Skip to content

Chương 21/11

LÊ TRUNG HƯNG
(1592 – 1789)

Đoạn mười một

ĐÀNG TRONG:
 LẬP CHÂU ĐỊNH VIỄN GIỮA TRẤN HÀ TIÊN VÀ PHỦ GIA ĐỊNH

      Từ khi quân của đô đốc Trần Thượng Xuyên rút khỏi Oudong năm 1715, thì Đàng Trong và Chân Lạp trở lại hiếu hòa. Chúa Nguyễn Phúc Chu không dùng sức mạnh để lấn chiếm đất, và vua Nặc Ông Yêm không có lòng manh động như một vài vị tiền nhiệm. Họ để yên cho một ranh giới không rõ ràng trong miền được gọi là Thủy Chân Lạp. Nó chỉ tạm chia thành ba vùng xen kẽ nhau: Thứ nhất: phủ Gia Định gồm hai huyện Phước Long và Tân Bình được Nguyễn Hữu Cảnh thành lập năm 1698. Thứ hai: Hà Tiên do Mạc Cửu xin sát nhập năm 1708. Thứ ba: Phần còn lại nằm giữa hai vùng lãnh thổ nầy. Nó là một dải đất dài chạy dọc theo hai dòng Tiền và Hậu giang. Đó là những địa danh Tầm Phong Long (Châu Đốc), Tầm Bông (Long Xuyên), Xôi Lạp (Cần Thơ), Long Hồ (Vĩnh Long), Trà Vang (Trà Vinh), Ba Thắc (cuối nguồn sông Hậu), và những vùng không có tên hoặc còn mang tên Phù Nam của một thời xa lắc. Vùng nầy nằm giữa hai vùng đất của Đàng Trong, nên những ảnh hưởng của Chân Lạp từ ấy bị mờ dần. Chúa Nguyễn Phúc Chu tiếp tục khuyến khích việc di dân. Đất khai phá tiếp tục lan rộng, nhưng đất vô chủ vẫn còn mênh mông. Những chuyến tàu từ Thuận Hóa – Quảng Nam tiếp tục ra khơi vào đầu hai thập niên của thế kỷ 18. Tất cả họ là đoàn tiên phong thứ năm sau 4 đợt chính: 1620, 1623, 1658, và 1698.

      Song song với việc mở rộng phương nam, chúa Nguyễn Phúc Chu cũng phải lo toan đến những vùng đất cũ hơn. Năm 1709 dẹp âm mưu khởi loạn từ trấn Thuận Thành đến dinh Quảng Nam của Tống Phước Thiệu, Nguyễn Cửu Khâm, Nguyễn Phúc Thận. Đây là cuộc nổi loạn có tổ chức của một nhóm người trong dòng họ khanh tướng Tống Phước và Nguyễn Cửu. Họ đã liên kết với một số hoàng thân Nguyễn Phúc trở thành một sức mạnh lan rộng. Sẽ trở nên tệ hại khi các cựu thần nầy thành công, nhưng nhà Nguyễn đã gặp vận may. Nguyễn Phúc Thận, một người trong nhóm chủ trương, đã cáo giác việc nầy khi mục đích ban đầu không còn được giữ. Nhờ đó loạn “khanh tướng”bị dẹp, nhưng chúa Nguyễn Phúc Chu không truy bắt tận tuyệt. Đó một khôn ngoan của nhà chúa, và nó mang bình an đến nhiều năm sau.

      Tình trạng nội bộ tưởng như gây ra chiến tranh ấy không còn nữa, triều đình lo đối phó bên ngoài. Đầu năm 1714 dẹp cuộc nổi loạn của người Chiêm Thành ở Cam Lộ. Phò mã Nguyễn Cửu Thế mang quân từ Ái Tử đánh nhau với người Chàm ở đây. Cuộc chiến kéo dài đến cuối tháng giêng, khi lãnh tụ Trà Xùy bị bắt ở làng Cùa thì mới được yên. Đến năm 1722 thì có một cuộc ra quân khác. Đi dẹp giặc cướp. Vốn con đường nam bắc từ Bố Chính về Bác Vọng lúc bấy giờ phải qua một đoạn đường rừng ở Minh Linh. Nó chỉ dài chừng năm ba dặm đường, nhưng là nơi tai họa cho thương buôn, và cả những bộ hành. Người ta quen gọi đoạn đường nầy là truông Nhà Hồ, và không ai biết chính xác tại sao được gọi như thế. Có thể đây là tên gọi dân gian cho một trạm truyền thư từ thời vua Hồ Hán Thương khởi lập từ năm 1402. Qua bao triều đại, “truông Nhà Hồ” trở thành “chết tên” cho một nơi cướp giật nổi tiếng. Bọn cướp từ dưới biển đi lên, từ trên rừng đi xuống, chận đường cướp của rồi mất dạng. Chúng thoạt ẩn thoạt hiện suốt nhiều thập niên, mà các quan sở tại không làm gì được. Đến tháng 8 năm 1722, chúa Nguyễn Phúc Chu mới sai quan nội tán Nguyễn Khoa Đăng đi dẹp. Là một quan án sát nhưng có tài binh bị, Nguyễn Khoa Đăng đã diệt hết sào huyệt của bọn cướp nầy. Từ ấy, đất nước hầu như đã yên, nhưng phần đất Chân Lạp vẫn ngầm chứa một điều bất ổn. Chúa Nguyễn Phúc Chu chưa kịp lo toan những điều cần làm, thì ông lại qua đời. Ông chết vào năm 1725 khi vừa 50 tuổi. Đất nước Đại Việt Đàng Trong được trao cho người con trai trưởng Nguyễn Phúc Thụ, lúc nầy vừa 28 tuổi.

      Chúa Nguyễn Phúc Thụ lên ngôi chúa, thường được gọi là chúa Ninh. Ông tiếp nối con đường của cha trong tinh thần hòa bình, nhưng chiến tranh đã xảy đến. Nó bắt nguồn từ một người Chân Lạp gốc Ai Lao tên Sạ Tốt. Ông nầy là hậu duệ của một quan tướng Lào di cư xuống Chân Lạp sau thời chiến tranh  Đại Việt – Lan Xang dưới thời vua Lê Thánh Tông. Sạ Tốt đã trở thành quan trấn nhiệm vùng bình nguyên Krong Say Rieng (Xoài Riêng) của triều đình Chân Lạp. Vị quan nầy từ lâu  rất trung thành với vua Nặc Ông Yêm, và muốn đuổi người Việt ra khỏi vùng đất Gia Định.  Tháng 4 năm 1731 từ Say Rieng, ông ta ồ ạt tiến quân theo hướng đông bắc với mục tiêu phải đến là Sài Gòn. Khi cuộc chinh đông của tướng Sạ Tốt xảy ra thì vua Nặc Ông Yêm đã cao tuổi, ông truyền ngôi cho con là Nặc Ông Tha. Vị tân vương trẻ tuổi bị Sạ Tốt khêu gợi lòng căm thù trước đó, nên tăng viện quân lính cho viên tướng gốc Lào nầy. Nó nâng quân số lên đến cả vạn người. Họ vượt qua sình lầy, rừng rậm và sông ngòi. Một tuần trăng trôi qua, họ đã tới rừng Bàu Trai, Cái Cay, An Thượng (Đức Hòa), nơi đã có lác đác dân cư người Việt. Ở đây có những sóc nhà như những tổ chim. Chúng bị đốt sạch. Hoa màu và cây trái trên đường đi qua cũng không còn một thứ gì. Sạ Tốt tiến quân với lòng thù hận, và ông ta đang có mặt ở địa giới của huyện Tân Bình.

      Đơn vị phòng trú đầu tiên ở bên sông Lật Giang bị tấn công. (đó là một đoạn sông của Vàm Cỏ Đông). Cai cơ Thành trấn thủ ở đây tử thương.  Quân Việt bỏ chạy, và quân Chân Lạp rầm rộ tiến quân về hướng lỵ sở Phiên Trấn (Sài Gòn – Bến Nghé). Sạ Tốt đã khôn khéo kéo những thổ dân Stieng và dân Chân Lạp trên đường đi qua. Rất đông. Người ta đi với lòng căm thù được thổi phồng. Họ đã tiến tới Phù Viên chỉ cách Sài Gòn mươi dặm đường. Đây là cửa ngõ tây bắc vào lỵ sở Phiên Trấn. Dĩ nhiên trấn thủ Phiên Trấn lúc bấy giờ là Trần Đại Định bằng mọi giá phải dẹp yên. Gia phụ Trần Thượng Xuyên đã chết, ông Định được chúa Nguyễn Phúc Thụ cất nhắc lên tước hầu và cho giữ Phiên Trấn. Ông một lòng trung thành với chúa Nguyễn, nhưng lẫn trong quân Chân Lạp có cả dân chúng, nên ông đã ngần ngại trong việc điều quân. Mãi đến khi Sạ Tốt đưa quân sát tới những yếu điểm bên những làng trồng trầu, ông Định mới thực sự điều đại quân đến.

      Một cánh quân từ Trấn Biên đi qua, và đích thân Trần Đại Định chỉ huy đại quân từ Phiên Trấn đi tới. Cuộc chiến ở Phù Viên đẫm máu trên những vườn trầu xanh ngắt. Hai bên đều cố giành lấy thế thắng. Nếu Sạ Tốt làm chủ được Phù Viên, thì chiếm lấy Sài Gòn sẽ là bước kế tiếp. Do vậy không bên nào chịu nhường nhau một đường gươm. Họ đánh nhau trên khô, dưới nước, ngoài ruộng, trong vườn. Lớp lớp bị tàn phá đến tiêu điều. Không nhà nào không bị cháy, không còn dây trầu nào còn xanh. Bấy giờ ngoài lúa là nguồn lợi chính, trầu cũng là một thu nhập không kém vì người người đều “ăn” trầu. Người ta dùng trong lễ lạc, trong chuyện vãn, và trong khi… chỉ một mình. Trầu Phù Viên đã đem bán từ gần đến xa mà do người Việt làm chủ. Người chết vô số, và mức độ chém giết không hề giảm. Chiến trường mở rộng từ tả ngạn sông Lật Giang đến hữu ngạn sông Sài Gòn, mà những vùng dân cư mới lập ở đó ngút ngàn khói lửa. Tình hình như thế kéo dài đến gần một tháng sau, khi quân tiếp viện từ Bác Vọng  mới đến kịp.

      Chúa Nguyễn Phúc Thụ cử Trương Phước Vĩnh làm thống suất chiến trường. Ngoài quân Thuận Hóa và quân Gia Định của Trần Đại Định, thống suất họ Trương còn có quân Bình Khang của Nguyễn Cửu Triêm tăng viện. Quân số đã đông, mà có cả súng trường trang bị cho một phần quân đội. Đây là lực lượng vô cùng hùng hậu. Dĩ nhiên là quân Chân Lạp chỉ với đao kiếm đã phải chịu thua. Cầm cự chỉ được vài ngày, Sa Tốt phải rút quân về Cù Ao ở phía bờ nam sông Cái Cậy, thượng nguồn của Lật Giang. Không may cho đạo quân nầy, cai cơ Nguyễn Cửu Triêm được lịnh mang quân Bình Khang án ngữ tại đây. Cuộc đụng độ nầy khiến quân Chân Lạp thêm một lần tan tác. Họ rút chạy về Svay Rieng trở lại. Quân nhà Nguyễn đuổi theo bén gót.

      Tháng 5 năm 1731, Sạ Tốt đưa hết quân đội chinh đông còn lại về miền núi Sơn Bộ, kéo theo lính địa phương cũng bỏ chạy. Svay Rieng bị bỏ ngỏ, quân đội Đàng Trong làm chủ toàn vùng nầy, và nhanh chóng lan rộng khắp vùng đông nam Nam Vang. Họ tiến gần sát tới sông Mê Kong, làm triều đình Oudong của vua Nặc Ông Tha phải ra mặt đấu dịu. Theo đó quân chúa Nguyễn được quyền đồn trú tạm thời trên lãnh thổ Svay Rieng để cùng quân Chân Lạp truy quét loạn quân Sạ Tốt. Thống suất Trương Phước Vĩnh cử thống binh Trần Đại Định ở lại vùng đất mới. Dĩ nhiên đây là điều chấp nhận bất đắc dĩ của vua Nặc Ông Tha, và ông ta tìm cách đuổi quân chúa Nguyễn ra khỏi lãnh thổ. Thay vì hợp tác để truy sát Sạ Tốt như đã hứa, vua Nặc Ông Tha cho quân đội tấn công căn cứ Lô Việt của tướng Trần Đại Định. Đó là nguyên nhân trực tiếp gây ra cuộc chiến trở lại vào tháng giêng năm 1732 trên đất Chân Lạp. Lần tái chiến nầy đã làm cho quân của vua Nặc Ông Tha tê liệt dưới sự tấn công vũ bão của liên quân Bác Vọng, Bình Khang và Gia Định. Quân nhà Nguyễn đặt cơ sở định cư tại Svay Rieng. Điều nầy đã đưa hai bên Chân – Việt đến thỏa ước mùa xuân năm 1732. Sau những cân nhắc, vua Nặc Ông Tha đổi vùng Long Hồ để lấy lại Svay Rieng.

      Long Hồ lúc bấy giờ là một vùng chưa thực sự xác định rõ ràng. Nó là một vùng đất hạ nguồn giữa sông Tiền và sông Hậu. Bờ bắc không xa với Gia Định, bờ nam cũng gần với Hà Tiên, cả hai bên đã là của nhà Nguyễn. Phía tây bắc là cả một vùng ngập nước, và phía đông là sình lầy kênh rạch ra tới biển. Hơn nữa Long Hồ cũng chưa có một cơ cấu hành chánh rõ ràng của Chân Lạp, nên vua Nặc Ông Tha bằng lòng giao cho chúa Nguyễn Phúc Thụ. Đổi lại, nhà Nguyễn phải rút hết quân đội ra khỏi Krong Svay Rieng. Tháng 3 năm 1732, chúa Nguyễn Phúc Thụ nhập Mỹ Tho vào vùng đất mới Long Hồ, và đặt là châu Định Viễn trực thuộc phủ Gia Định. Dù Mỹ Tho lúc nầy đã phát triển, nhưng một vùng tập trung thuyền bè khác được chọn làm lỵ sở. Đó là Cái Bè. Địa danh có tên gọi dân dã nầy là lỵ sở đầu tiên của châu Định Viễn, và vị quan thứ nhất trông coi là cai cơ Tống Phước Hiệp.

      Tất cả 3 vùng Phước Long, Tân Bình, Định Viễn đã tạo cho Gia Định một khuôn mặt mới. Rộng hơn và nhiều thị tứ hơn: Bà Rịa, Đông Phố, Sài Gòn – Bến Nghé, Mỹ Tho, Cái Bè và Long Hồ (thị trấn Vĩnh Long). Do vậy đầu tháng 4 năm 1732 nầy, chúa Nguyễn Phúc Thụ lập ra một cơ quan điều hành chính thức cho phủ Gia Định. Đó là dinh Điều Khiển*. Dinh nầy được xây ở giữa Bến Nghé và Sài Gòn, và người đầu tiên làm tổng quản là Trương Phước Vĩnh. Nhưng không bao lâu, ông Vĩnh có những hiềm khích với Trần Đại Định sinh ra cái chết oan ức của vị tướng họ Trần nên bị bãi chức. Cuối tháng 6 năm 1732 Nguyễn Hữu Doãn từ Bác Vọng vào thay. Đây là thời sơ phôi của Gia Định thành của các vua Nguyễn về sau.

      Nếu châu Định Viễn phải trải qua những ngày tháng đổ máu mới đổi lấy được, thì có 3 nơi khác bình yên nới rộng một cách an toàn. Thứ nhất: Miền tây của huyện Tân Bình. Đó là vùng rừng rậm ở hướng thượng nguồn sông Lật Giang mà người bản địa Xtieng, Tà Mun sống rải rác. Họ đã gặp những người Chân Lạp và người Chiêm Thành trước đó, và sau chiến tranh Sạ Tốt họ đón nhận những di dân Việt. Với những khai quang thành ruộng rẫy, người Việt đặt tên vùng nầy là Quang Hóa, và dòng sông cũng mang tên ấy. Trong thập niên 30 (1730), hai bên bờ sông Quang Hóa đã được dần dần mở rộng thành miền tây của huyện Tân Bình. Đó là Tây Ninh ngày nay. Thứ hai: Miền bắc của huyện Phước Long. Huyện nầy đã có hai vùng cơ bản là Bà Rịa và Biên Hòa. Lưu dân tại hai nơi nầy đã tiến về phía bắc của sông Đồng Nai trên những khu rừng đất đỏ. Họ đã gặp người bản địa Chơ Ro, người Chàm, người Chân, và hòa thuận trong tinh thần cùng khai phá. Đó là vùng Long Khánh, Phước Tuy ngày nay. Thứ ba: Duyên hải Hà Tiên. Mạc Cửu từ từ đưa dân sâu vào vùng đất liền. Công việc nầy vẫn tiếp tục dù rằng năm 1735 Mạc Cửu qua đời ở tuổi 80. Ý nguyện trung thành với chúa Nguyễn vẫn duy trì ở người con là Mạc Thiên Tích. Ông được chúa Nguyễn Phúc Thụ phong hàm tổng binh đại đô đốc như cha. Sau năm 1735 Mạc Thiên Tích tiếp tục làm cho Rạch Giá, Cà Mau nới rộng diện tích vào sâu trong đất liền. Từ năm 1736 đến năm 1739 ông đã thành lập được 4 khu vực khai phá gần sát đến bờ hữu ngạn sông Hậu. Đó là Kiên Giang, Long Xuyên, Trấn Giang và Trấn Di và được gọi là 4 đạo. Đây là thành công rất lớn của vị tổng binh họ Mạc đã dành cho chúa Nguyễn Phúc Thụ. Rất tiếc vị chúa Nguyễn thứ 7 nầy không thấy trọn vẹn sự thành công nầy. Ông qua đời vào tháng 4 năm 1738, khi vùng lãnh thổ hứa hẹn còn dỡ dang. Đất đai nầy thuộc về vị chúa kế nhiệm: Chúa Nguyễn Phúc Khoát.

 

Đất bắc loạn khắp nơi từ ấy
Mà Đàng Trong đâu khỏi truân chuyên
Dù rằng cuộc đất vùng Gia Định
Cùng với Hà Tiên đã chủ quyền

Vùng trái độn đôi bờ Tiền Hậu
Nào Tầm Bông, Xôi Lạp, Trà Vang
Nào là Ba Thắc nào Châu Đốc
Chân Việt hai bên khó rõ ràng

Tình thế ấy Việt Chân vẫn thuận
Vua Ông Yêm vẫn nối bang giao
Phúc Chu chúa Nguyễn lo nội biến
Từ những thần gia tự thuở nào

Tống Phước Thiệu, Cửu Khâm, Phúc Thận
Từ Phú Yên, xứ Quảng, Thuận Thành
Trăm năm dư có tầng son sắt
Sao đến bây giờ hận công khanh?

Đất Cam Lộ cũng hờn chúa Nguyễn
Người muôn xưa còn lại đâu đây
Vĩnh Linh giặc mới lên cướp phá
Nội tán Khoa Đăng dẹp giặc nầy

Nội biến hết nhưng dường chưa định
Đất phương nam còn những gập ghềnh
Phúc Chu chúa Nguyễn thình lình mất
Ấn vàng quốc trấn cũng buồn tênh

Người con trưởng lên ngôi: Phúc Thụ
Theo lối xưa hòa hoãn biên cương
Không ngờ Sạ Tốt, Ông Tha ấy
Hờn đốt lên thêm dậy chiến trường

Từ Xoài Riêng quân Chân đông tiến
Địa danh nào Sạ Tốt đi qua
Một miền rừng thấp còn hoang hóa
Lửa cháy tiêu tan mỗi mỗi nhà

Nào những xứ Cái Cay, sông Lật
Đồn Lật Giang quân Việt tan hàng
Cai cơ trấn thủ hy sinh sớm
Tân Bình còn lại tiếng kêu than

Chiến cuộc đến bên bờ kênh xáng
Trời Phù Viên xanh mướt vườn trầu
Đại quân Đại Định không chiến thắng
Nỗi lòng ai hiểu được nông sâu

Trải ngày tháng nhà trong cửa trước
Chút cơ ngơi dân Việt tro tàn
Dầu cho giữ được biên Phiên Trấn
Tân Bình nối tiếp những thương tang

Đợi đến lúc đoàn quân Bác Vọng
Cùng Bình Khang nam tiến liên quân
Thời cơ đưa đẩy duyên thành cớ
Chiến cuộc về đâu mới được dừng

Bỏ Cù Ao, Bàu Trai, An Thượng
Quân Chân về Lô Việt, Nam Vang
Một chiều rút hết lên Sơn Bộ
Bỏ ngỏ miền đông phải đầu hàng

Vua Chân Lạp điều đình thế bại
Đổi Long Hồ để Việt lui binh
Giá mà Sạ Tốt không đông tiến
Ai biết về đâu mối giao tình?

Từ dạo ấy bên bờ Cai Lậy
Dinh Cái Bè cai quản những đâu
Sông xanh chín nhánh trôi về biển
Có nối Hà Tiên một nhịp cầu?

Đất vẫn cách Hà Tiên mấy đỗi
Nhưng Long Hồ đã nối Mỹ Tho
Tân Bình kề cập châu Định Viễn
Non nước thênh thang trắng biển cò

Phủ Gia Định so ra đã lớn
Dinh chỉ huy nằm giữa Sài Gòn
Điều Khiển phương nam đang rộng mở
Mà chúa ơ hờ bỏ nước non

________________________

  *Dinh Điều Khiển: Là một tòa nhà lớn đặt cơ quan điều hành cao nhất của phủ Gia Định lúc bấy giờ. Theo hai học giả Trương Vĩnh Ký và Nguyễn Đình Đầu thì dinh nầy nằm giữa Sài Gòn và Bến Nghé gần chợ Thái Bình [góc Phạm Ngũ Lão và Cống Quỳnh]. Cũng nên để ý dưới thời các chúa Nguyễn thì Sài Gòn tương đương với trung tâm Chợ Lớn, và Bến Nghé tương đương với trung tâm Sài Gòn ngày nay.


<<  |  >>