Skip to content

Chương 21/13

LÊ TRUNG HƯNG
(1592 – 1789)

Đoạn mười ba

ĐÀNG TRONG: PHÔI PHA MỘT THỜI CỰC THỊNH

      Nếu ở Đàng Ngoài phải bận rộn những chiến chinh như thế, thì Đàng Trong yên bình hơn. Ở Bác Vọng, Kim Long và Phú Xuân người ta còn có thì giờ nhàn hạ trà đàm thù tạc về câu sấm: “Bát thế hoàn trung đô” (đời thứ 8 hoàn trung đô). Không biết câu sấm nầy có từ đâu, nhưng nếu nói nó phát xuất từ chúa Nguyễn Phúc Khoát cũng không sợ là sai. Hoàn trung đô ở đây ý nói về trở lại Phú Xuân, nơi có cuộc đất đại cát được vị chúa thứ 5 Nguyễn Phúc Thái đã chọn làm thủ phủ. Tháng 5 năm 1738 thế tử Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi chúa, thì cũng trong tháng nầy ông quyết định dời dinh quốc trấn về lại Phú Xuân. Đây là lần thứ hai Phú Xuân được chọn làm “thủ đô” sau khi ở Bác Vọng 26 năm. Không biết lúc nầy chúa Khoát có hiểu vì sao năm 1712 ông nội mình, chúa Nguyễn Phúc Chu, đã dời đô từ Phú Xuân ra Bác Vọng?

      Về lại Phú Xuân, cho phép chúa Nguyễn Phúc Khoát có cái nhìn khác hơn các vị tiên chúa. Ông đang có một giang sơn hùng mạnh và mở rộng. Từ sông Gianh tới Hà Tiên hầu như đã liền lạc, chỉ trừ một số vùng ở dọc hai bên bờ sông Hậu. Chắc ít nhất một lần nào đó đứng trên lầu thành mới lập, vị chúa chưa tới 30 tuổi nầy nhìn về nam về bắc với những tính toán. Ở đất bắc biết bao nhiêu biến loạn xảy ra, với một triều Lê yếu kém và một nhà Trịnh chuyên quyền. Nơi đó Trịnh Tùng đã xưng vương từ tháng 4 năm 1599 dưới thời vua Lê Thế Tông, và tiếp tục nối truyền cho con cháu. Tính tới lúc Trịnh Doanh cầm quyền đã trên 140 năm, nhà Trịnh đã làm gì mà tiếp tục xưng vương thế tập như thế? Từ ấy đến nay lãnh thổ không mở mang, loạn lạc khắp nơi, triều cương không tề chỉnh. Triều đình vua Lê Ý Tông còn hoan ca khi Trịnh Doanh xưng Minh Đô vương nữa là đằng khác. Điều đó là thật, được cả lê dân cho là tự nhiên. Trong khi ấy các tiên chúa của ta từng bước nhọc nhằn mở rộng giang sơn. Không những đến vùng đất liền cuối phương nam, mà còn đến tận các hải đảo ngoài khơi. Bản thân ta cũng nối tiếp con đường lịch sử nầy. Công lao là thế, oai hùng là thế, mà cứ mãi chịu làm kẻ lệ thuộc hay sao?

      Ý tưởng độc lập tuyệt đối có từ đó, và chín muồi vào đúng 6 năm sau. Tháng 4 năm 1744, hai văn thần Nguyễn Đăng Thịnh và Trương Phúc Loan dâng biểu xin chúa lên ngôi vương. Quan lại tướng sĩ các cấp đều đồng thanh ủng hộ, và danh hiệu Võ Vương được thần dân xưng tụng dành cho vị chúa Nguyễn thứ tám. Sau khi được tôn xưng Võ vương, chúa Nguyễn Phúc Khoát cho đúc ấn Quốc Vương. Ông thiết lập một nhà nước Đàng Trong với nhiều cải tiến. Dù vẫn dùng niên hiệu của nhà Lê như các vị tiên chúa, nhưng Võ vương đã có một chính quyền từ trung ương đến địa phương song suốt và rõ ràng. Lập lục bộ ở triều đình giống nhà Lê, có nghĩa là chính thức hơn lục phiên của phủ Trịnh. Triều phục văn võ kể cả hậu cung được đính vàng hoặc bạc tùy theo thứ bậc. Chia nước ra làm 12 dinh và một trấn. Trong các dinh đều có trấn thủ, cai bạ và ký lục để điều hành về quân sự, hành chánh, tư pháp và thuế má. Tính từ bắc vào nam có các dinh trấn sau đây:

  1. dinh Bố Chánh: Từ sông Gianh đến sông Nhật Lệ, lấy Thổ Ngõa làm lỵ sở.
  2.  dinh Lưu Đồn: Vùng phía nam sông Nhật Lệ gồm hệ thống lũy Thầy, lấy Võ Xá làm lỵ sở.
  3. dinh Quảng Bình: Sát phía nam dinh Lưu Đồn, lấy An Trạch (thuộc Lệ Thủy)  làm lỵ sở. Tại đây có trạm dừng để chuyển quân trang quân dụng ra hai dinh phía bắc, nên dinh Quảng Bình thường quen gọi là dinh Trạm.
  4. Cựu dinh: Vùng có hai lỵ sở đầu tiên Ái Tử và Trà Bát.
  5. Chánh dinh: Phú Xuân và vùng phụ cận.
  6. dinh Quảng Nam: Vẫn như dưới thời chúa Nguyễn Hoàng, từ Hải Vân đến Cù Mông, giữ Thanh Chiêm làm lỵ sở.
  7. dinh Phú Yên: Vẫn như dưới thời chúa Nguyễn Hoàng, từ Cù Mông đến đèo Cả. Trong các sử cũ không thấy các chúa Nguyễn đặt lỵ sở của dinh nầy ở đâu. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, thì đến năm Minh Mạng thứ 19 mới đắp thành đạo Phú Yên ở thôn Long An, huyện Đồng Xuân.
  8. dinh Bình Khang: Tức dinh Thái Khang cũ, vẫn giữ Nha Trang làm lỵ sở.
  9. dinh Bình Thuận: Tức phủ Bình Thuận có từ năm 1697 dưới thời vị chúa Nguyễn thứ sáu Nguyễn Phúc Chu.
  10. dinh Trấn Biên: Đó là huyện Phước Long mở rộng đến biên giới dinh Bình Thuận. Ở đây chúng ta dễ lầm lẫn với dinh Trấn Biên của năm 1698 (lúc đó “dinh” chỉ lỵ sở  của huyện Phước Long được đặt ở Biên Hòa). Từ năm 1744 nầy, dinh Trấn Biên chỉ cho một vùng đất tương đương cấp tỉnh như các dinh khác.
  11. dinh Phiên Trấn: Đó là huyện Tân Bình mở rộng, phía nam đến Mỹ Tho, phía tây gồm cả vùng Quang Hóa (tương đương với Tây Ninh ngày nay).  Dinh Phiên Trấn nầy cũng dễ lầm lẫn với dinh Phiên Trấn năm 1698 (lúc đó “dinh” chỉ lỵ sở của huyện Tân Bình đặt ở Sài Gòn – Bến Nghé.)
  12. dinh Long Hồ: Tức châu Định Viễn mở rộng. Đạo Trấn Giang, và đạo Trấn Di đã lệ vào dinh nầy từ năm 1739. Lỵ sở của dinh vẫn đặt tại Cái Bè.
  13. trấn Hà Tiên. Đó là miền duyên hải dọc từ Hà Tiên đến Cà Mau, và các đảo ngoài khơi phía nam. Không có sử cũ nào cho biết tại sao không đổi thành “dinh” như các nơi khác, mà Hà Tiên vẫn giữ là “trấn” như cũ. Lỵ sở của trấn đặt ở Hà Tiên.

      Bên cạnh việc thay đổi ở cung đình và hệ thống hành chính nêu trên, thì văn hóa dân gian cũng được thay đổi. Nếu Đàng Ngoài thịnh hành ca trù, hát ví, thì Đàng Trong phát triển ca Huế, hát bội, bài chòi. Nếu Đàng Ngoài vẫn giữ trang phục phụ nữ truyền thống, thì phụ nữ Đàng Trong đang đi dần tới những chiếc áo dài hai tà eo thon ngực thẳng. Nếu Đàng Ngoài vẫn giữ cách gọi đứa con đầu lòng là con “cả”, thì Đàng Trong sửa lại là đứa con thứ “hai”. Khó để nói rằng “cả” là phạm thượng thần linh, nhưng hầu hết đứa con cả trong nhiều gia đình trong nhiều đời đều chết sớm. Ngay như chúa Tiên Nguyễn Hoàng đến chúa Phúc Nguyên, chúa Phúc Lan, chúa Phúc Tần, chúa Phúc Thái đều có người anh cả chết lúc còn nhỏ hay có cái chết không bình thường. Có lẽ vì chưa có kinh nghiệm chăm sóc đứa con đầu lòng giữa vùng mới khai phá nhiều chướng khí, mà hầu hết những đứa con thứ nhất trong mọi gia đình đều chết yểu. Nhân đó, chúa Nguyễn Phúc Khoát đặt trại đứa con “cả” thành “hai” trong kế hoạch thay đổi văn hóa cho khác với Đàng Ngoài. Trong những đoàn chinh phục phương Nam sau đó, đã có những tiếng gọi anh hai, chị hai, chú tư, cô năm… trong khắp miền đất sông hồ. Dấu trong niềm tin mở cõi, những tiếng gọi ấy là một thứ tình huynh đệ thân thiết, sẵn sàng đùm bọc và hy sinh.

      Lúc nầy tiền kẽm trắng được đúc thêm vào với tiền đồng lưu hành khắp xứ. Ở các phố thị không còn đổi chác mà giao dịch bằng tiền mặt. Đối với những thuyền buôn ngoại quốc, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Nhật, Tàu chấp nhận đồng tiền nầy theo cách riêng được thỏa thuận. Các cửa biển Eo (Thuận An), Hội An, Qui Nhơn, Nha Trang, Phan Thiết, Cần Giờ, Soài Rạp và cửa Đại (sông Tiền) luôn luôn nhộp nhịp ghe thuyền lui tới. Đàng Trong bình yên và phát triển cao nhất kể từ trước, nhưng nước láng giềng Chân Lạp tiếp tục biến động và đi xuống.

      Tháng giêng năm 1748 cựu vương Chân Lạp Nặc Ông Thâm từ vương quốc Xiêm dẫn quân về thủ đô Oudong. Đoàn quân ồ ạt nầy đã đánh tan quân phòng vệ của vua Nặc Ông Tha. Gia Định một lần nữa được cầu cứu, nhưng Đại Việt không ra quân. Chúa Nguyễn Phúc Khoát chỉ cho vị vua thất thế nầy tị nạn ở Sài Gòn. Thật tình Đàng Trong không muốn chinh chiến thêm với Chân Lạp, nhưng tình thế lúc ấy lại đưa đẩy đi một hướng khác. Bất ngờ vị vua mới đăng quang trở lại Nặc Ông Thâm chết trong tháng 3 năm 1748. Ông không kịp truyền ngôi cho một trong 3 người con là Nặc Ông Đôn, Nặc Ông Nguyên hoặc Nặc Ông Vinh. Điều nầy gây nên nội chiến tương tàn huynh đệ, đưa Chân Lạp vào tình trạng vô chính phủ.

      Trước tình thế ấy, vị hoàng đế lưu vong Nặc Ông Tha thỉnh cầu chúa Nguyễn Phúc Khoát ủng hộ mình đi về dẹp loạn. Tháng 4 năm 1748 quan điều khiển Nguyễn Hữu Doãn được lệnh đưa vị vua nầy từ Sài Gòn về nước lập quân đội. Với sự yểm trợ của Đàng Trong quân đội Chân Lạp mới lập bình định được cả nước, và Nặc Ông Tha trở lại làm vua. Quân đội của 3 huynh đệ Đôn, Nguyên và Vinh càng tan ra thành mảnh nhỏ hơn, tản mác khắp nơi. Khi Nguyễn Hữu Doãn rút quân về nước, chỉ còn nghe nói Nặc Ông Nguyên đang tị nạn ở Vọng Các (Bangkok). Tưởng như thế đã yên, nhưng chỉ 2 tháng sau, tháng 6 năm 1748 Nặc Ông Nguyên lại trở về.  Lần nầy có cả thuộc tướng của cha mình từ trước (Cao La Hâm?) với cả đạo quân của Xiêm La. Nặc Ông Tha không chống đỡ nổi phải chạy qua Sài Gòn trở lại, và Nặc Ông Nguyên trở thành vua Chân Lạp từ mùa hè năm 1748.

      Từ năm 1748 nầy đến 5 năm sau mối giao hảo giữa Chân Lạp và Đàng Trong không có gì tệ hại. Ở Sài Gòn vua lưu vong Nặc Ông Tha đã chết, nên không còn ngòi nổ nữa. Nhưng, đến mùa thu năm 1753 thì tình hình đổi khác. Vua Nặc Ông Nguyên  bất bình khi thấy lưu dân Việt càng đi sâu vào những vùng chưa khai phá dọc theo hạ nguồn sông Bassac (sông Hậu). Dù ở những nơi đó là đất của Phù Nam xa xưa và đương thời không có hệ thống hành chánh của Chân Lạp, nhưng nhà vua Chân tin những vùng nầy thuộc của người Chân. Ông nghĩ rằng từng bước mình bị mất lãnh thổ, nên đã liên kết trở lại với quân Xiêm và cả Đàng Ngoài để chống lại chúa Đàng Trong. Chúa Nguyễn Phúc Khoát sợ mối liên hệ tay ba nầy sẽ trở nên đậm đà hơn, nên đã đề phòng. Cuối năm 1753 quân đội được chuẩn bị ở Sài Gòn. Đó là đạo quân do thống suất Thiện Chính chỉ huy, và ký lục Nguyễn Cư Trinh làm tham mưu. Nó gồm liên quân của Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, và Phiên Trấn. Họ sẵn sàng tiến về Long Hồ.

      Điều gì phải đến khó tránh được. Tháng 6 năm 1954 chiến tranh Chân – Việt xảy ra. Đó là lúc cộng đồng lưu dân Chiêm Thành sống ở Chân Lạp bị triều đình Oudong đàn áp. Họ sống thành từng khu, và bị nghi ngờ tiếp tay cho người Việt. Không biết điều nầy có thật hay không, nhưng hai bên Oudong và Phú Xuân đều mượn người Chiêm để gây chiến tranh. Quân đội của vua Nặc Ông Nguyên đã phá nát những làng canh tác của người Chiêm ở Kha Khâm và Vô Tà Ơn. Đạo quân nầy lấy thêm quân ở Kompong Long (Tầm Phong Long tức Châu Đốc), và xuôi dòng Bassac (Hậu Giang) đến Tầm Bông – Xôi Lạp(*). Họ sẵn sàng tiến quân chiếm dinh Long Hồ. Dĩ nhiên, Đàng Trong phải ra tay. Chiến trường ở phía tây nam tân dinh nầy xảy ra. Tiến và thủ vờn nhau kéo dài đến hơn 6 tháng dọc theo bờ bắc sông Hậu. Có lần quân đội Đàng Trong đã đánh tới Cầu Nam và Nam Vang, nhưng thống suất Thiện Chính đã bỏ mất nhiều cơ hội chiến thắng. Điều nầy đã khiến chúa Nguyễn Phúc Khoát gởi cai đội Trương Phước Du thay thống suất Thiện Chính vào mùa xuân năm ất hợi 1755. Chiến trường đổi khác. Tân thống suất họ Trương phối hợp chặt chẽ hơn với tham mưu Nguyễn Cư Trinh, và nghiên cứu địa bàn kỹ hơn với lưu trấn dinh Long Hồ bấy giờ là Tống Phước Hiệp. Bên cạnh đó, đạo quân Hà Tiên của trấn thủ Mạc Thiên Tích cũng được lịnh tăng viện.

      Không biết sự phối trí mới của quân đội Đàng Trong, nên vua Chân Lạp Nặc Ông Nguyên tiếp tục tiến quân. Mùa hè 1755, đích thân nhà vua nầy chỉ huy trên một vạn quân tràn sâu vào bờ bắc Hậu Giang. Đó là vùng kinh rạch còn chưa phân biệt rạch ròi biên giới Việt – Chân. Họ mang lòng căm thù “lấy lại giang sơn” hơn là tính toán chiến thuật. Họ đi trên những chằng chịt của nước, bùn và rừng. Họ không được quân Xiêm yểm trợ vì triều đình Ayutthaya đang bận chiến đấu với quân đội Miến Điện của vua Alungpaya. Tương tự như thế, Đàng Ngoài lúc nầy cũng đang bận rộn với thủ lãnh Hoàng Công Chất ở cứ địa Mường Thanh. Cả Xiêm và Trịnh không yểm trợ được cho quân Chân, trong khi quân Nguyễn đã có những thay đổi chiến thuật.

      Thống suất Trương Phước Du có số quân gấp đôi. Ông chia quân vừa tấn công vừa phục kích từng đơn vị tiến quân của Chân Lạp. Do vậy, chưa đến địa giới dinh Long Hồ, vua Nặc Ông Nguyên đã thất bại. Số người chết đã lên tới số ngàn. Vua nhà Chân phải rút tàn binh chạy về nơi trú phòng dã chiến bên bờ sông Hậu. Con đường trước mặt là chạy về thượng nguồn để đến nơi an toàn Tầm Phong Long (Châu Đốc). Rất tiếc, điều nầy không thực hiện được. Tham mưu Nguyễn Cư Trinh đã cho hai cánh quân Long Hồ và Bình Thuận chặn đường ở ngã ba sông Vàm Nao. Quân Nặc Ông Nguyên buộc phải lui quân về phía nam. Đó là miền hoang vu sông nước Hoa Thê – Núi Sập, có quân của Mạc Thiên Tích từ duyên hải đang tiến tới. Quân Chân Lạp bị dồn vào những ốc đảo, mà sự cầm cự chỉ gánh lấy thảm hại. Đứng trước sự sống còn của một đoàn quân, vua Nặc Ông Nguyên đã đề nghị  đến một thỏa thuận:  Đại Việt thực sự có chủ quyền trên phần đất Tầm Bông – Xôi Lạp, và đạo quân sa lầy được bình an trở về. Tháng giêng năm 1756 Tầm Bông và Xôi Lạp được sát nhập vào dinh Long Hồ trong trường hợp nầy.

      Sự thành công của chúa Nguyễn Phúc Khoát năm 1756, cũng là sự thất bại của Vua Nặc Ông Nguyên. Vị vua nầy còn rất trẻ, nhưng ông đã xuống tình thần khi nhận lấy hậu quả của cuộc thất trận vừa qua. Nhà vua suy sụp đến nỗi phải cử người chú họ là Nặc Nhuận làm giám quốc để vực dậy một một tình hình xuống dốc, tuy nhiên sự mong đợi đó chẳng bao giờ thành.

     Qua hơn một năm chịu đựng với sức khoẻ tồi tệ, vua Nặc Ông Nguyên qua đời vào tháng 8 năm 1757. Sự tranh quyền trong các hoàng thân xảy ra. Người chú Nặc Nhuận bí mật liên lạc với chúa Nguyễn Phúc Khoát để được ủng hộ lên làm vua. Với tư cách giám quốc, Nặc Nhuận giao luôn phần đất nhầy nhụa bùn lầy cuối nguồn sông Bassac cho Đàng Trong (đó là một phần của Sóc Trăng, Ba Thắc, Trà Vinh sau nầy). Khó để nói chúa Nguyễn Phúc Khoát không bằng lòng ủng hộ. Dưới mắt vị chúa Nguyễn thứ 8, vùng đất nhầy nhụa nầy là vùng đất vô cùng hứa hẹn. Ông cho sát nhập ngay vùng nhượng địa mới vào dinh Long Hồ của Tống Phước Hiệp. Công việc sát nhập vùng hạ nguồn sông Bassac vào dinh Long Hồ mau chóng thành công, nhưng việc đưa Nặc Ông Nhuận làm vua Chân Lạp thì hoàn toàn thất bại. Trong lúc chuẩn bị chưa tới đâu, thì bất ngờ Nặc Ông Nhuận bị giết. Ông ta bị một hoàng thân khác cũng là rể của mình là Nặc Hinh giết chết. Theo đó, quân đội phải đứng lên tiêu diệt kẻ nhiếp chính bán nước Nặc Nhuận.

      Dĩ nhiên là Nặc Hinh lên làm vua. Điều này đã khiến người con trai trưởng của Nặc Nhuận, em vợ của tân vương Nặc Hinh, là Nặc Tôn cất quân báo thù. Cùng lúc ấy phe thân Xiêm của một hoàng tử khác có tên Nặc Nôn nhảy vào vòng chiến.  Trong 3 lực lượng, Nặc Tôn yếu nhất phải bỏ chạy đến Hà Tiên nương náu. Ông nầy được chúa Nguyễn Phúc Khoát ra lịnh tổng trấn Mạc Thiên Tích tích cực ủng hộ. Món nợ của người cha cần phải trả cho người con. Nặc Tôn với sự tiếp viện đầy đủ, trở về củng cố quân đội. Một lần nữa Chân Lạp lặp lại nội chiến ba nhà. Người chết vô số và khó để biết xác chết nào ở bên nào. Chiến trường vẫn tiếp diễn đến cuối mùa thu năm 1757, thì phe Nặc Tôn trở nên yếu hơn hai phe kia. Thống suất Trương Phước Du từ Gia Định được lịnh mang quân qua kinh thành Oudong. Khi đạo quân Đàng Trong đến nơi, thì lập tức Nặc Tôn làm chủ được tình hình. Nặc Hinh phải rút chạy ra khỏi thủ đô. Nhà vua nầy chạy đến Tầm Phong Xúy, và chính người thuộc hạ trấn thủ của mình ở đây là Nha Uông giết chết. Nha Uông phản bội Nặc Hinh, nhưng không theo Nặc Tôn mà theo Nặc Non. Cuộc chiến còn 2 thế lực, và Nặc Non bại trận phải chạy theo quân Xiêm về Băng Cốc.

      Kết thúc một triều đại bảo thủ chưa đầy 3 tháng của Nặc Hinh đã khiến cho Chân Lạp tan hoang. Để lập lại sự ổn định, chúa Nguyễn Phúc Khoát mà trực tiếp là Mạc Thiên Tích tích cực giúp Nặc Tôn. Ông nầy lên làm vua vào tháng 11 năm 1757, lúc đất nước đang được nhận sự bảo trợ của Đàng Trong. Để trả ơn cho việc nầy, vua Nặc Tôn giao phần đất Tầm Phong Long cho chúa Nguyễn Phúc Khoát. Phần đất mới nầy tiếp tục được nhập vào dinh Long Hồ, và chúa đặt làm 3 đạo: Châu Đốc, Tân Châu (khu vực cù lao Giêng), và Đông Khẩu (Sa Đéc). Để dễ kiểm soát vùng phía tây nam mới nhập, dinh lỵ dinh Long Hồ ở Cái Bè được dời đi. Hai mươi lăm năm (tính từ 1732) dinh lỵ nầy ở bên bờ tả ngạn sông Tiền, nay được dời sang bờ hữu ngạn thuộc xứ Tầm Bao (Vĩnh Long ngày nay). Cùng thế ấy, trong năm 1757 nầy vua Nặc Tôn riêng tặng Mạc Thiên Tích vùng duyên hải từ Hà Tiên dọc về phía tây tới Krong Preah Sihanouville. Nó được đổi sang tên Việt thành 5 làng là Hương Úc, Cần Vọt, Chân Sum, Sài Mạt, Linh Quỳnh, và Mạc Thiên Tích dâng hết cho chúa Nguyễn Phúc Khoát. Vị chúa thứ tám nầy cho lệ một dọc duyên hải mới được tặng nhượng vào hạt Hà Tiên của trấn Hà Tiên. Riêng hai xứ phía đông là Rạch Gía và Cà Mau được nâng thành hai đạo. Rạch Giá thành đạo Kiên Giang, và Cà Mau thành đạo Long Xuyên trực thuộc trấn Hà Tiên. Tính từ tháng 11 năm 1757 nầy, dinh Long Hồ và trấn Hà Tiên có diện tích rộng nhất kể từ trước.

      Nếu những diễn tiến ở phủ Gia Định và trấn Hà Tiên như thế, thì ở hoàng cung Phú Xuân cũng rất nhiều phức tạp. Phải lùi lại từ thời chúa cha Nguyễn Phúc Thụ. Vị chúa thứ 7 nầy rất sủng ái chánh thiếp Trương Thị Thư. Bà Thư rất đẹp và là con của chưởng dinh Trương Phúc Phan, và em của nội thần Trương Phúc Loan. Bao giờ hồng nhan cũng bạc mệnh? Không biết điều đó có đúng hay không, nhưng bà Thư chết lúc mới 22 tuổi. Khi ấy trưởng tử Nguyễn Phúc Khoát chỉ vừa lên sáu. Thương người mẹ chỉ còn là những hình ảnh không rõ nét, đến lớn khôn thế tử Nguyễn Phúc Khoát đặc biệt nâng đỡ nhà họ Trương. Người cậu ruột Trương Phúc Loan trở thành vị quan thân cận của ông Khoát từ những ngày còn ở tiềm để. Trong chiều hướng nâng đỡ ấy, thế tử Khoát cũng lấy hai người con gái đàng họ ngoại nầy về làm vợ. Bà Trương Thị Dung đã sinh cho thế tử hai người con trai, đó là Nguyễn Phúc Chương sinh năm 1731 và Nguyễn Phúc Côn (thân phụ của vua Gia Long) sinh năm 1733. Bà Trương Thị Hoàng sinh Nguyễn Phúc Hiệu năm 1738. Hiệu là công tử  thứ 9 giữa hàng tá công tử, nhưng được chúa Khoát thương yêu nhất. Lý do là cậu bé có nét dễ thương, và đặc biệt ra đời ngay vào năm Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi chúa.

      Từ khi lên ngôi chúa năm 1738 đến lúc xưng Võ vương năm 1744 đến suốt 10 năm sau là thời gian bình yên và thành công. Có thể nói 10 năm nầy  là thời gian nhàn nhã nhất của chúa Nguyễn Phúc Khoát. Cơ hội ấy đã đưa ông vào con đường hoan lạc do người cậu ruột Trương Phúc Loan dẫn dắt. Qua người cậu họ Trương đang là quan nội đình, Võ vương bí mật dan díu với người em họ Nguyễn Phúc Ngọc Cầu của mình (con của ông chú ruột Nguyễn Phúc Điền). Đó là người em gái đẹp như tiên, ít hơn nhà chúa 20 tuổi. Đây là điều bình thường với nhà Trần ngày xưa, nhưng trở nên những điều đàm tiếu đối với nhà Nguyễn bây giờ. Tuy nhiên mọi dị nghị rồi cũng qua, khi Võ vương Nguyễn Phúc Khoát công khai mối tình của họ. Đó là lúc chuẩn bị cho đứa con đầu lòng của người vợ trẻ Ngọc Cầu chào đời vào tháng 12 năm 1754. Nhờ sự chính thức công nhận của của phụ vương, cậu bé nầy đương nhiên nằm vào hàng công tử: Công tử thứ 16 Nguyễn Phúc Thuần.

      Võ vương Nguyễn Phúc Khoát còn có thêm các tì thiếp nữa để ông có tới 18 công tử và 12 công nữ. Con trai nhiều như vậy, nhưng đến năm 1754 chưa thấy chọn ai làm thế tử. Thông thường người con trưởng được chọn, nhưng công tử thứ 9 Nguyễn Phúc Hiệu được lọt vào mắt của Võ vương. Không có sự bất bình trong hàng huynh đệ, nhưng rất tiếc đến năm 1760 thế tử Hiệu bất ngờ qua đời. Ông Chết để lại người vợ trẻ chưa tới hai mươi, và đứa con trai Nguyễn Phúc Dương vừa hơn một tuổi. Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát hụt hẫng khi nhìn đứa cháu nội mất cha chưa biết nói. Ông chọn người khác làm thế tử. Lúc nầy người con đầu Nguyễn Phúc Chương đã mất nên chúa Khoát chọn người con thứ hai, Nguyễn Phúc Côn. Ông Côn được nội hữu Trương Văn Hạnh và thị giảng Nguyễn Cao Kỷ giúp sức để chuẩn bị cho tương lai nối nghiệp cha. Năm 1760 nầy thế tử Nguyễn Phúc Côn đã 27 tuổi, và thần dân các nơi đều kỳ vọng vào ông.

      Tuy nhiên, mọi điều đều có ngoại lệ. Vẫn có nhiều người không muốn đưa thế tử Côn lên ngôi, đặc biệt trong đó có nội thần Trương Phúc Loan. Người cậu nầy lợi dụng lúc Võ Vương còn say mê người em gái họ, nay là người vợ trẻ một con, họ Trương đắp dày lực lượng cho riêng mình: Nguyễn Phúc Nghiễm là cậu ruột của công tử Thuần, và rất thân với Trương Phúc Loan giữ bộ Lại kiêm bộ binh. Nguyễn Phúc Viên, em ruột Nguyễn Phúc Nghiễm nắm toàn quyền thủy quân. Hai con trai của Trương Phúc Loan là Trương Phúc Thặng và Trương Phúc Nhạc đều là rể của Võ vương được làm quan nội điện. Những người không cùng cánh dần dần bị loại trừ. Nguyễn Cư Trinh là một ví dụ. Ông Trinh là tiếng nói mưu lược, nhưng cứ tiếp tục ở lại Gia Định sau trận bình Chân Lạp năm 1756. Ông ở lại làm quan tham mưu ở dinh Điều Khiển từ năm 1757. Bằng cách khéo léo ông Loan thuyết phục Võ Vương rằng ở phương nam cần một tướng tài ba như Nguyễn Cư Trinh. Ở Phú Xuân, Trương Phúc Loan trở thành một thứ quyền thần, mà những hoàng thân họ Nguyễn đã bắt đầu thấy khó chịu. Mọi chuyện đang biến chuyển như thế, thì  Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát đột ngột băng hà. Đó là một ngày trung tuần tháng 5 năm 1765.

      Biến cố nầy ngoài dự liệu của Trương Phúc Loan, nhưng ông ta nhanh chóng chớp lấy thời cơ. Thế tử Nguyễn Phúc Côn lập tức bị quản thúc và bị giam vào ngục. Vị thế tử 33 tuổi nầy không kịp để tang cha, Nội hữu Trương Văn Hạnh và thị giảng Nguyễn Cao Kỷ thì không cần tra hỏi. Hai ông nầy bị xử chết để uy hiếp những tiếng nói phản đối. Chưởng dinh Nguyễn Cửu Thống và thái giám Nguyễn Cửu Đức tiếp tay đắc lực cho Trương Phúc Loan trong việc nầy. Họ thành công rất dễ dàng trong nỗi run sợ của triều thần. Những ngày tang chế đi qua trong niềm u uẩn của nhiều người. Trong lúc hoàng thành Phú Xuân còn đầy những âm vang kinh sợ và nghi hoặc, thì vị công tử thứ 16 chính thức được đưa lên ngôi: Định vương Nguyễn Phúc Thuần, vị chúa thứ 9 của nhà Nguyễn. Trong tháng 5 năm 1765 nầy, chúa Nguyễn Phúc Thuần phong Trương Phúc Loan chức quốc phó để giúp mình điều hành đất nước. Ở một nơi xa xôi trong dinh Điều Khiển miền nam, đại thần Nguyễn Cư Trinh chỉ than thở được một câu “nước sẽ loạn”. Không biết từ nay Đàng Trong sẽ ra sao?

Dù chưa tĩnh nhưng hầu không động
Đất Đàng Ngoài một mối yên yên
Phương trời nam ấy ra sao đó
Bác Vọng hoàn đô khéo sấm truyền

Phú Xuân được lại dinh quốc trấn
Sau trước ba đời mấy gió mây
Sông Hương vẫn chảy quanh thềm cũ
Như thể chờ nhau cuộc sum vầy

Thành điện mới trông xa nam bắc
Xưng ngôi vương sau độ dinh về
Bắc là cột Trịnh từ muôn trước
Sao Nguyễn nam triều mãi hoàn khuê?

Đúc quốc ấn, triện Vương thay Chúa
Đổi từ Ty qua Bộ chăn dân
Võ văn triều phục đều đính bạc
Non nước Đàng Trong đẹp mấy ngần

Nào dinh trấn nào miền phố biển
Nào yên vui nào những bán buôn
Phú Xuân khởi sắc bao hương sắc
Mà tiếc Oudong lại dấy buồn

Cuộc chính biến nhà Chân năm ấy
Đổi ba vua mà vẫn chưa yên
Vua nào chiến thắng thành Chân chúa
Mà sợ Đàng Trong lấn chủ quyền

Nặc Ông Nguyên xua quân sông Hậu
Diệt Chiêm Thành lưu trú nơi nao
Kha Khâm loạn lạc đành bỏ xứ
Xôi Lạp ai tranh trận máu đào

Từ Sài Gòn Cư Trinh, Thiên Chính
Hiệp Bình Khang Bình Thuận tiến quân
Quân Chân bỏ ngỏ bờ sông Hậu
Chạy mãi về đâu có chỗ dừng?

Sông Vàm Nao, Long Hồ chặn đứng
Quân Ông Nguyên nghẽn lối Oudong
Sa lầy buổi ấy đường nam rút
Núi Sập, Ba Thê nước ngập đồng

Cuộc thế ấy buộc hàng đổi chác
Bỏ Tầm Bông Xôi Lạp cho yên
Long Hồ Định Viễn thênh thang quá
Đất nới sang sông những thổ điền

Chừng ấy thứ chưa yên đất tháp
Mùa thu sau Chân mất vua Nguyên
Ai người lấy nước đem đi đổi
Bỏ đất bùn non lấy vương quyền

Duyên cớ ấy sinh ra thù hận
Tình cha con nhạc tế không còn
Oudong máu đổ không hề ít
Chân Lạp sa lầy những nước non

Từ độ ấy Nặc Hinh chiến thắng
Nặc Tôn thua thất trận về đâu
Hà Tiên tiếp vận mùa thu tới
Chiến trận Oudong lại bắt đầu

Oudong máu thấm vương thành cổ
Họ Nặc ba nhà chém giết nhau
Phước Du một sớm bình Chân Lạp
Thế cuộc ra sao thế cuộc này?

Ông Hinh chết bên Tầm Phong Xúy
Ông Non về bên tận Xiêm La
Ông Tôn thắng thế thành Chân chúa
Chân Lạp hoan ca buổi thái hòa

Nhớ ơn Nguyễn, vua Chân đền đáp
Tầm Phong Long, Sài Mạt nơi nao
Trăng treo trên đỉnh đồi chúa Xứ
Rọi suốt châu biên sóng rạt rào

Đất rộng mở cứ ngờ đã ổn
Mà hay đâu buổi ấy đa đoan
Tình nào đem gởi người em gái
Tuổi lệch đôi mươi có muộn màng?

Vương Phúc Khoát thê nhi rộn rã
Trao cho con thứ chín trừ vương
Tài là thao lược tâm là lượng
Sao lại ra đi ở giữa đường

Từ độ ấy cung đình chớm loạn
Trương Phúc Loan đã lót chuyên quyền
Phước Côn được lập ngôi thế tử
Ai ngờ một sớm lại không yên

Năm ất dậu Võ vương băng tịch (1765)
Chiếu truyền ngôi ai bỏ nơi nao
Trừ vương bị phế giam vào ngục
Phúc Loan thu tóm hết Nguyễn trào

Đường nhà Nguyễn lao đao dợm nở
Chúa Phúc Thuần tuổi nhỏ về đâu
Bao giờ trở lại thời hưng thịnh
Hay bước truân chuyên cuộc dãi dầu?

________________________

*Tầm Bông, Xôi Lạp: Năm 1756 vua Chân Lạp Nặc Ông Nguyên thua trận ở Long Hồ, giao Tầm Bông và Xôi Lạp để cầu hòa. Theo Phủ Biên Tạp Lục của học giả Lê Qúi Đôn do qúi vị Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Trọng Hậu, Nguyễn Ngọc Tính dịch, sử gia Đào Duy Anh hiệu đính do nhà Văn Hóa Thông Tin Hà Nội xuất bản năm 1976, thì Tầm Bông tương đương với Long Xuyên, và Xôi Lạp tương đương với Cần Thơ. (chú thích nầy ở trang 81 của sách điện tử gồm 445 trang). Nói chung là hai địa danh nầy ở bên bờ sông Hậu. Chúng rất dễ lầm lẫn với hai vùng có âm đọc gần giống: Tầm Bôn và Lôi Lạp.
Tầm Bôn (Tân An, Long An ngày nay) mà chúa Nguyễn Phúc Chu cho đào kênh Bảo Định thông qua Mỹ Tho năm 1705. Lôi Lạp hay Lôi Lạt (Gò Công) mà năm 1679 đoàn quân của Dương Ngạn Địch đã đi ngang qua để vào Mỹ Tho. Hai địa danh nầy thuộc huyện Tân Bình khi Kinh lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh vào lập phủ Gia Định từ năm 1698.


<<  |  >>