Skip to content

Chương 21/12

LÊ TRUNG HƯNG
(1592 – 1789)

Đoạn mười hai

ĐÀNG NGOÀI: ĐÁNH DẸP QUÂN KHỞI NGHĨA

 

      Năm 1738, khi chúa Nguyễn Phúc Thụ chết, thì Đàng Trong vẫn mở rộng lãnh thổ và dần dần ổn định. Trong khi ấy, Đàng Ngoài lại trở nên rối loạn. Tháng 10 năm 1739, có cuộc khởi nghĩa của hoàng thân Lê Duy Mật, con áp út của vua Lê Dụ Tông. Ông cùng người chú ruột Lê Duy Chúc và người em ruột Lê Duy Quy âm thầm tạo cuộc binh biến chống Trịnh. Họ được các trung thần Phạm Công Thế, Vũ Bá Thước, Lại Thế Tế ủng hộ bí mật lập nên những binh đội. Họ có kế hoạch đốt các doanh trại và đột kích phủ chúa, nhưng việc chưa thực hiện đã bị lộ. Lại Thế Tế bị bắt cùng với hàng trăm nghĩa sĩ. Có người đã bị xử chết, có người đang bị giam. Đó là lớp người hy sinh đầu tiên cho cuộc khởi nghĩa.

      Những đội binh khác may mắn chạy thoát, nhưng trên đường bôn tẩu hai hoàng thân Lê Duy Chúc và Lê Duy Quy đều bị tử thương. Bên mình Lê Duy Mật chỉ còn Phạm Công Thế và Vũ Bá Thước cùng số nghĩa quân chạy về Hải Dương. Tại đây một thổ hào trung thành với nhà Lê là Ngô Hưng Tạo tìm cách đưa đoàn người vượt biển vào nam. Không may một lần nữa, cuộc vượt thoát bị phát hiện. Vũ Bá Thước và những thuyền binh phía sau lại phải hy sinh để đoàn tòng vong ra khơi. Đường biển quá nhiều bất trắc, đoàn tàn binh phải tấp vào cửa Thần Phù để tìm đường lên đất liền. Đầy những gian nan trước mắt nhưng được thoát nạn, hoàng thân Lê Duy Mật cố dựng lại lực lượng.

      Cứ địa Thạch Thành bên sườn tây nam Tam Điệp là nơi quy tụ đầu tiên những người nặng lòng diệt Trịnh phù Lê. Ở đây mang mang hào khí của lòng ái quốc, đã làm nhiều người tìm đến. Chưa tròn hai năm, quân số đã tới số ngàn. Tháng 7 năm 1740 từ vùng biên trấn Thanh Hoa, họ tiến đánh các xứ tây bắc: Lạc Sơn, Lương Sơn, Ba Vì. Họ tràn qua Tiên Phong, Phúc Lộc của thừa tuyên Sơn Tây. Đốc lãnh thừa tuyên nầy là Trần Đình Miên đem quân chận lại và khẩn báo về triều đình Đông Kinh. Bồi tụng Nguyễn Bá Lân được lịnh mang quân đến tiếp viện. Sau 3 ngày chiến đấu, quân khởi nghĩa bị đánh bật khỏi Sơn Tây, họ phải rút về phía nam trở lại căn cứ Thạch Thành. Tuy không chiếm được xứ đoài phên dậu Đông Kinh, nhưng cuộc tiến quân của hoàng thân Lê Duy Mật tạo ra tiếng vang rất lớn. Rất nhiều cuộc khởi nghĩa hoặc bạo loạn tiếp theo. Tình hình rối ren khắp nơi.

      Trước tình thế bất ổn như thế mà chúa Trịnh Giang vẫn mãi mê trác táng. Ông đã từng chung chạ với vị ái phi trẻ tuổi của cha mình. Ông đã lập những phủ đệ ở những nơi xa để mây mưa với những thiếu nữ do hoạn quan Hòang Công Phụ tiến cử. Một lần cùng vị hoạn quan họ Hoàng từ một phủ đệ trở về kinh thành thì bị sét đánh. Điều nầy đưa Trịnh Giang đến nỗi ám ảnh có một sự trừng phạt của trời đất, hay là sự trả thù từ những người bị ông giết chết. Ông lập cung Thưởng Trì sâu trong lòng đất để tránh nghe tiếng sấm sét, nhưng không có hiệu quả. Yếu tố tâm lý đã đưa nhà chúa trở nên hoảng hốt bất thường. Trước tình thế ấy thái phi Vũ Thị, mẹ của chúa Trịnh Giang, rất lo ngại. Bà tìm gặp Nguyễn Công Thái, Nguyễn Quý Cảnh và Nguyễn Nghiễm là ba vị quan trung thành với phủ Trịnh để hội ý. Được sự cố vấn của ba vị nầy, thái phi họ Vũ quyết định tìm người thay thế đứa con trưởng Trịnh Giang. Tổng tiết chế Trịnh Doanh, em ruột Trịnh Giang lên ngôi chúa trong trường hợp nầy.

      Quyết định của thái phi họ Vũ quả thức thời và hợp lý. Người con trai thứ Trịnh Doanh của bà thực là một người có tài. Trịnh Doanh điều hành đất nước từ tháng 4 năm 1740. Việc đầu tiên ông làm là trả ngôi vua về cho người con trưởng của vua Lê Thuần Tông. Đó là Lê Duy Diêu đã bị Trịnh Giang truất quyền thái tử.  Theo Trịnh Doanh, cha truyền ngôi cho con là thiên ý, nên tháng 5 năm 1740 ông buộc vua Lê Ý Tông thoái vị làm thái thượng hoàng. Ông đưa Lê Duy Diêu lên ngôi tức vua Lê Hiển Tông. Vị tân vương nầy vừa đúng 23 tuổi, và ông đặt niên hiệu là Cảnh Hưng. Nó hàm ý hưng thịnh một triều đại. Không biết điều mong đợi đó có được hay không, riêng chúa Trịnh Doanh thì có một hy vọng khác. Nhà chúa hy vọng việc đưa ngôi vua về dòng chính, sẽ không đẩy dân chúng chạy theo quân khởi nghĩa Lê Duy Mật.

      Rất tiếc không như điều chúa Trịnh Doanh mong đợi. Mùa hè năm 1740, những hậu duệ của nhà Mạc ở Hải Dương là Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển chiêu quân khởi loạn. Họ chiếm Hồng Châu và Khoái Châu sau khi thắng quân Trịnh do Trần Viêm chỉ huy. Hai chiến địa ở hạ nguồn sông Hồng nầy như ở ngay trước mũi của Đông Kinh, nên Trịnh Doanh thả lỏng Lê Duy Mật ở Thạch Thành dồn quân tấn công anh em họ Nguyễn. Trận chiến mùa hè ở Hồng Châu do Hoàng Ngũ Phúc chỉ huy đã đánh tan quân khởi nghĩa gốc Mạc. Hai anh em họ Nguyễn đều bị chết, nhưng hai thuộc hạ của họ là Hoàng Công Chất và Nguyễn Hữu Cầu chạy thoát. Nếu Hoàng Công Chất chạy về làng Ngân Già vùng biển Sơn Nam, thì Nguyễn Hữu Cầu mang được một số quân lớn hơn đến bán đảo Đồ Sơn. Ông Cầu tinh thông cả văn lẫn võ, giỏi bơi lội, và đặc biệt là giàu tinh thần huynh đệ. Tất cả thuộc cấp đều gần gũi với ông, nên họ thân mật gọi ông là quận He như tên một loài cá. Họ hoạt động vùng ven biển Hải Dương mà quân Trịnh không làm gì được.

      Cùng trong mùa hè năm 1740 nầy, ở Sơn Tây cũng có loạn. Hai nho sĩ là đồ Tế và đồ Bồng khởi binh chống phủ chúa. Lực lượng nầy yếu hơn lực lượng Nguyễn Cừ ở miền đông nên dễ dẹp tan hơn. Tuy nhiên, một đồng chí của hai vị đồ nho nầy lại chịu đựng dai dẳng khi mang số quân còn lại về Tam Đảo lập căn cứ. Đó là Nguyễn Danh Phương quê quán ở làng Tiên Hội, Vĩnh Phúc. Làng nầy có tên nôm na là làng Hẻo, nên Nguyễn Danh Phương thường được gọi là Quận Hẻo (theo Dư Thảo Địa Chí tỉnh Vĩnh Phúc). Ông chọn núi Độc Tôn để đắp hào lũy phòng thủ. Nếu ở Đồ Sơn quận He nhờ biển để hoạt động, thì ở Tam Đảo quận Hẻo nhờ rừng để tiến quân. Chỉ từ mùa hè năm 1740 đến mùa thu năm 1742 quân của Nguyễn Danh Phưong đã vang xa miền Tuyên Quang, Hưng Hóa đến tận Sơn Tây.

      Thời gian nầy cũng là lúc quân khởi nghĩa Lê Duy Mật đã chuẩn bị đầy đủ ở Thạch Thành. Tháng 9 năm 1742 Lê Duy Mật tiến quân từ Thiên Quan ra bắc một lần nữa. Họ chiếm được Đà Bắc và chiếm được Lương Sơn ở khúc eo của sông Đà chảy về sông Hồng. Từ vùng bán sơn địa nầy họ sẽ tiến chiếm vùng Tam Giang màu mỡ làm cứ địa. Tưởng ở miền đông và miền tây đều có loạn sẽ giúp cho cuộc bắc tiến Lê Duy Mật, nhưng không phải thế. Dù phải chiến đấu với quận He và quận Hẻo, nhưng Trịnh Doanh đặc biệt chú ý lực lượng của vị hoàng thân họ Lê. Nếu Lê Duy Mật dùng quân Thanh Hoa – Nghệ An như một đơn vị trung thành, thì Trịnh Doanh dùng quân ưu binh Tam Phủ. Nó đã được rèn luyện từ thời người cha Trịnh Cương, và vẫn trung thành với nhà họ Trịnh. Không phải dòng họ Trịnh cũng phát tích từ Thanh Hoa đó sao? Trịnh Doanh tung đoàn quân ưu binh chặn các đơn vị tiên phong của Lê Duy Mật mới bén gót tới Sơn Tây. Họ đánh bức luôn đại quân của hoàng thân họ Lê ở Lương Sơn. Giữa đêm bập bồng khói lửa, lực lượng trung thành của họ Trịnh đã đuổi quân họ Lê chạy về phía nam. Hoàng thân Lê Duy Mật một lần nữa phải rút về Thạch Thành. Quân số chỉ còn hơn một nửa. Tại đây cũng không giữ nổi, quân khởi nghĩa phải kéo về Lôi Dương. Họ định vượt sông Lương Giang rút về cố đô Vạn Lại. Cuộc rút lui nửa chừng bị quân của Nguyễn Nghiễm đánh bật ra. Quân còn lại của hoàng thân họ Lê phải chạy về Lang Chánh. Tại vùng cố thổ nầy, họ không thấy quân Trịnh đuổi theo nữa. Phải chăng hồn thiêng của nghĩa sĩ Lam Sơn của trên 300 năm trước đã che chở cho họ?

      Sự thật chưa hẳn như thế. Quân Trịnh không đuổi theo vì Trịnh Doanh không muốn lún sâu vào rừng già Thanh Hoa, trong lúc xứ bắc vẫn chưa yên. Hoàng Công Chất ở vùng biển Sơn Nam đã tạo được lực lượng, và bắt tay với Nguyễn Hữu Cầu ở Đồ Sơn. Họ vốn thân thiết từ lúc còn dưới trướng Nguyễn Cừ, nên tinh thần huynh đệ mau chóng gom hai lực lượng thành một. Rất sớm, họ làm chủ một vùng duyên hải dài. Liên quân nầy đã đánh bạt thủy quân của đô đốc Trịnh Bảng vào mùa hè năm 1743 ở cửa biển Giai Môn. Trịnh Bảng bị thương ở cửa biển nầy phải chạy về Cát Bạc. Tại đây quân Trịnh bị bao vây nhiều ngày. Trịnh Bảng đã chết vì vết thương của ông, khi quân tiếp vận từ Hồng Châu không đến được. Tình hình miền đông không hề đơn giản. Trịnh Doanh lập tức sai Hoàng Ngũ Phúc và Hoàng Công Kỳ dẫn 29 cơ đội gồm thủy bộ tiếp ứng đạo quân còn lại của vị đô đốc họ Trịnh. Trịnh Doanh quả là  người mưu lược. Ông biết lúc nào nên dừng, lúc nào nên đánh. Lực lượng nầy đủ để phủ đầu quân khởi nghĩa.  Nguyễn Hữu Cầu và Hoàng Công Chất cũng biết điều đó, nên không ráng sức chống cự. Họ rút lui về Đồ Sơn cố thủ.

      Dĩ nhiên, Hoàng Ngũ Phúc không dừng lại. Một cuộc tấn công Đồ Sơn được thực hiện. Từ núi Ngọc, bộ binh đổ bộ về phía đông. Từ cửa Văn Úc thủy quân tiến về phía bắc. Bán đảo hình đầu voi nầy mau chóng bị tràn ngập bởi quân binh Trịnh. Tuy có quân đội áp đảo, nhưng Hoàng Ngũ Phúc không dễ dàng chiến thắng. Những hóc biển hiểm trở đã bảo vệ cho quân khởi nghĩa. Nhiều toán quân Trịnh liều lĩnh đi sâu vào những “mật khu” đã không trở về. Không có trận đánh lớn nào, nhưng quân của Hoàng Ngũ Phúc càng ngày càng hao hụt. Tình trạng như thế kéo dài đến mùa đông năm 1743, chúa Trịnh Doanh ra lịnh rút quân về. Cuối năm 1743, vị chúa Trịnh đời thứ tám nầy đổi sang chiến thuật bao vây. Một lực lượng lớn thủy bộ trải dài xung quanh bán đảo suốt tới mùa hè năm 1744. Lương thực Đồ Sơn gần như đã cạn mà các góc biển không nơi nào đánh bắt cá được. Quân triều đình luôn chờ sẵn để tập kích những ngư thuyền liều lĩnh. Điều nầy buộc Nguyễn Hữu Cầu quyết định mở đường máu thóat thân. Một cuộc đột phá trong đêm cuối tháng 6 năm 1744 đã xảy ra. Bên tiếng sóng ầm ì nửa khuya của biển là tiếng va chạm đao kiếm ở cửa sông Lạch Tray. Một cuộc chiến đẫm máu chưa từng có trước đó. Quân khởi nghĩa cố vượt thoát, nên sự liều lĩnh ra ngoài sức tưởng tượng. Dù để lại nhiều bạn đồng đội, nhưng hầu hết họ đã chạy khỏi Đồ Sơn.

      Đây là lần thất bại thứ hai, sau lần thứ nhất khi còn dưới quyền Nguyễn Cừ năm 1740. Không giống như lần trước bị chẽ làm hai, lần nầy Nguyễn Hữu Cầu và Hoàng Công Chất chạy cùng một đường. Qua những đồng bằng sông rạch tiến về hướng tây, họ đã đi tới đầu nguồn sông Thái Bình ở xứ Kinh Bắc. Phía sau quân Trịnh không còn đuổi theo, Nguyễn Hữu Cầu đã sớm lập được thế phòng thủ. Giữa vùng trời nước mênh mông của hai đầu Quế Nam và Khê Kiều, đã có đội quân trải dài tới sông Lục Đầu. Từ đây họ mau chóng tiến chiếm phủ thành Kinh Bắc, quan trấn thủ ở đây phải rút chạy. Rất tiếc, đó là lúc quân của Hoàng Ngũ Phúc từ Đồ Sơn kịp kéo đến, và Phạm Đình Trọng từ Đông Kinh tiến qua.

      Trước áp lực mạnh hơn mình nhiều lần, Nguyễn Hữu Cầu phải bỏ Kinh Bắc chạy về Lạng Sơn. Thành Xương Giang mà Trần Nguyên Hãn thắng Kim Dận của hơn 300 năm trước đương ở trước mặt. Nơi đây chỉ còn rêu phong thời gian, nhưng địa thế có thể dung thân được. Nguyễn Hữu Cầu và Hoàng Công Chất dựa vào địa hình thiết lập đồn lũy để chống lại quân triều đình. Nhưng, lại một lần nữa không yên. Trời không chìu lòng người. Phạm Đình Trọng đã dẫn quân đến. Họ Phạm chưa hẳn đã giỏi hơn Hoàng Ngũ Phúc, nhưng đã luôn luôn thắng Nguyễn Hữu Cầu từ mọi thế. Ông Trọng cứ như là khắc tinh của ông Cầu. Hai ông đều có cùng quê Hải Dương và học cùng thầy, nhưng thế tộc sang hèn khác nhau nên ông Cầu luôn chịu thua từ nhỏ. Khi trưởng thành, điều nầy vẫn còn đeo dai dẳng họ. Một bên đỗ tiến sĩ làm quan lớn của triều đình nhà Lê, phục vụ ở phủ chúa. Bên còn lại dù tài năng nhưng không đỗ đạt trở thành lãnh tụ khởi nghĩa. Gặp nhau trong tháng giêng năm 1745, thì cũng trong tháng giêng nầy Nguyễn Hữu Cầu phải chịu thua. Liên quân của Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Đình Trọng đông hơn gấp 10 lần. Nguyễn Hữu Cầu và Hoàng Công Chất phải rút về Hạc Động. Đó là vùng đồi núi Nghiêu Phong vùng bờ biển Quảng Yên. Nghiêu Phong không vươn ra ngoài biển như Đồ Sơn, nhưng vẫn bị bao vây. Nếu năm 1744 ở Đồ Sơn mở đường máu thoát thân, thì năm 1746 ở Nghiêu Phong, Nguyễn Hữu Cầu phải chịu đầu hàng. Chúa Trịnh Doanh phong ông Cầu làm Ninh Đông tướng quân với tước Hương Nghĩa hầu. Ông được gọi về triều đình nhận tước.

      Dĩ nhiên là Nguyễn Hữu Cầu biết âm mưu nhà chúa, nhưng ông ra đi như lệnh gọi. Trên đường về kinh, ông tách qua Sơn Nam với hai bàn tay trắng. Trai tráng ở đây nghe tên ông, họ ùn ùn kéo theo. Chẳng bao lâu thì Hoàng Công Chất và quân lính ở Nghiêu Phong lần lược theo đường biển hoặc đường bộ trở về với ông. Họ thành một lực lượng lớn. Có lẽ tinh thần huynh đệ đã làm nhiều người cố tìm đến họ Nguyễn sau tới 4 lần thất bại. Phải nói dưới triều đại vua Lê Hiển Tông, quận He Nguyễn Hữu Cầu là một hiện tượng. Ông tăng thanh thế nhanh chóng ở Sơn Nam Hạ trước mũi của triều đình. (lúc này Sơn Nam đã chia làm hai: Thượng giáp với Hưng Hóa và Sơn Tây, Hạ giáp biển) Lực lượng ở vùng hạ nguồn sông Hồng nầy còn mạnh hơn ở Nghiêu Phong. Nhưng, chỉ hơn một năm thì có biến: Tháng 9 năm 1748, chúa Trịnh Doanh sai Phạm Đình Trọng bằng mọi giá tiêu diệt Nguyễn Hữu Cầu. Tuy có huông với họ Phạm, nhưng lần nầy Nguyễn Hữu Cầu không chạy lui mà đánh ngược về Đông Kinh.

      Để Hoàng Công Chất đối đầu với Phạm Đình Trọng, ông dẫn quân về kinh thành. Không phải đây là quyết định liều lĩnh, mà lúc bấy giờ thủ đô hầu như bỏ trống. Chiến trường miền tây đang nuốt hết số quân bảo vệ kinh thành. Kiện tướng Hoàng Ngũ Phúc đang kịch chiến với quận Hẻo Nguyễn Danh Phương ở Bạch Hạc và Đà Giang với quân số triều đình tới chục ngàn. Nguyễn Hữu Cầu về đến bến Bồ Đề, trận chiến lập tức xảy ra. Bên phòng thủ phải do đích thân chúa Trịnh Doanh chỉ huy. Vị chúa thứ 9 nầy không phải là một tay tồi. Ông đánh bật những toán quân liều lĩnh đang ồ ạt vượt cửa đông. Lúc nầy trời chưa sáng hẳn, nền trời nhờ nhợ một thứ bình minh của ngày cuối thu. Toán tiên phong của quận He không thuộc đường Đông Kinh, nên không dành phần chủ động. Cùng lúc ấy quân Phạm Đình Trọng ngược dòng sông Hồng đã đến nơi. Quân phòng thủ thủ đô được tăng viện, họ đã mau chóng tiêu diệt từng toán quân lạc đường trong đô thành. Quân của quận He đều bị giết hoặc chạy thoát chứ không ai chịu đầu hàng. Bên những xác chết ngang dọc khắp tường thành, không ai tìm thấy xác của Nguyễn Hữu Cầu. Chắc rằng ông đã thoát, nhưng khó để nói có thể vựt dậy một tình hình.

      Không những đánh bại được Nguyễn Hữu Cầu, quân Trịnh còn đẩy lui quân của Lê Duy Mật đang tiến dần về Sơn Nam Thượng. Nếu không sớm dẹp đạo quân nầy, họ sẽ liên kết với Lê Danh Phương ở Sơn Tây. Không thể để một điều bất lợi như thế xảy ra, nên chúa Trịnh Doanh đặc biệt để tâm tới. Tháng 9 năm 1749 lực lượng miền đông được dồn về mặt trận miền nam. Trong một năm liên tiếp, quân Trịnh tiêu diệt hầu hết những toán quân nằm vùng của Lê Duy Mật ở vùng Sơn Nam. Họ đuổi những cánh quân tiếp viện của hoàng thân họ Lê nầy về trở lại rừng Thanh Hoa như đã từng. Chỉ thế rồi thôi, chúa Trịnh Doanh không muốn có chiến tranh giữa hai quân đội nhà Lê trong khi còn một  quận Hẻo Nguyễn Danh Phương đang thao túng mặt trận miền tây.

      Lúc nầy, vị tư lịnh khởi nghĩa miền tây họ Nguyễn nầy ở đại đồn Ngọc Bội phía tây Tam Điệp. Ông có quân suốt một dọc dài khắp miền nam tây bắc. Hai người em của ông đang chiếm cứ vùng Đà Dương – Lâm Thao cũng là một lực lượng lớn. Chúa Trịnh Doanh quyết định phải nhổ cho bằng được cái gai nầy. Tháng 12 năm 1950, một vạn quân từ kinh đô ngược dòng sông Hồng tiến về Bạch Hạc. Đỗ Thế Giai, Nguyễn Nghiễm sẽ chiếm Đà Dương. Đại quân của Hoàng Ngũ Phúc có Đoàn Chú làm tán lý sẽ tràn qua Lâm Thao lấy lại thành Thanh Lãnh mà quận Hẻo đã chiếm được từ trước. Với lực lượng như thế tưởng sẽ mau mắn làm chủ được vùng ngả ba sông, nhưng không phải như thế. Từ Kỳ Úc và Ngọc Bội quân khởi nghĩa được gởi qua tới tấp. Lúc nầy quận Hẻo vẫn chưa có mặt mà hai bên quần thảo chưa dễ gì hơn nhau. Chiến cuộc kéo dài hết tuần trăng thứ nhất qua tuần trăng thứ hai mà không bên nào nhượng bộ. Máu đã thấm trên những gốc rạ khô của vụ mùa năm trước. Hai bên đã giành nhau từng tấc đất trong cái tết tân mùi năm thứ 12 của vua Lê Hiển Tông. Quân từ Đông Kinh đổ lên, quân từ Ngọc Bội đổ xuống. Hai bên tiếp tục yểm trợ làm làm chiến trường đầy máu dưới lớp mù sương tháng giêng.

      Tháng 2 năm 1751 khi biết quận Hẻo đã đổ hết cho chiến trường Đà Dương – Lâm Thao, chúa Trịnh Doanh quyết định tấn công Ngọc Bội. Ngọc Bội nằm trên triền ngọn Độc Tôn phía tây dãy Tam Điệp. Dòng sông Phó Đáy chảy qua đây nuôi sống một vùng trung du gồm hai làng Hương Canh và Kỳ Úc ở phía dưới. Để chiến thắng địa cứ nầy, chúa Trịnh Doanh chủ trương đột kích bắt chủ tướng họ Nguyễn. Nó đòi hỏi phải có những tay kiếm gan dạ và thành thạo cận chiến. Người được chọn là tướng Nguyễn Phan với đoàn ưu binh Tam Phủ. Một trăm người đã tới địa điểm. Mặt trời đang dợm lên trong sương mù dày đặc miền trung du. Đoàn ưu binh từng đoạn tiến tới. Họ phải chiếm đồn Ngọc Bội cùng lúc chúa Trịnh Doanh thân hành tấn công Kỳ Úc, và tướng Bùi Thế Đạt tấn công Hương Canh ở phía dưới. Với những ánh mắt được luyện tập với màn đêm, họ tìm ra đường đi mà không hề làm lay động rừng cây còn mờ mịt. Có những mỏm đá nhọn hoắc hoặc những hố sâu, nhưng không ai lầm lẫn. Họ tiến gần đến mục tiêu với những bước chân của loài sóc. Họ nghe được tiếng nói của địch quân. Toán lính canh phòng vẫn tự nhiên đốt lửa và phát ngôn dung tục đời thường. Qua đó, chủ tướng Nguyễn Duy Phương không nhứt thiết ở một chỗ. Sẽ là thế nào khi Nguyễn Duy Phương không có ở đây hôm nay?

      Tướng Nguyễn Phan chưa kịp suy nghĩ tiếp, thì đã có những tiếng hô hoán của địch quân. Một ưu binh nào đó bị phát giác. Cuộc chiến tức thì dấy lên, đoàn ưu binh Tam Phủ phải đối mặt với hàng mấy trăm quân của Ngọc Bội khắp cả trên đồi dưới trũng. Đây là điều đã lường trước, nhưng cũng thật bất ngờ.  Đôi bên trở thành cận chiến mà quân ưu binh đã nhanh chóng chiếm ưu thế. Tất cả họ đều là kiếm sĩ. Nguyễn Danh Phương đang đấu kiếm với Nguyễn Phan trên một lưng đồi, mà rõ ràng không phải là đối thủ. Ông Phương vốn là nhà nho. Ông là người nặng lòng với đất nước, và trở thành một võ tướng. Ông chưa bao giờ là một võ sĩ. Trong lúc xử dụng đao kiếm cận chiến, ông chỉ là tay mơ. Biết được yếu điểm của chủ tướng, những hộ vệ thân tín đã liều mạng cứu ông. Nguyễn Duy Phương thoát được, nhưng hàng trăm người bị chết. Ông ra lịnh bỏ đồn Ngọc Bội, rút về sườn tây Tam Đảo.

      Khi trời hừng sáng, quân khởi nghĩa đưa được Nguyễn Duy Phương về làng Tĩnh Luyện huyện Lập Thạch bên dòng sông Phó Đáy. Tại đây ông không giữ được điều may mắn nữa. ông bị bắt khi Kỳ Úc và Hương Canh đang có những cố gắng cuối cùng. Hai đồn nầy đang chiến đấu trong tuyệt vọng, khi bình minh đang rạng rỡ trên đồi tây bắc. Bắt được Nguyễn Duy Phương và phá tan sào huyệt Ngọc Bội, cũng là lúc chiến trường Đà Dương – Lâm Thao bắt đầu hẹp lại. Hoàng Ngũ Phúc chiếm được Thanh Lãnh, và vị tướng trấn thủ Hoàng Phùng Cơ đầu hàng. Đoàn Chú ở lại tiếp quản thành Thanh Lãnh, khi đại quân Hoàng Ngũ Phúc tiến về Đà Dương. Trận chiến ở đây cũng mau chóng kết thúc. Nguyễn Văn Quảng, em Nguyễn Duy Phương, đã đại bại dưới tay Nguyễn Văn Giai và Nguyễn Nghiễm. Ông nầy phải dẫn tàn quân về thượng lưu sông Đà.

      Chiến trường tây bắc kết thúc giữa mùa xuân năm 1751, đó cũng là lúc Phạm Đình Trọng khuất phục được Nguyễn Hữu Cầu ở Nghệ An. Ra rằng, thua trận Bồ Đề tháng 9 năm 1748 quân của Nguyễn Hữu Cầu tan tác khắp nơi. Ông Cầu chạy vào Thanh Hoa khi nghe tin Hoàng Công Chất đã đến nơi nầy. Rất tiếc, hai đệ huynh họ Hoàng và họ Nguyễn vẫn lạc nhau ở đây. Không rõ Hoàng Công Chất về đâu, nhưng Nguyễn Hữu Cầu bị cô thế, ông dẫn số quân còn lại chạy về Nghệ An. Đất nầy cũng không phải là nơi dung thân cho kẻ chống lại dù Lê hay Trịnh. Trong lúc ấy người bạn cũ Phạm Đình Trọng vẫn tiếp tục dò la và đuổi theo. Họ đã đối mặt ở làng Hoàng Mai thuộc phủ Quỳnh Lưu. Ông Trọng đã dụ hàng, hứa sẽ xin chúa Trịnh Doanh cho ông Cầu giữ chức Ninh Đông tướng quân như cũ, nhưng ông Cầu từ chối. Những ngày chiến đấu cuối cùng cũng không đem lại kết quả, Nguyễn Hữu Cầu và những huynh đệ đều bị bắt. Khi giải ông về Đông Kinh, thì quận Hẻo Nguyễn Danh Phương đã là tù nhân ở đó. Cả hai đều bị xử chết, đó là một ngày cuối tháng 3 năm 1751.

      Dẹp được Nguyễn Hữu Cầu và Nguyễn Danh Phương, quả chúa Trịnh Doanh là người có tài. Nếu người anh Trịnh Giang đã làm nên chiến tranh, thì người em Trịnh Doanh đã lần hồi khép lại. Hết mùa xuân ất hợi 1751 nầy, hầu như toàn xứ bắc hà đã yên. Hiện tại chỉ còn lực lượng suy yếu của hoàng thân Lê Duy Mật dời tuốt lên tận Trấn Ninh, và Hoàng Công Chất đang bị truy nã ở vùng Thanh Hoa và Hưng Hóa.

Chúa Phúc Thụ không còn tại thế
Ở Đàng Trong chúa Khóat lên ngôi
Ngoài kia đất bắc nhiều biến động
Khởi nghĩa ai ơi đã dậy rồi

Lê Duy Mật hoàng thân khởi chiến
Nguyện vì Lê mà diệt Trịnh Giang
Bao người huynh đệ bao trung liệt
Bao kẻ hy sinh ở giữa đàng

Năm mậu ngọ mùa đông Vĩnh Hựu (1738)
Lửa kinh thành nhen nhúm trao tay
Hưng Lê diệt Trịnh không thành tựu
Chính biến đi qua cuộc đất này

Bờ Nghi Dương một chiều sóng nhỏ
Thuyền ai đi ai đến ai không
Trung trinh mấy kẻ hà danh kiệt
Lắm những vô danh hiến máu hồng

Trăm kẻ chết trăm người còn sống
Đất Thạch Thành, Duy Mật chiêu quân
Sơn Tây cũng có người khởi nghĩa
Đồ Tế, Duy Phương sóng dậy bừng

Dòng hậu Mạc Hải Dương khởi tập
Sản sinh ra nào những anh tài
Hữu Cầu kiệt hiệt người họ Nguyễn
Họ Hoàng Công Chất những tài trai

Đất như thế, người là như thế
Liệu Trịnh Giang chống đỡ phương nào
Giao cho em ruột quyền thống chế
Tự mình hư hỏng tiếc là bao

Chức thái úy quyền quân thủy lục
Chàng Trịnh Doanh chỉ chớm đôi mươi
Trở thành chúa Trịnh thay anh cả
Người mẹ trông xa há mấy người

Thời Trịnh Doanh gánh dòng hệ lụy
Từ Trịnh Giang nhiêu nhưỡng trăm điều
Chúa cho dựng lại vua dòng chính
Phế Ý Tông mà lập Duy Diêu

Lê Duy Diêu tuổi đà khôn lớn
Tức Hiển Tông con trưởng Thuần Tông
Lê triều buổi ấy như không có
Lục bộ như hồ có cũng không

Vua là thế chúa thời rộn rã
Đánh Đồ Sơn, Hưng Hóa, Thanh Hoa
Ở đâu là giặc đâu khởi nghĩa
Mà có trong nhau mỗi mỗi nhà

Đâu những xứ châu Hồng châu Khoái
Đâu Sơn Nam đâu những Ngân Già
Chiến trường máu đổ trôi về biển
Nguyễn Cầu, Hoàng Chất suốt can qua

Đâu những xứ Sơn Tây, Vĩnh Phúc
Đâu những ai Ngũ Phúc, Danh Phương
Đường về Bạch Hạc về Hưng Hóa
Người những đôi bên họa sa trường

Đâu những xứ Lương Sơn, Đà Bắc
Đâu những quân từ trấn Thiên Quan
Một mùa chinh bắc Lê Duy Mật
Đường đến Sơn Tây máu lệ tràn

Đâu những cửa Giai Môn, Các Bạc
Đâu Đồ Sơn, Văn Úc biên đông
Đâu miền Kinh Bắc Khê Kiều cũ
Lại những Xương Giang những máu hồng

Trận chiến tiếp hai đầu thù địch
Phe Hữu Cầu, Công Chất phù Lê
Bên kia Đình Trọng cùng Ngũ Phúc
Cũng một vì Lê chết tứ bề

Thế như thế dư mười năm lẻ
Nguyễn Hữu Cầu thua trận Nghiêu Phong
Buộc hàng được gọi Ninh Đông tướng
Một sớm Sơn Nam chẳng thẹn lòng

Quân một độ kinh thành một độ
Lính quận He vượt mấy đường dài
Chiến trường đẫm máu bờ sông Nhị
Gươm loáng bên thềm đẫm sương mai

Dài thế cuộc quận He thất thế
Vận anh hùng hiu hắt Quỳnh Lưu
Một đời hệ lụy yêu gai mật
Hà tất ân mang giấc khinh cừu

Riêng Công Chất họ Hoàng lưu lạc
Còn Thanh Hoa hay ở nơi đâu
Còn ngày chinh chiến hay chết giấp
Còn tiếc chi không cuộc dãi dầu?

Nguyễn Danh Phương về đâu buổi ấy
Đồn Hương Canh, Ngọc Bội không còn
Bên làng Tĩnh Luyện sông Phó Đáy
Bỏ lại bên lòng chuyện nước non

Lê Duy Mật bại mùa chinh bắc
Đất Thạch Thành không thể trường chinh
Thu quân mà đến biên Lào xứ
Cuộc đất Trấn Ninh đợi tình hình


<<  |  >>