Skip to content

Chương 21/1

LÊ TRUNG HƯNG
(1592-1789)

Đoạn một

NHÀ LÊ VÀ MẠC HẬU KỲ VỚI NHỮNG BƯỚC CHÂN HỌ TRỊNH

 

        Không biết tướng bắc triều Nguyễn Ngọc Liễn sẽ ra sao trong những ngày ở Tam Đảo, nhưng tướng nam triều Trịnh Tùng đã đưa quân nhà Lê về cố đô Đông Kinh. Tràn tràn những đạo quân áo vải màu rừng. Không có ai trong họ từng là lính của một thời Lam Sơn xưa cũ, nhưng người người đều rạt rào một cảm xúc trở về. Đó là sáng sớm ngày 16 tháng 11 năm 1592. Đông Kinh nhiều nơi còn mờ sương và lạnh buốt. Qua những phút im ắng nghi ngại người ta tung hô đoàn quân mới. Dân chúng đón mừng họ. Khi mặt trời chưa lên khỏi ngọn cây thì người ta biết được hoàng thành đã trống không, vua Mạc Mậu Hợp đã chạy về Kim Thành, Hải Dương từ đêm hôm trước. Tiết chế Trịnh Tùng ra lịnh vỗ an dân chúng và tất cả hàng binh. Không những bên bờ nam Nhị Hà, mà bên kia sông các đơn vị nhà Mạc còn lại đều qui hàng. Quân đội địa phương Từ Sơn, Tam Đái, Thượng Hồng lên tới cả số hàng chục ngàn. Họ đều được sung vào quân đội nhà Lê. Không có máu đổ ra, chỉ có những buồn vui dâu bể. Người ta kể cho nhau nghe về Thăng Long cổ xưa, về Đông Kinh của 165 năm trước, về Hội Thề Đông Quan, về Bình Định vương Lê Lợi, về Nguyễn Trãi lúc lấy lại đất nước từ tay nhà Minh. Người ta cũng kể về câu chuyện của 65 năm gần đây khi vua Lê Cung Hoàng bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi. Biết bao nhiêu thăng trầm ly tán. Thủ đô còn đây, nhưng triệu triệu người đã ra đi. Một nỗi buồn mang mang trong niềm vui hòa bình trở lại.

      Sau khi an định thủ đô, một cuộc hành quân về Kim Thành, Hải Dương được thực hiện. Ngày 25 tháng 11 năm nhâm thìn 1592, tiết chế Trịnh Tùng thân hành đi truy quét quân trung thành nhà Mạc còn sót lại. Họ đang cố thủ nơi phát tích nầy như những chiến binh tử vì đạo, chứ thực lực ở đây không còn bao nhiêu. Trịnh Tùng đặt bộ chỉ huy tại Liễu Kinh và sai Nguyễn Thất Lý và Bùi Văn Khuê chỉ huy hai mặt tiến chiếm Kim Thành. Chỉ trong một ngày quân nhà Lê đã phá hết những ổ kháng cự của quân nhà Mạc còn sót lại. Không một ai trong bọn họ chịu đầu hàng. Khi lục tung những hầm hố phía trong, mới biết được vua Mạc Mậu Hợp và người con là Mạc Toàn đã không còn ở đây. Trước họ, các hoàng thân Mạc Kính Chỉ, Mạc Kính Cung cũng ra đi tự lúc nào, duy nhất người còn ở lại là hoàng thái hậu cuối cùng của nhà Mạc. Bà là mẹ vua Mạc Mậu Hợp được các tì nữ đưa đến gặp Trịnh Tùng, với lời cầu xin không truy sát con cháu của bà. Bà bị đưa về Đông Kinh với lời hứa nửa vời của họ Trịnh, nhưng chỉ đi nửa đường thì bà vì quá sợ hãi mà chết. Bà không hề biết rằng con cháu nhà họ Mạc của bà còn tiếp tục kéo dài chiến đấu đến gần trăm năm sau đó.

      Phá được Kim Thành người ta tưởng dễ có hòa bình, nhưng không phải như thế. Chiến tranh vẫn tiếp diễn. Nó không đến với vua Mạc Mậu Hợp mà ở một nhánh khác. Từ lúc ở Đông Kinh ra đi, nhà vua lưu vong nầy đã thất lạc ngay đứa con đầu chỉ độ trên 12 tuổi. Ông lập đứa con thứ là Mạc Toàn lên làm vua lấy niên hiệu là Vũ An, bản thân nhà vua tự làm tướng chiến đấu chống nhà Lê. Đi theo ông có lễ bộ thượng thư Nhữ Tông, lại bộ thượng thư Đỗ Uông, đông các đại học sĩ Ngô Cung, Sơn Nam thừa chính Đàm Văn Tiết với quân số lên tới cả ngàn người. Họ tập trung ở vùng đông Kinh Bắc. Rất tiếc sự cố gắng nầy không có kết quả. Với sức truy diệt gắt gao của Trịnh Tùng, lần lược các thuộc tướng văn võ và quân lính còn lại đều ra hàng. Mạc Toàn được một thuộc hạ thân tín cố đưa về Chí Linh với người ông chú là Mạc Kính Chỉ cũng đang chiến đấu ở đây. Không may, họ bị giết ở dọc đường khi gặp cánh quân họ Trịnh truy sát. Vào những ngày cuối đông năm 1592, Mạc Mậu Hợp trở thành một ông vua không lãnh thổ, không triều đình, không binh tướng, không người thân. Ông lang thang vào một ngôi chùa ở làng Phượng Nhỡn, Kinh Bắc xin tá túc. Người ta nói chùa có tên Mô Khuê, nhưng không biết chính xác nằm ở đâu, chỉ biết đó là là nơi ông có những ngày tự do cuối cùng. Vị vua thứ 5 của nhà Mạc bị bắt ở đây trong lốt một nhà sư, và bị đem về bến Bồ Đề để xử chết.

        Khi vua Mạc Mậu Hợp bị bắt ở Phượng Nhỡn thì Mạc Kính Chỉ ở Chí Linh vẫn còn một lực lượng dồi dào. Ông nguyên là con trưởng của Khiêm vương Mạc Kính Điển, lúc thiếu thời có tội với cha nên bị vua Mậu Hợp đày về đây. Trước sự sống còn của nhà Mạc, ông bỏ qua những oan thù cũ chiêu tập binh mã để chống nhà Lê. Các thân vương Mạc Kính Thu, Mạc Kính Thành, Mạc Kính Thân và nhiều người khác đi theo ông. Ban đầu chỉ có chừng vài trăm người, nhưng đã nhanh chóng tăng lên vài vạn người, rồi tới trên 6 vạn người. So ra vùng đông Kinh Bắc, Hải Dương, An Bang và đông Sơn Nam chưa hẳn đã muốn phò Lê bỏ Mạc. Khi hay tin vua Mạc Mậu Hợp bị bắt, Mạc Kính Chỉ xưng vương. Ông đặt niên hiệu là Bảo Định rồi đổi sang Khang Hựu, và đặt hành dinh tại Thanh Lâm. (nay là Phù Cừ, Hưng Yên). Mạc Kính Chỉ cho đào hào đắp lũy sẵn sàng chiến đấu với triều Lê.

       Thanh Lâm có thể tự túc lương thực nhờ phù sa sông Hồng và sông Luộc. Nó sẽ trở thành một sào huyệt lâu dài nếu không sớm phá hủy. Trịnh Tùng nghĩ thế. Trước tết nguyên đán qúy tỵ 1593 chỉ độ mươi ngày, tiết chế họ Trịnh ra lịnh tấn công. Nguyễn Thất Lý, Bùi Văn Khuê, Trần Bách Niên, Nguyễn Nga là các tướng nhà Lê tham gia trận chiến nầy. Một kết quả làm Trịnh Tùng giận giữ giữa triều đình: Nguyễn Thất Lý chết, Nguyễn Nga bị thương, Bùi Văn Khuê, Trần Bách Niên bỏ chạy, và hơn một vạn quân chết trên sông Hồng. Lập tức Trịnh Tùng sai tướng Hoàng Đình Ái và tổng đốc hải quân Nguyễn Hữu Liêu ra quân. Lúc này cả hai danh tướng của triều Lê nầy đã trên 60, họ có nhiều kinh nghiệm trận mạc. Với 4 vạn quân họ đã đánh tan tác 6 vạn quân ô hợp trong ngoài hành dinh Thanh Lâm. Trừ hướng hoàng thành Đông Kinh không dám chạy về, quân Mạc theo từng nhóm chạy đi khắp nơi. Tết nguyên đán ất tỵ 1593 năm ấy, đã không có mùa xuân trong lòng vô số đám tàn binh nầy. Quân nhà Lê quyết truy đuổi đến tận nơi. Khoảng trung tuần tháng giêng, thân vương Mạc Kính Thành và hơn trăm đồng đội đã sa lưới ở rừng Đông Triều. Vua Khang Hựu Mạc Kính Chỉ chạy được xa hơn, nhưng cũng sớm cùng đường. Ông và những thuộc hạ quyết đánh đến cùng, và đã bị tuớc khí giới bên dòng sông nhỏ Hoành Bồ thuộc thừa tuyên An Bang đông bắc. Họ là nhóm tù binh lỳ lợm nhất kể từ đầu chiến tranh Lê – Mạc. Số phận họ được định đoạt tại pháp trường Thảo Tân miền đông thành Đông Kinh.

      Giết được Mạc Kính Chỉ dẹp được nhà Mạc ở Thanh Lâm, Trịnh Tùng cho sửa sang cung điện và cho người về đón vua Lê Duy Đàm tức Lê Thế Tông về cố đô. Nhà vua rời Vạn Lại vào đầu tháng 3 năm 1593, và đến Thanh Oai vào đầu tháng tư. Trịnh Tùng cùng tất cả võ tướng ra đón nhà vua về nội thành. Ngày 16 tháng 4 vua nhận lễ chầu mừng của bá quan văn võ ở điện cần chánh, và ban chiếu chỉ đầu tiên cho một Đại Việt thống nhất trở lại sau 65  năm chiến tranh. Sau lễ chầu của các quan lại ở kinh thành, lần lược đến các quan trấn thủ thừa tuyên đến chúc tụng. Tháng 5 năm 1593, tổng lưỡng trấn Quảng Nam – Thuận Hóa về diện kiến vua Lê. Đoàn thuyền của Hạ Khê hầu Nguyễn Hoàng từ Trà Bát ra bắc có con trai Nguyễn Hải và cháu nội Nguyễn Hắc đi theo. Họ mang theo nhiều vàng bạc và trầm quế để triều cống triều đình. Nguyễn Hoàng là người duy nhất trong số 12 tổng trấn thừa tuyên được vua Lê mời ở lại kinh thành phong tước. Ông được phong tước quốc công, Đoan quốc công. Tước nầy ngang bằng với tước của tướng Hoàng Đình Ái và tướng Nguyễn Hữu Liêu dù không có công diệt Mạc như hai vị tướng nầy. Liền sau đó ông được vua Lê cử làm tướng chỉ huy thủy quân Sơn Nam mang quân đi đánh giặc biển ở đông Sơn Nam và Hải Dương. So ra, tước của ông được thăng: từ Hầu lên Công, nhưng chức đã giảm: từ tổng lưỡng trấn xuống làm tướng thủy quân của một thừa tuyên mặc dù danh từ nghe rất kêu: Trung quân đô đốc phủ tả đô đốc. Dĩ nhiên Nguyễn Hoàng biết điều nầy, và ông cũng biết ai là người thật sự đưa ra quyết định. Trong tinh thần trung quân của một tôi thần, Nguyễn Hoàng đến Sơn Nam lãnh 300 chiến thuyền đi chiến đấu. Mênh mang trong lòng vị tổng lưỡng trấn họ Nguyễn bề bề thế sự.

      Tình hình miền bắc lúc ấy rất phức tạp. Dù đã không còn Mạc Mậu Hợp, Mạc Toàn, Mạc Kính Chỉ, nhưng bá tánh không hẳn có đa số thuần phục nhà Lê. Hình ảnh các vị vua tha hóa, hung dữ, bất tài của nhà Lê kéo dài từ 100 năm trước, đã làm người ta dễ tha thứ cái bất toàn của nhà Mạc. Nhiều nhóm khởi nghĩa chống Lê nổi lên mà vùng biển Hải Dương do Thuỷ quận công (không biết tên) lãnh đạo là một. Bên cạnh đó một lực lượng mạnh hơn, quy mô hơn đang thành hình: Mạc Kính Cung ở Cao Bằng. Từ lúc thua Trịnh Tùng ở Sơn Tây, tướng Nguyễn Ngọc Liễn không ngồi yên ở núi rừng Tam Đảo. Ông đưa quân về đông với hy vọng tinh thần phò Mạc ở đây cao hơn miền tây. Khi đến An Bạc, Bắc Giang tướng Liễn hay tin phụ chính Mạc Đôn Nhượng cũng đến đây và không may đã qua đời. Người đang lãnh đạo nghĩa quân đương thời là thân vương Mạc Kính Cung, con thứ của phụ chính Mạc Kính Điển. Từ lâu Mạc Kính Cung rất kính trọng Nguyễn Ngọc Liễn vì tài năng và tuổi tác. Trên vai vế ông còn là phò mã chú dượng của Cung, nên vị thân vương nầy rất mừng khi gặp lại tướng Liễn. Nhờ uy tín của tướng Liễn nhiều nơi quy về tạo thành một vùng phía bắc rộng lớn tiếp tục chiến đấu cho nhà Mạc. Tháng 3 năm 1593 Mạc Kính Cung xưng vương đặt niên hiệu là Càn Thống, và chọn Cao Bằng lập hành dinh. Mạc Kính Cung muốn nhanh chóng dành lại triều đình cho dòng họ mình đã có ý định nhờ vả quân đội nhà Minh, nhưng được tướng Nguyễn Ngọc Liễn khuyên can. Rất tiếc vị danh tướng nầy không ở lâu với hậu kỳ triều Mạc. Tháng 7 năm 1594, sau một lần thất bại ở An Bắc, quân Mạc phải tan tác, Tướng Liễn rút về Vạn Ninh ở thượng nguồn sông Thương, và ông ngã bệnh ở đây. Trong lúc còn tỉnh táo, ông hay rằng Mạc Kính Cung đã chạy qua đất Tàu, ông đã viết những dòng thư như là trối trăng cho đứa cháu họ Mạc. Đại ý nói rằng có thể nương nhờ đất Tàu khi khó khăn, nhưng chớ mời người Tàu vào đất mình. Nếu làm điều đó, nhà Mạc sẽ có tội với tiền nhân, và gây lầm than cho lê thứ. Không lâu sau Mạc Kính Cung trở về, và xem lời thư của vị danh tướng trưởng thượng như một kim chỉ nam để tiếp tục chiến đấu. Mặt trận miền bắc nầy đã phải đối đầu với tướng Hoàng Đình Ái của nhà Lê nhiều lần.

      Nếu miền đông và miền bắc có khởi nghĩa, thì miền tây bắc cũng không yên. Lúc nầy chúa Bầu Nguyễn Công Kỷ đã chết, con là Nguyễn Đức Cung lên thay. Nhân loạn khắp nơi, Nguyễn Đức Cung muốn lấy lại truyền thống tự trị của thời kỳ đầu của ông nội Vũ Văn Mật. Từ Đại Đồng, chúa Bầu lấn chiếm nhiều nơi. Thanh Ba, Hạ Hoa, Nghĩa Đô, Đông Lan là những địa danh mà tướng Nguyễn Hữu Liêu của nhà Lê đã phải chiến đấu để giành lại.

      Tình hình bất ổn như thế cũng làm Trịnh Tùng nao núng. Ông cố tạo một xã hội bình yên để lấy lòng dân. Trong chiếu chỉ của vua Lê thường nhắc tới đại xá và giảm thuế, được Trịnh Tùng cho thi hành ở khắp mọi nơi. Việc thi cử chọn nhân tài cũng được tiến hành, năm ất mùi 1595 có khóa thi hội. Đây là khóa thi hội thứ hai của triều Lê Trung Hưng, và là khóa đầu tiên được tổ chức trở lại ở kinh thành Đông Kinh. Nguyễn Thực, Nguyễn Danh Thế và 6 người nữa đỗ tiến sĩ và đồng tiến sĩ xuất thân trong khóa nầy. Tuy thế tình hình miền bắc vẫn tiếp tục bất ổn, nhất là nơi phát tích của họ Mạc. Mặc dù có tướng Nguyễn Hoàng tổng chỉ huy đạo quân Sơn Nam ở mặt đông, tháng 11 năm 1595 Trịnh Tùng cũng phái 5 ngàn quân đến Thanh Lâm và Cẩm Giàng. Lực lượng nầy do Kế quận công Phan Ngạn chỉ huy, và ông nầy đã thắng được đạo quân miền đông của  thân vương Mạc Kính Chương còn sót lại ở đây. Điều nầy có thể nói Trịnh Tùng cho Phan Ngạn giẫm chân lên quyền hạn của tướng Nguyễn Hoàng. Tình cậu cháu giữa hai người Nguyễn Trịnh lại lỏng thêm ra một chút nữa.

      Dĩ nhiên là Nguyễn Hoàng hiểu được lòng dạ của đứa cháu mình. Ông không muốn ở miền đất bắc nầy một ngày nào nữa, nhưng chưa có lịnh của vua Lê, đúng hơn là chưa có lịnh của Trịnh Tùng. Ở thế yếu, họ Nguyễn cảm thấy như mình bị giam lỏng. Ông biết Trịnh Tùng muốn làm mờ nhạt hình bóng của ông. Thừa lịnh vua Lê, Trịnh Tùng đã nhiều lần phái ông đi tăng viện chiến trường miền tây của tướng Nguyễn Hữu Liêu. Có khi lại theo đoàn sứ đi Yên Kinh như một tùy viên. Cứ thế, hết 2 năm, 3 năm, rồi 4 năm ở đất bắc, ông như một con cờ trong tay Trịnh Tùng. Giữa chiến tranh Lê – Mạc, đôi lúc ông không hiểu mình đương đứng ở vị thế nào. Tình trạng như thế kéo dài đến những năm sau nữa, mà phần thuận lợi cho nhà Lê nhiều hơn cho quân khởi nghĩa nhà Mạc: Tháng 4 năm 1597 Phùng Khắc Khoan đi sứ Yên Kinh yêu cầu chấp nhận vua Lê Thế Tông là vua của nước An Nam. Chu Dực Quan tức Minh Thần Tông không bằng lòng. Họ Chu chỉ muốn vua Lê Thế Tông làm đô thống sứ An Nam thay cho Mạc Mậu Hợp. Dù chức danh nầy chẳng vinh dự gì, nhưng vua nhà Minh quyết định như vậy là bỏ nhà Mạc chấp nhận nhà Lê. Đó cũng gọi là thành công. Tháng 4 năm 1598, Trịnh Tùng nhân danh vua Lê Thế Tông mạnh tay với quân nhà Mạc ở miền đông. Một cuộc hành quân thủy bộ quy mô về Đông Triều, Thủy Đường, Hải Dương và Thanh Lâm. Lần nầy vẫn không do tướng Nguyễn Hoàng chỉ huy mà do hữu tướng Hoàng Đình Ái. Dưới quyền tướng Ái là Phan Ngạn và Bùi Văn Khuê, và trận nầy nhà Lê thắng lớn. Những đơn vị miền đông của nhà Mạc hoàn toàn tan rã và vị Thủy quận công tổng chỉ huy của họ bị giết.

      Sau chiến thắng nầy thì lần lược các nơi khác cũng được yên. Tháng 4 năm 1599 vua Lê Thế Tông tấn phong cho Trịnh Tùng từ Trường quốc công thành Tổng quốc thượng phụ Bình An vương. Nhiệm vụ vẫn như cũ, tiết chế tất cả mọi việc trong ngoài, nhưng tước vị mới nầy thì lớn hơn. Danh giá của nó gần như là vua. Lần phong vương nầy được chuẩn bị chu đáo, có cả sách vàng và tản ngọc của vua Lê Thế Tông trao tặng. Người ta nói nhà vua bị ép cũng đúng, mà nói “nể mặt sui gia” cũng đúng. Lúc nầy Trịnh Tùng đã hứa làm sui với nhà vua. Con gái thứ của Trịnh Tùng hứa gả cho con trai thứ của vua: hoàng tử Lê Duy Tân. Với tước vị và chức vụ mới nầy, Trịnh Tùng hoàn toàn làm chủ triều Lê. Dù ai có mau quên cách mấy, họ cũng nhớ tới những 30 năm trước vì sao Trịnh Cối phải hàng nhà Mạc, vì sao Lê Cập Đệ phải chết và vì sao vua Lê Anh Tông đã qua đời lặng lẽ. Quả, Trịnh Tùng không hề đơn giản.

      Tuy vậy, sự đi quá đà của vị thượng phụ Bình An vương nầy đã làm nhiều người bất mãn. Tinh thần phò Lê trong họ không hề giảm, nhưng buộc xem Trịnh Tùng như là vua Lê thì mầm bài Trịnh đã manh nha. Mùa hè năm 1599 trôi qua một cách nặng nhọc. Với đội quân tình báo của họ Trịnh làm cho ai có ý thương cảm đến nhà Lê đều có cảm tưởng như mình bị theo dõi. Do vậy, thời gian cứ trôi qua mà mầm bài Trịnh vẫn nằm yên trong những kẽ nứt khô cằn. Bỗng ngày 24 tháng 8 năm 1599 vua Lê Thế Tông băng hà sau một thời gian ngắn trải bịnh, và người con trưởng đã được chọn làm thái tử không được lên ngôi. Người con thứ là Lê Duy Tân được đưa lên làm vua. Đó là người rể tương lai của Trịnh Tùng, tức vua Lê Kính Tông. Lúc nầy nhà vua chỉ mới 11 tuổi, và dĩ nhiên là không có một tí quyền lực. Không ai thấy người thái tử bị phế lưu lạc nơi nào, nhưng người ta đã thấy được mầm “phản loạn”. Kế quận công Phan Ngạn, Tráng quận công Ngô Đình Nga và Mỹ quận công Bùi Văn Khuê tập hợp bản bộ binh lính dồn về Thủy Nguyên đòi ly khai với họ Trịnh. Đó là những ngày đầu mùa hạ năm canh tý 1600.

      Ba vị quận công định bắt tay với quân của Mạc Kính Cung ở Cao Bằng, nhưng công việc chưa đến đâu thì có loạn. Loạn từ giặc cướp, loạn từ khởi nghĩa mà cả một vùng Bắc Giang – Hải Dương đã có những cuộc chạm trán lên tới số ngàn. Trước tình hình ấy tướng Nguyễn Hoàng xin đi đánh dẹp, và vua Lê đã bằng lòng. Họ Nguyễn đã tương kế tựu kế đốt hết doanh trại ở Hải Dương tạo thêm rối loạn, và lên thuyền ra khơi về nam. Chuyến ra đi chỉ có những thân tín trung thành. Chắc rằng vị tổng lưỡng trấn nầy không khỏi đau lòng bỏ lại người con trai Nguyễn Hải và đứa cháu nội còn đương ở trong dinh vua Lê. Việc nước lớn hơn việc nhà. Ông hy vọng nếu bành trướng được thế lực Thuận Quảng, sẽ có cơ hội mặc cả cho sự trở về của đứa con và đứa cháu bị bỏ lại. Đó là niềm vui chen trong niềm đau của người cha 75 tuổi giữa biển khơi mênh mông. Mùa hè của năm 1600 nầy, thuyền của Nguyễn Hoàng lướt qua những cơn sóng dữ.

      Lửa đã tàn ở đồn binh Hải Dương, nhưng giặc lại dậy lên khắp nơi ở khắp miền bắc. Quân cướp vô tổ chức, quân của vua Càn Thống Mạc Kính Cung, quân của các công hầu riêng lẻ, quân của chúa Bầu Đại Đồng, quân của nhóm Phan Ngạn, Ngô Đình Nga, Bùi Văn Khuê lẫn lộn nhau. Chúng trở thành một mớ bùi nhùi, nhưng mục tiêu là chiếm lấy kinh thành Đông Kinh. Lúc nầy tây đạo tướng quân Nguyễn Hữu Liêu đã chết, triều đình nhà Lê chỉ còn tướng Hoàng Đình Ái và những văn thần Nguyễn Thức, Nguyễn Danh Thế….So ra, không thể dẹp yên được loạn, Trịnh Tùng quyết định bỏ Đông Kinh cho giặc tranh lấy nhau. Đầu tháng 6 năm 1600, Bình An vương Trịnh Tùng hộ giá vua Lê Kính Tông về Tây Đô. Ở đây họ Trịnh nhìn thấy một phương bắc rối bời. Đầu tiên, Phan Ngạn nghi ngờ Bùi Văn Khuê không thực lòng bỏ nhà Lê để trở lại nhà Mạc. Họ Phan lừa giết họ Bùi như một đồng chí phản bội, nhưng liền sau đó Phan Ngạn cũng bị giết. Ông nầy bị bà góa phụ Bùi Văn Khuê trả thù cho chồng tại ngã ba Tuần Vương, nơi dòng sông Hồng rẽ nước về Châu Giang. Diễn biến nầy Trịnh Tùng không ngờ tới, nhưng những diễn biến kế tiếp đều nằm trong dự đoán của vị Bình An vương: Tất cả lực lượng yếu đều bị tiêu diệt, quân của Mạc Kính Cung chiếm được kinh thành Đông Kinh đang bỏ ngỏ.

      Khi triều đình Càn Thống Mạc Kính Cung chiếm được Đông Kinh, thì triều đình nầy như một thai nhi sinh khó. Đã vốn yếu đuối từ năm 1594 khi tướng Nguyễn Ngọc Liễn qua đời, mà phải giành lấy chiến thắng vừa qua nên thân thể còn đầy thương tích. Còn lại trên một vạn quân chưa thuần nhất, liệu có giữ được thủ đô hay không? Dưới sự chỉ huy của các vị quận vương chưa giàu kinh nghiệm chiến trường, thật khó trả lời. Đó là lúc Trịnh Tùng mang đại quân từ Tây Đô trở về lấy lại Đông Kinh. Họ Trịnh làm điều nầy dễ như trở bàn tay, nhiều quận công chỉ huy nhà Mạc đã hàng nhà Lê khi chưa lâm trận. Vua Càn Thống Mạc Kính Cung phải vội vã bỏ thủ đô chạy đến Kim Thành. Đi theo ông có người cháu Mạc Kính Khoan phù trợ. Người duy nhất còn lại chỉ huy chiến đấu giữ Đông Kinh là quận công Ngô Đình Nga. Dĩ nhiên là giống như trứng chọi đá. Vị quận công họ Ngô trung thành với nhà Mạc đã hy sinh ở đầu nguồn sông Đuống khi kịch chiến với Nguyễn Cảnh Kiên, một vị tướng của nhà Lê. Trịnh Tùng làm chủ lại phủ Phụng Thiên. Đó là một ngày đầu tháng 8 năm 1600. Đông Kinh được sửa sang lại. Người ta thấy Trịnh Tùng chuẩn bị đường sá để đón vua Lê về, nhưng thực sự Bình An vương nầy đương đặt nền móng của vương phủ họ Trịnh. Cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

      Đến tháng 5 năm 1561 vua Lê Kính Tông được rước từ Tây Đô về triều. Lúc nầy ông đã được 12 tuổi. Ông là người thông minh, cương nghị nhưng bị vây trong thế lực tay chân của Trịnh Tùng. Những người theo Trịnh, nhưng thượng tôn vua Lê ở lớp trước đều đã chết. Trong bọn họ chỉ còn Hoàng Đình Ái và Phùng Khắc Khoan, nhưng hai vị quan văn võ nầy cũng đã già và tính đường an trí. Xung quanh vua Lê chỉ còn những vị quan văn về hùa theo thế mạnh. Tiến sĩ Nguyễn Danh Thế làm Hiệu thảo ở viện hàn lâm, nhưng cũng làm Bồi tụng sứ trong Trịnh vương phủ. Tiến sĩ Lê Bật Tứ là người nổi tiếng lo cho dân, nhưng là người đầu tiên khải tâu lên Trịnh Tùng nên sớm lập thế tử trong phủ. Trịnh Tùng rất bằng lòng lời tấu trình cách truyền thừa thế tập nầy, nhưng còn chần chừ chưa quyết định vội. Tương tự như Nguyễn Danh Thế và Lê Bật Tứ, một vị khoa bảng khác là Nguyễn Duy Thì cũng thế. Ông nầy là quan ngự sử có nhiệm vụ can gián sự lạm quyền của nhà vua và hặc tấu những điều sai quấy của hàng quan lại, nhưng ông chưa bao giờ làm hai điều đó. Nguyễn Duy Thì và hàng thần văn võ đều mặc nhiên chấp nhận vương phủ Trịnh như là một vương quyền phải có bên cạnh triều Lê. Nó bắt đầu hình thành từ thời vua Lê Kính Tông và Bình An vương Trịnh Tùng. Nó là tiền thân của phủ chúa về sau.

    Dù thông minh nhưng vua Lê kính Tông vẫn không làm được chuyện gì. Nhà vua lớn dần theo năm tháng từ 5 năm, 10 năm, rồi gần 20 năm, ông làm được 3 việc. Thứ nhất: Năm 19 tuổi tức năm 1607, ông cưới vợ. Vợ ông là Trịnh Thị Ngọc Trinh 17 tuổi, con thứ Bình An vương Trịnh Tùng, mà lúc sinh tiền phụ vương ông đã hứa hôn. Dĩ nhiên đây là sự gán ghép chính trị, nhưng ông rất thương yêu người vợ nhỏ bé nầy. Họ đã có đứa con trai đầu lòng trong cùng năm thành thân ấy. Đó là hoàng tử Lê Duy Kỳ. Thứ hai: Qua Trịnh Tùng, nhà vua sai các con của Trịnh Tùng là Trịnh Tráng Trịnh Xuân cùng Nguyễn Danh Thế đi tiêu diệt quân Mạc. Họ đã đuổi Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan chạy từ Hải Dương lên Thái Nguyên, Lạng Sơn rồi vào sâu trong rừng Cao Bằng. Quân nhà Mạc hao hụt dần ở những trận đánh trong các năm 1610, 1611, 1615 và 1518. Thứ ba: Ngoài hai việc thường thường ở trên không đưa đẩy nhà vua đến xấu hơn hoặc tốt hơn, năm 1619 vua Kính Tông làm một việc đã đưa ông đến cái chết. Đó là can dự vào việc muốn xóa bỏ vương phủ Trịnh.

      Cơ sở của vương phủ họ Trịnh là một dãy dinh thự nguy nga kéo sát tới lầu Đoan Môn của nhà vua. Nó được xây ở phía đông nội thành từ năm 1600. Đó là lúc người ta nói sửa sang những con đường để rước vua Lê Kính Tông từ Thanh Hoa trở về. Trịnh vương phủ đã 20 năm tồn tại, bỗng cháy ngùn ngụt vào một ngày xuân năm kỷ mùi 1619. Không ai biết tại sao, nhưng đó là nơi Bình An vương Trịnh Tùng và vương thế tử Trịnh Tráng đang cư ngụ. Rất may hai cha con Trịnh vương không hề gì, tuy nhiên điều này làm Trịnh Tùng đặt dấu hỏi. Ông nghi ngờ có kẻ muốn ám toán mình, và điều nghi ngờ đó được trả lời vào 2 tháng sau. Theo thông lệ đã lâu, đến tháng 3 hằng năm có đua thuyền trên sông Nhị Hà. Đó là lúc thời tiết mát mẻ và thời vụ chưa đến mùa gặt hái. Không năm nào Bình An vương bỏ qua cái thú nhìn xem hơn 50 chiếc thuyền dài lướt sóng giữa tiếng hò reo của người xem ở hai bên bờ. Năm nay cũng thế, Bình An vương đi xem, và không có điều tệ hại gì xảy ra như bọn cận vệ đề phòng. Tuy nhiên trên đường về có những mũi tên cố nhắm vào Bình An vương. Ông ta không hề hấn gì, nhưng một cuộc truy lùng ngay tức khắc được thực hiện. Họ đã bắt được những kẻ dương cung ám toán. Qua thế tử Trịnh Tráng và trưởng cung giám Bùi Sĩ Lâm, những tay xạ tiễn nầy đã lần lần khai ra hai kẻ chính phạm. Đó là vua Lê Kính Tông và vương tử Trịnh Xuân. Trịnh Xuân đã nhận lỗi vì bị mê mờ nên chỉ bị giam rồi được tha. Vua Lê Kính Tông không phủ nhận việc mình muốn trừ khử quyền thần Trịnh Tùng. Người ta liên kết việc đốt Trịnh vương phủ trước đây và ám sát Trịnh Tùng làm một, và đổ hết lên mình vua Lê Kính Tông. Ông chịu số phận giống như ông nội Lê Anh Tông của mình chỉ khác hình thức. Một người được cho rằng bị bịnh mà chết, một người bị công khai phải uống thuốc độc.

      Trước thi hài của vua Lê Kính Tông, Bình An vương Trịnh Tùng vẫn còn ghét người con rể nầy, ông ta muốn lập một đứa bé gọi vua Kính Tông bằng chú lên làm vua. Trong lúc chưa quyết định, hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trinh van xin cho con trai Lê Duy Kỳ của mình lên nối nghiệp. Mềm lòng trước lời kêu khóc của đứa con gái thứ, Trịnh Tùng thuận cho đứa cháu ngoại họ Lê nầy lên làm vua. Đó là vị vua thứ 6 của nhà Lê trung hưng. Hôm ấy là một ngày của tháng 6 năm 1619. Triều đình như vừa qua một cơn đau, và nó được lành với một dị tật. Từ đây triều đình có “nề nếp” hơn cũ. Mọi chiếu chỉ từ vua, mọi tâu trình từ các bộ, các trấn nhất nhất đều phải qua Trịnh vương phủ, mà bây giờ người ta đã quen gọi là phủ chúa. Trong các đời vua Lê trung hưng không có vị vua nào phong họ Trịnh tước vị chúa. Tuy nhiên từ thời vua Lê Duy Kỳ tức vua Lê Thần Tông, bắt đầu niên hiệu Vĩnh Tộ (1619- 1628) danh xưng chúa Trịnh được thành hình.

Tướng Ngọc Liễn sa cơ tiếc hận
Nhìn mây trôi mà khóc Mạc triều
Mờ mờ tây bắc soi nhân ảnh
Bóng núi bóng người bóng cô liêu

Giữa buổi ấy Lê triều rộn rã
Hồn Đông Kinh nối những hồn xưa
Thăng Long dâu bể bao triều đại
Tiếng non sông gọi mãi chưa vừa

Tiết chế Trịnh điều binh an định
Lòng Nhị Hà mở rộng thênh thang
Phân tranh Lê – Mạc không còn nữa
Mà sao nước Việt cứ bàng hoàng

Nhớ thuở trướcThống Nguyên bỏ nước
Lê về đâu nước lại về đâu
Sáu lăm năm chẵn trôi về Mạc
Ai biết từ nay hết dãi dầu

Quân đông tiến Trịnh Tùng truyền lịnh
Vây Kim Thành mà bắt Mạc vương
Bao người đã chết như tử đạo
Mậu Hợp nơi nao dặm dặm trường

Làng Phượng Nhỡn, Mô Khuê chùa cổ
Tiếng nam mô khoan nhặt Di Đà
Nâu sồng vốn tự như áo vải
Che chắn không cùng kẻ cơ sa

Cha chết thảm người con đâu nhỉ
Phận Mạc Toàn rồi cũng theo mây
Mạc triều một thuở đời vương đế
Bể đã thành dâu đến thế nầy

Mạc Kính Chỉ vương thân còn lại
Từ Chí Linh mờ mịt trăng soi
Đi về đắp lũy Thanh Nam xứ
Dựng Mạc ai ơi kẻ Mạc hoài

Đâu sông Luộc sông Hồng phương ấy
Nước trong xanh mà thế không xanh
Vận thời có lẽ không phù Mạc
Mấy trận bên sông mấy chẳng lành

Sông Hoành Bồ, An Bang đông bắc
Ngày đang xuân sao chẳng tin vui
Sức cùng lực tận về đâu đó
Bến Thảo Tân cỏ có ngậm ngùi?

Kính Chỉ chết mùa xuân ất tỵ (1593)
Vua Lê về từ Vạn Lại xưa
Yên Trường trải mấy mùa đông tiết
Bốn bảy năm dâu biển có thừa

Đã đến lúc Trung Hưng đổi khác
Đất Thánh Tông trả lại Thánh Tông
Can qua binh lửa từng hậu duệ
Non nước rồi đây sẽ nắng hồng

Tưởng như thế mà không phải thế
Lê Trung Hưng mấy đỗi truân chuyên
Trịnh Tùng lừng lững như Mạnh Đức
Từng bước chân quen chiếm lấy quyền

Cõi đất bắc ai người tể tướng
Dưới vua Lê trên cả quần thần
Giữa mùa vua ngự kinh thành cũ
Mời gọi quan triều đến thụ ân

Nào Hoàng Ái, Hữu Liêu thăng chức
Nào Trịnh Tùng kết nghĩa thông gia
Trịnh Trinh nhỏ lắm còn thơ dại
Mà sớm se duyên để một nhà

Nào Nguyễn Hoàng xa xôi Thuận Quảng
Cũng về triều mưa móc ơn vua
Ra đi cứ ngỡ mai về lại
Ai biết quan san trải mấy mùa

Cơn chua xót kéo dài một độ
Đã sang thu rồi lại sang thu
Bao giờ trở lại trời nam ấy
Tiếng vọng xa xôi bóng khói mù

Tướng Thuận Quảng trở thành hữu tướng
Danh nghe thơm mà thực nơi đâu
Sơn Nam giặc bể đi đánh trận
Kinh Bắc cầm quân mấy dãi dầu

Miền đất bắc rừng sâu núi thẳm
Quân Kính Cung, Kính Vũ, Kính Khoan
Kéo dài hậu Mạc bao lâu nữa
Người mất bên sông kẻ lạc đàn

Tướng Phan Ngạn, Bùi Khuê thắng trận
Tiết chế Tùng thêm bước chân quen
Giữa triều Lê ấy bao khanh tướng
Bình An vương, đệ nhất ai bằng

Rồi một sớm thu về tháng tám (24/8/ 1599)
Thế Tông băng, họ Trịnh chuyên quyền
Thái tử nhà Lê đành chịu phế
Lưu lạc nơi nào để được yên?

Lập hoàng thứ làm vua Thận Đức
Tức Kính Tông tuổi độ mười hai
Trịnh Tùng tể tướng vai nhạc phụ
Phủ chúa từ đây mộng kéo dài

Tay một cánh Tùng vung mấy sải
Quạt phong ba mà chế ngai vàng
Bùi Khuê, Phan Ngạn, Đình Nga ấy
Những kẻ vì đời dặm quan san

Loạn đất bắc Thuỷ Nguyên xứ biển
Nối Cao Bằng lập thế liên minh
Triều Lê cử tướng đi chinh phạt
Ai kẻ mang gươm định tình hình

Đoan quốc công xin binh xuất chiến
Bình An vương thuận ý trao quân
Nửa chừng lửa cháy quân doanh ấy
Như tiễn người đi khói mấy từng

Tướng Nguyễn Hoàng xuôi nam mùa hạ
Quân Kính Cung họ Mạc lại về
Nhị Hà máu đổ loang sông bắc
Ai người cứu được một triều Lê

Tể tướng Trịnh bỏ thành bỏ phủ
Đưa vua về trở lại Thanh Hoa
Vời trông đất bắc thành loạn chiến
Có kẻ thù nhau chỉ một nhà

Đã vì thế vì đời cứu nước
Mà Bùi Khuê, Phan Ngạn nghi nhau
Sông nào máu chảy trêu khanh tướng
Mà để Tuần Vương đỏ một màu?

Từ độ ấy Đông Kinh hóa loạn
Quân Trịnh Tùng trở lại thủ đô
Kính Cung bỏ chạy về phương bắc
Khéo khen thay nước Việt cơ đồ

Đường nam bắc Trịnh Tùng dựng lập
Sửa dinh cơ mà đón Kính Tông
Mùa hè năm tới vua về lại
Đứng trước triều Lê sóng chập chồng

Trịnh phủ chúa xây thành đắp thế
Những ai trông theo gió về hùa
Văn thần võ tướng là ai nhỉ
Thờ Trịnh vương từng bước chen đua

Năm nối tiếp từng mùa thay đổi
Thời Kính Tông, Đại Việt chia ba
Mạc triều thu lại nơi biên bắc
Họ Nguyễn phương nam lập sơn hà

Chuyện đã thế vua Lê mất thế
Vương Trịnh Tùng quyền biến sinh hung
Gom bao nhân lực về phủ chúa
Ép Kính Tông đi đến đường cùng

Giết Kính Tông mùa hè tháng sáu (6/1619)
Lập Duy Kỳ cháu ngoại làm vua
Phế phò tự ý như từng đã
Họ Trịnh phò Lê hóa chuyện đùa


<<  |  >>