâm phận Kiên Giang nhiều lúc đẫm máu. Quân Đàng Trong chỉ đủ sức cầm giữ chứ không thể nào lấy lại một tấc đất nào của Hà Tiên. Thời gian từ nửa mùa đông năm 1771 đến suốt mùa xuân năm 1772, lính Gia Định chết la liệt. Từ miền kênh rạch Giá Khê, đến rừng U Minh thượng là một chiến trường thảm bại. Điều này làm chúa Nguyễn Phúc Thuần tức tốc gởi chưởng cơ Nguyễn Cửu Đàm vào thay Tống Văn Khôi. Ông Khôi bị cách chức tư lệnh chiến trường, bị giáng xuống làm cai đội. Dĩ nhiên là mất cả chức Điều Khiển Gia Định.

      Giữa tháng 4 năm 1772, chưởng cơ Nguyễn Cửu Đàm đã có mặt ở Gia Định. Ông giữ chức Khâm sai thống suất tổng chỉ huy. Gồm 10 ngàn quân Phú Xuân; cộng với liên quân Bình Khang, Bình Thuận và Gia Định. Chiến dịch phản công bắt đầu. Ký lục Quảng Nam Trần Phước Thành, trấn thủ Long Hồ Tống Phước Hiệp, và cai bạ Long Hồ Nguyễn Khoa Thuyên là 3 vị tướng phụ tá đắc lực trong chiến dịch nầy. Họ chặn những cánh quân tiên phong Xiêm La bén qua Long Hồ vào tháng 5 năm 1772. Tại đây, tướng Đàm lập ra hai mũi tiến công: mặt tây tiến chiếm Châu Đốc, mặt nam tiến chiếm Hà Tiên. Mưa tháng 6 đang lai láng trên sông rạch Rạch Giá rất thuận tiện cho hải quân của Xiêm La, nhưng cũng vô cùng thỏa chí cho hai cánh quân Bình Khang và Đông Khẩu đang liên thủ tham chiến. Cai bạ Long Hồ Nguyễn Khoa Thuyên trực tiếp chỉ huy mặt trận phía nam nầy. Thủy quân Xiêm – Việt tranh hùng. Đã có những trận chiến ác liệt ở đồn Hoa Thê và đồn Núi Sập, khi quân Đàng Trong tái chiếm. Họ đẩy hải quân Xiêm ra biển, trong lúc bộ binh Phú Xuân – Bình Thuận – Gia Định đương chiến đấu ở mặt trận phía tây.

      Mặt nầy, dưới sự chỉ huy trực tiếp của thống suất Nguyễn Cửu Đàm, từng phần đất Tầm Phong Long được lấy lại. Giữa tháng  6 năm 1772, cánh quân của trấn thủ Long Hồ Tống Phước Hiệp đã lấy lại phần đất cuối cùng của xứ Tầm Phong: Châu Đốc. Trên đà tiến quân, thống suất Nguyễn Cửu Đàm và tham tán Trần Phước Thành mang quân tấn công Nam Vang. Tại đây một biến động bên ngoài đã giúp tổng chỉ huy chiến trường họ Nguyễn chiến thắng áp đảo: Bất ngờ thủ đô tân lập Thonburi của Xiêm bị bao vây. Kinh thành nầy bị đe dọa bởi đạo quân của các nhà sư cánh bắc. Họ là một trong 5 lực lượng đã chịu khuất phục Trình Quốc Anh trong chiến tranh tháng 7 năm 1767. Điều nầy đã khiến binh đoàn Xiêm đang trú đóng ở Nam Vang phải tức tốc trở về. Họ chỉ để lại đây một lực lượng nhỏ bên một đạo quân Chân Lạp èo uột. Từ thủ đô Oudong, đích thân vua Nặc Non, dẫn quân tăng viện. Rất tiếc, đạo quân nầy không đương cự nổi với liên quân Đàng Trong của thống suất Nguyễn Cửu Đàm. Vị vua thân Xiêm, Nặc Non, đành bỏ quê hương một lần nữa. Ông chạy về Cần Bột tìm đường qua Xiêm. Tàn cuộc chiến Nam Vang cũng là lúc Oudong không có vua tại vị. Cựu vương Nặc Tôn còn nương náu tại Cần Thơ, được đưa trở lại làm vua Chân Lạp trong trường hợp may mắn như thế.

      Lúc chiến trường Hà Tiên khởi động năm 1771, thì ở Tây Sơn có những chiến binh khởi nghĩa. Tây Sơn là một làng nhỏ phía tây bắc phủ lỵ Qui Nhơn chừng mươi lăm dặm đường. Nó có dòng sông Côn vắt ngang qua chảy về đại đầm Thị Nại. Dòng sông như một con rồng mà cái đuôi ở tận cao nguyên Chư Răng, và cong mình xuống Tây Sơn để vươn về phía trước. Nó đã chứng kiến biết bao nhiêu nhọc nhằn dâu bể của các thế lực tranh giành nhau, và mùa thu năm 1771 nầy nó lại chứng kiến một lần nữa. Đó là lúc những ngọn gió nam Lào mùa hạ vẫn còn mãi miết sang mùa thu. Chúng làm khô đét những cánh đồng lúa, mà mùa thuế vụ đã đến gần. Vụ mùa tháng 8  năm 1771 không ai đủ thóc để nộp, nên chính quyền Phú Xuân đã sai quan nha đi lùng sục từng nhà. Điều nầy dai dẳng đến mùa xuân năm sau. Họ vin vào cuộc viễn chinh ở Hà Tiên – Long Hồ đang rất cần lương thực. Nhiều cuộc ức hiếp của quan thu thuế đã xảy ra. Đã có những người bị gông cổ dẫn đi trên đường cái quan. Hơn thế nữa, năm nay có cả những người bị đánh chết vì đã dám cãi lại đám quan biện lại. Điều nầy đã làm động lòng những người trai trẻ đang là môn sinh của một thầy đồ, cũng là một thầy dạy võ ở thủ phủ Qui Nhơn. Đó là cụ Trương Văn Hiến, người chạy trốn khỏi Phú Xuân khi nội hữu Trương Văn Hạnh bị xử chết năm 1765. Cụ đồ không khuyến khích, nhưng biểu đồng tình với những người học trò của mình muốn thực sự đứng dậy. Tâm trạng ấy lan rộng khắp hai bên bờ sông Côn. Một cuộc khởi nghĩa đang thành hình, mà người ta thấy bóng dáng anh em họ Nguyễn Tây Sơn đang có mặt. Đó là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, và Nguyễn Huệ.

Trịnh vực dậy, Nguyễn kề bên dốc
Từ Phúc Loan phế lập hôm nao
Trăng soi trên đỉnh chùa Thiên Mụ
Có thấy từ đây Nguyễn thế nào?

Màn lưới nhện Phúc Loan giăng khắp
Thuế dâng cao mà thuế về đâu
Họ Trương nhũng lạm trên tay chúa
Lê dân càng lúc hóa cơ cầu

Tình thế ấy nơi nơi sinh loạn
Những đâu xưa Đá Vách, Tây Sơn
Trông ra mà ngắm đồng xanh thẳm
Hạt lúa vàng tươi biết ngậm hờn

Dù được mất lúa vàng vẫn mất
Buổi được mùa cũng kể như không
Quan nha thu hết về kho lẫm
Gốc rạ buồn hiu ngắm cánh đồng

Cuộc thế ấy đành lòng sinh loạn
Đâu Vũ Doan, chàng Lía truông Mây
Ai về tả ngạn Kim Sơn ấy
Hỏi én còn bay ở xứ nầy?

Cuộc khởi nghĩa Phù Ly thất bại
Đến Ba Tơ, Đá Vách cũng buồn
Sơn dân Cổ Lũy đành khuất phục
Để gợn trong lòng chúa thanh xuân

Chúa muốn diệt Phúc Loan quốc phó
Mầm đang ươm mà đất đang khô
Tây Sơn nổi gió về phủ trị
Mà ở Hà Tiên thí máu đào

Trịnh Quốc Anh xua quân đông tiến
Chiếm Oudong uy hiếp Nặc Tôn
Vua Chân phải chạy về Giang Trấn
Bassac, Nam Vang hận sóng cồn

Bộ là thế thủy quân cũng thế
Đồn Hà Tiên nháy mắt không còn
Bao nhiêu xây đắp thành cát lở
Non nước ơ hờ với nước non

Tiếng dạ cổ không còn điểm nữa
Chú lính canh chạy tới nơi nào
Giang Thành một sớm quân Xiêm chiếm
Mạc Tích cơ hồ tựa chiêm bao

Tin sớm đến về dinh Phiên Trấn
Tống Phước Khôi vội vã xuất chinh
Bao ngàn gươm giáo bao ngàn lính
Dẹp quân Xiêm mà định tình hình

Tưởng là thế mà không phải thế
Đôi mùa qua họ Tống không thành
Mùa đông tân mão không chiến thắng (1771)
Đến tết nhâm thìn thẹn công khanh (1772)

Quân như rạ sau mùa lúa gặt
Chết ngẩn ngơ đâu biết là đâu
Long Hồ đất mới qua sông Hậu
Suốt mấy mùa qua mấy dãi dầu

Tình thế ấy canh thâu dạ chúa
Đất tổ tiên đâu thể không còn
Tăng quân viện thay quyền chủ tướng
Đuổi Xiêm về để giữ nước non

Nguyễn Cửu Đàm được thay họ Tống
Đánh Hoa Thê, Núi Sập không ngừng
Giang Thành, Châu Đốc đâu quân tiến
Tây tiến tây đường tây tiến quân

Mùa hạ đến quân Xiêm phải rút
Bỏ Nam Vang lại đến chơ vơ
Ông Non bỏ xứ lui Cần Bột
Ông Tôn trở lại đến không ngờ

Đôi xứ sở yên yên Chân Việt
Mà nước non còn đó chưa yên
Ở trời đất bắc thôi chinh chiến
Ở đất trời nam lộng chuyên quyền

Thế nhà Nguyễn như yên như động
Chúa Phúc Thuần tuổi trẻ ra sao
Tây Sơn khúc ngoặc trang lịch sử
Ai biết từ đây hẹn chiến bào

Xin cảm ơn qúy bạn đã đọc đến trang cuối của chương 21 nầy. Chắc qúy vị đã gặp những thiếu sót mà chúng tôi vấp phải. Xin thành thật cáo lỗi, và xin được lắng nghe để khúc thi sử kế tiếp ( Tây Sơn đến thực dân Pháp) được đầy đủ hơn.

Địa chỉ liên lạc:

Đinh Thắng
3826 Citadel Dr.
Garland, TX. 75040
hoặc
dinhtranthang@yahoo.com


<<  |  >>