Skip to content

Chương 21/14

LÊ TRUNG HƯNG
(1592 – 1789)

Đoạn mười bốn

ĐÀNG NGOÀI:
TẬN DIỆT KHỞI NGHĨA, VÀ CÁI CHẾT CỦA THÁI TỬ LÊ DUY VĨ

 

      Nếu Đàng Trong phải nhiều lần dính vào những cuộc tranh quyền Chân Lạp trong thập niên 1750, thì Đàng Ngoài cũng tiếp tục chiến đấu với những cuộc khởi nghĩa. Hoàng Công Chất lạc Nguyễn Hữu Cầu ở Thanh Hoa năm 1751, người ta tưởng ông sẽ chết thầm ở đâu đó. Không phải như thế, dù chúa Trịnh Doanh cho lục tìm gắt gao, nhưng họ Hoàng đã chạy thoát. Ông và người con trai Hoàng Công Toản cùng một số nghĩa sĩ thoát được đến Mường Thanh, tây bắc. Người Thái trắng và người Lự ở đây tích cực ủng hộ ông. Họ còn mang trong người dòng máu tự trị Đèo Cát Hãn của hơn 300 năm trước, nên dễ dàng chấp nhận một lực lượng đối lập lại nhà Lê. Họ tôn ông làm lãnh tụ. Ông củng cố trại Tam Vạn của người Lự trước đó làm tổng hành dinh, và lập trại Phù Bản làm vệ tinh. Quân Tam Vạn đã nhiều lần đụng độ với quân của Đinh Văn Thản, quan trấn thủ Hưng Hóa, nhưng không bên nào chiến thắng. Có lần Hoàng Công Chất bắt tay được với hoàng thân Lê Duy Mật ở Trấn Ninh khiến vùng biên giới Bắc Lào tưởng như đã lọt vào tay kháng chiến.

      Tình hình như thế kéo dài đến 10 năm thì đổi khác. Chúa Trịnh Doanh là người có tài và can cường. Ông không để mãi cái gai bên hông được. Tháng 5 năm 1761 phủ chúa cử tướng Lê Đình Châu và phó tướng Nguyễn Quốc Khê hành quân tây bắc. Đạo quân nầy phối hợp với đạo quân Tuyên Quang của Phan Cảnh tấn công Phù Bản. Quân triều đình quá mạnh không giống như quân địa phương của Đinh Văn Thản nên cuộc chiến nghiêng hẳn về một bên. Chỉ trong một ngày một đêm, tướng Lê Đình Châu đánh bức trại Phù Bản. Sức tấn công ồ ạt nầy không dừng tại đó. Họ tấn công Tam Vạn. Sau hai ngày cầm cự, Hoàng Công Chất phải rút sâu vào động Mãnh Thiên để ẩn náu.

      Dù không giết được Hoàng Công Chất nhưng từ đây nhà Lê lấy lại quyền kiểm soát. Trong những năm đầu thập niên 60 (1760) nầy thượng hoàng Lê Ý Tông đã mất, và vua Lê Hiển Tông vẫn nể trọng chúa Trịnh Doanh như trước. Nhà vua nhớ ơn vị chúa họ Trịnh đã lấy lại ngai vàng cho mình, nên luôn luôn chìu theo mọi sắp xếp của phủ chúa. Ông đã tác hợp mối lương duyên vợ chồng giữa thái tử Lê Duy Vĩ với trưởng nữ của chúa Trịnh Doanh. Đó là người con gái có vẻ đẹp liêu trai yếu đuối đã làm nao lòng thái tử từ lâu. Quả là mối tình hạnh phúc, nhưng khi theo về đông cung chưa được bao lâu thì người vợ mới cưới nầy lại qua đời. Đây là nỗi đau vô cùng của thái tử Lê Duy Vĩ, nên ông vẫn giữ mối quyến luyến với gia đình phủ chúa. Ông chơi thân với các công tử con của chúa Trịnh Doanh, nhất là thế tử Trịnh Sâm. Họ đã từng ăn chung mâm với nhau đến nỗi một lần vương phi Hoa Dung, mẹ của Trịnh Sâm, khuyên con mình nên giữ tôn ty vua tôi với thái tử. Với ảnh hưởng của người mẹ, Trịnh Sâm dần dần đối đãi với thái tử Vĩ như bậc bề trên nhưng trong bụng không phục.

      Tình hình như thế cho đến tháng 4 năm 1767, lúc chúa Trịnh Doanh bất ngờ qua đời. Đó là sự xáo trộn mà quân khởi nghĩa của Lê Duy Mật có dịp trở dậy. Vị hoàng thân nầy có 16 năm ở Trấn Ninh xây dựng lực lượng. Nó như một tiểu quốc vùng tây biên có hào lũy kiên cố và lương thực đầy đủ. Khi thế tử Trịnh Sâm lên ngôi chúa thì hoàng thân Lê Duy Mật xua quân qua miền tây Nghệ An. Quân khởi nghĩa đã chiếm được Thanh Chương và Hương Sơn. Tướng trấn biên ở đây là Vũ Lâm đã rút chạy và khẩn báo về quan tổng trấn Nghệ An, lúc bấy giờ là Bùi Thế Đạt. Ông nầy đã phối hợp với quân của triều đình của tướng Nguyễn Nghiễm vừa kịp tới. Liên quân nầy đã đuổi quân của Lê Duy Mật trở lại Trấn Ninh mà sự thiệt hại của hai bên gần như không đáng kể. Dù quân tướng bên nào, trong họ vẫn thờ chung một nhà Lê. Đó là lý do không có cuộc chiếm đẫm máu.

      Lòng quân ở biên cương là thế, nhưng ở triều đình không còn mấy ai nghĩ đến nhà Lê. Không những võ tướng như Hoàng Ngũ Phúc, Hoàng Đình Bảo mà các văn thần lỗi lạc như Lê Qúy Đôn, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Hoàn đều ngả theo Trịnh. Vua Lê Hiển Tông như một ngọn đèn bấc mà những bàn tay che gió phía ngoài đã trở nên lạnh lùng xa vắng. Ông không bảo vệ được con cái của ông chứ nói gì đến nước non. Khi lên làm chúa, Trịnh Sâm với lòng đố kỵ từ trước, muốn hại thái tử Ngô Duy Vĩ. Tháng 3 năm 1769 một nội quan tên Phạm Huy Đỉnh báo lên triều đình phủ chúa một tin mới. Theo đó, thái tử thường hay qua lại với một phi tần trẻ tuổi của tiên chúa Trịnh Doanh. Không ai cho đó là tin tức hồ đồ để phản đối, những bậc thức giả cũng chỉ biết làm ngơ. Trịnh Sâm cho lịnh bắt thái tử về phủ chúa để làm sáng tỏ. Thái tử được tin báo, biết Trịnh Sâm rắp tâm ám hại mình. Ông trốn khỏi đông cung chạy qua thẩm cung của vua cha. Ông hy vọng cùng với phụ hoàng tìm ra cách đối phó. Khi hai cha con nhà vua còn bàn bạc trong nội tẩm thì Phạm Huy Đỉnh đã có mặt ở thềm điện. Họ Phạm đã qùy tới nửa canh giờ, nhưng vua Lê Hiển Tông không chấp thuận giao thái tử. Sự lần lữa nầy không được tiếp tục khi các ưu binh chúa Trịnh kéo đến. Biết không thể thoát, thái tử Lê Duy Vĩ hiên ngang bước ra trước tiếng khóc nấc nghẹn của người vua cha bất lực. Ở phủ chúa, thái tử không chịu bỏ mũ vương để nhận tội mà còn khẳng khái nói: “Bỏ vua nầy lập vua khác, bạo nghịch giết vua là việc làm đã quen của nhà bay, chứ ta có tội gì đâu? Việc nầy sẽ có sử xanh chép để ngàn đời”*. Một tên lính nội phủ vô danh nào đó đã đến lột mũ của thái tử xuống sau khi nhận ám hiệu. Trước mặt Trịnh Sâm bây giờ chỉ còn một tên tội phạm. Mượn danh vua Lê Hiển Tông, chúa Trịnh Sâm phế thái tử Lê Duy Vĩ làm thứ dân và lập tức đem giam vào ngục. Ít tháng sau, Lê Duy Cận, con thứ tư của vua Hiển Tông được Trịnh Sâm cho lên ngôi thái tử.

      Chúa Trịnh Sâm đã làm một công việc ngang ngược như thế, nhưng ông ta lại là người cổ xúy một nền giáo dục để chọn nhân tài. Nguyễn Nghiễm, Vũ Miên, Lê Quý Đôn, Lê Phan Phiên đặc biệt lo công việc nầy. Các sách cổ đã thất lạc cũng được nhà chúa cho sưu tập tìm về. Thiên Nam Dư Hạ Lục viết dưới thời Lê Thánh Tông được Ngô Thì Sĩ tìm gom lại trong lúc này. Chúa Trịnh Sâm quả là khôn ngoan. Ông đã khỏa lấp được việc làm bạo ngược của mình. Bên cạnh đó, công việc an ninh lãnh thổ, cũng rất thành công. Ngoài các loại giặc cỏ bị thanh trừ, lực lượng Hoàng Công Chất cũng bị tiêu diệt. Phạm Ngô Cầu, nguyên là trấn thủ Kinh Bắc, được lịnh tấn công động Mãnh Thiên mùa hè năm 1769. Sang mùa thu, căn cứ Trấn Biên của hoàng thân Lê Duy Mật cũng bị bao vây. Chúa Trịnh Sâm cử Bùi Thế Đạt làm chủ tướng tiến quân về biên cương miền tây nầy. Nguyễn Phan mang ưu binh từ Đông Kinh, Hoàng Đình Thể mang quân Hưng Hóa đặt dưới quyền chỉ huy của vị tổng trấn Nghệ An họ Bùi. Chúa Trịnh Sâm tiên liệu với lực lượng hùng hậu trên 3 ngàn quân tinh nhuệ nầy sẽ chiến thắng quân của Lê Duy Mật trước mùa mưa tháng 9. Rất tiếc, điều đó lại không được như ý. Hơn 10 năm trấn thủ dọc theo biên giới Việt – Lào, Lê Duy Mật đã lập được thành Trình Quang ở Trấn Biên (Bồn Man). Thành nầy không lớn, nhưng có tới 16 đồn trại xung quanh. Mỗi nơi đều tự bảo vệ và tự canh tác khu vực của mình. Họ thân thiện với người Bồn Man và người Lào, nên trong binh lính của họ có cả những người địa phương nầy. Nó gần như một tiểu quốc, mà sự hùng hậu của Bùi Thế Đạt chưa bao giờ đến sát được thành Trình Quang. Suốt một mùa đông năm 1769, Bùi Thế Đạt chỉ tiến đến được  hai đồn Trình Ban và Ban Xung nhưng phải rút lui.

      Trước tình thế ấy, đại tướng Hoàng Ngũ Phúc được lịnh đến thị sát chiến trường. Kế hoạch dùng ưu binh đột kích như ở đồn Ngọc Bội năm xưa cũng không thành công. Kế hoạch dùng biển người, có nghĩa là thí quân, được trình về triều đình nhưng chúa Trịnh Sâm không bằng lòng. Cùng biến, họ Hoàng phải nghĩ đến xảo thuật uy hiếp dân chúng ở Trình Ban buộc họ kêu gọi những quân lính trong thành làm nội ứng. Điều nầy rất khó thành công, nhưng có lẽ vận thời của vị hoàng thân nhà Lê nầy đã hết. Chính người rể của Lê Duy Mật là Lại Thế Thiều đã phản bội, khi mẹ ông nầy bị bắt. Thiều đã mở cửa thành Trình Quang khi cuộc tấn công từ phía ngoài không vượt qua được hào lũy. Đó là một ngày trung tuần tháng giêng năm 1770. Một kết quả đau lòng là cả gia đình hoàng thân Lê Duy Mật tự đốt cháy mình trước khi rơi vào tay quân chiến thắng. Không ai rõ trong đó có người con gái của ông, vợ của Lại Thế Thiều hay không.

      Dẹp được Hoàng Công Chất, diệt được Lê Duy Mật, nhưng chúa Trịnh Sâm chưa thật sự an lòng. Ông vẫn để ý đến người tù Lê Duy Vĩ. Đương kim thái tử Lê Duy Cần quá đỗi “ngoan hiền” với nhà Trịnh, đã làm sáng cái kiên cường của người cựu thái tử. Nhân dự lễ tròn tháng tuổi của công chúa Lê Ngọc Hân vào mùa hè năm 1771, chúa Trịnh Sâm thấy con cháu của vua Lê Hiển Tông rất nhiều mà không ai nhắc tới Lê Duy Vĩ. Điều nầy không có nghĩa là họ quên, mà họ đương cất dấu con người khí tiết nầy trong tim. Biết bao nhiêu người đang hoài Lê, mà Lê Duy Vĩ là thần tượng cho họ nhắm tới. Quả, người tù nầy là một thỏi than hồng nằm im dưới lớp tro tàn. Tháng 12 năm 1771 chúa Trịnh Sâm quyết định ra tay. Một giả án cướp ngục được dựng lên đưa đến xử chết thái tử Lê Duy Vĩ và vị điện tiền hiệu điểm Nguyễn Lệ. Ba đứa con trai của cựu thái tử là Khiêm (vua Lê Chiêu Thống sau nầy), Trù, Chi bị bắt giam trong lúc đầu còn tang trắng. Ba đứa bé 7, 5 và 4 tuổi khóc thét lên khi phải rời tay mẹ.

      Ngoài vực trong triều đều yên. Chúa Trịnh Sâm toan tính tới miền nam. Cuộc so tài Trịnh Nguyễn ở vùng nam Bố Chánh đúng 100 năm trước lại hiện về. Năm 1672 ấy, Tây Định vương Trịnh Tạc đã không thắng Dương quận công Nguyễn Phúc Tần. Điều đó sẽ không lặp lại trong năm 1772. Chúa Trịnh Sâm đã nghe tin Trương Phúc Loan đang thao túng triều đình nhà Nguyễn, đó là cơ hội. Ông ra lịnh trấn thủ Nghệ An Bùi Thế Đạt thường xuyên theo dõi tình hình Phú Xuân. Hứa hẹn một cuộc nam tiến trong một ngày không xa.

Trong như thế, thế nào cõi bắc
Cũng binh đao nối tiếp binh đao
Nhớ từ Công Chất về xứ Lự
Duy Mật lui binh đến biên Lào

Chúa Trịnh Doanh đem tài thao lược
Dẹp Mường Thanh, Phù Bản rừng sâu
Mười năm những tưởng ghi sử tích
Công Chất ai hay lại cơ cầu

Dẹp Công Chất chỉ còn Duy Mật
Lúc Hiển Tông ơn nợ Trịnh Doanh
Hai nhà Lê Trịnh thành hữu hảo
Con cái bên nhau rất thiện lành

Nào Duy Vỹ, Trịnh Sâm thành bạn
Đến Hoa Dung còn nhắc con mình
Vua tôi phải giữ theo ngôi thứ
Dù chẳng quan triều chẳng sự binh

Đẹp như thế nhưng thù bỗng nở
Khi Trịnh Doanh bỏ thế ra đi
Trịnh Sâm thế tử thành Trịnh chúa
Quyền vị trong tay đã nghĩ gì

Giữa lúc ấy Trấn Ninh khởi chiến
Mười sáu năm tích tụ quân lương
Một miền tây Nghệ xanh sơn cước
Tưởng gánh đau thương họa chiến trường

Nhưng cuộc chiến theo đà hạ thấp
Đôi đường Lê không nỡ diệt nhau
Biên thùy gió núi không tanh máu
Mà ở hoàng thành cuốn ruột đau

Lê Duy Vỹ bất ngờ bị hại
Khéo bày chi cái dạ quyền thần
Ai hay thái tử mà như thế
Một sớm hôm nào phế thứ dân

Lập Duy Cần lên ngôi thái tử
Giam tài hoa bạn cũ một thời
Mâm cơm để sót bên nhà chúa
Sâm – Vỹ quân thần nghĩa đã vơi

Án kinh thành trêu ngươi thiên hạ
Chúa Trịnh Sâm quyết phá Trình Quang
Tây biên mờ mịt trời gươm giáo
Hồ dễ chi đâu được dễ dàng

Hoàng Ngũ Phúc phải dùng hạ kế
Buộc Trình Quang thất trận đầu xuân
Tháp trần cháy suốt hồn diệt Trịnh
Duy Mật cao xanh ngọn gió nguồn

Diệt Duy Mật, Trịnh Sâm chưa thỏa
Người tù kia, Duy Vĩ còn đây
Án nào gỉa án hờn sử sách
Nhân thế còn vương sánh lệ nầy

Mất Duy Vĩ, Hiển Tông đứt ruột
Mà làm thinh đứng ngó Trịnh Sâm
Giam luôn cháu nội Khiêm, Trù ấy
Tuổi nhỏ làm chi có lỗi lầm

Quả Trịnh Sâm là người chí lớn
Bình biên cương, uy hiếp vua Lê
Nhìn xa đến tận phương nam ấy
Nào những thừa tuyên quyết lấy về

__________________________

* “ Bỏ vua nầy lập vua khác, bạo nghịch giết vua là việc làm đã quen của nhà bay, chứ ta có tội gì đâu? Việc nầy sẽ có sử xanh chép để ngàn đời”. Không thấy ĐVSKTT dưới thời Lê Trung Hưng ghi câu nói trên của thái tử Ngô Duy Vĩ. Điều nầy cũng dễ hiểu vì lúc ấy sử được viết dưới sự giám sát của các chúa Trịnh. Hơn 70 năm sau TGCM của nhà Nguyễn viết ra câu nói nầy, nhưng không cho biết xuất xứ từ đâu. Tuy nhiên, qua việc Trịnh Sâm vẫn còn sợ người tù Lê Duy Vỹ nên đã giết đi, thì có thể thái tử Vỹ đã dám nói như thế.


<<  |  >>