Skip to content

Chương 20/6

NHÀ MẠC
(1527 – 1592)

Đoạn sáu

NHÀ LÊ TÁI CHIẾM ĐÔNG KINH, CHẤM DỨT TIỀN KỲ NHÀ MẠC

 

      Đó là tháng giêng năm nhâm tuất 1562, Thái tử Mạc Mậu Hợp vừa tròn 2 tuổi được lên ngôi. Khiêm vương Mạc Kính Điển lấy người em út của mình là Mạc Đôn Nhượng làm nhập nội phụ chính, mọi tướng lãnh quan lại trong triều được thăng cấp tước và bổng lộc. Nhà Mạc lo kiến tạo lại những vùng bị tàn phá sau chiến tranh, tiếp tục mở khoa thi hội định kỳ 3 năm như thường lệ. Phạm Duy Quyết và 17 người khác là những tân khoa năm 1562 nầy.

      Trong khi đó thì nhà Lê không đành thúc thủ ở phương nam sau hai lần thất bại vừa rồi. Đất tổ quê cha không chỉ là Thanh Hoa, Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam, mà là cả miền bắc. Tấn công. Tháng 2 năm 1562 vua Lê Anh Tông cho quân đội từ bắc Thanh Hoa tiến chiếm những miền đất nằm dọc theo biên giới bắc Lào mà chính quyền nhà Mạc kiểm soát rất lỏng lẻo. Khi quân nhà Lê chưa tới, lính Mạc trú đóng bên bờ tây sông Đà đã bỏ chạy. Hầu như không có sự đụng độ nào đến chết người. Dân chúng ở đây, đa số là người Thái và Tày. Họ được vỗ về, và theo về với nhà Lê. Nếu lần bắc tiến hùng hậu năm 1559 không chiếm được một tấc đất nào, thì lần hành quân nhỏ nầy lại kéo dài lãnh thổ. Những Sập Vạt, Hồng Ngài, Nậm Giôn thuộc thừa tuyên Hưng Hóa đã được nhà Lê chiếm lại. Từ đây về nhiều năm sau, hai bên thường xuyên xâm phạm lãnh thổ của nhau. Các huyện Gia Viễn, Yên Mô, Yên Khang của phủ Trường Yên thuộc thừa tuyên Sơn Nam chịu đựng nhiều nhất, nhưng không bên nào hoàn toàn thắng. Chiến tranh biên giới Lê – Mạc luôn luôn chực chờ xảy ra, nhưng những biến chuyển kế tiếp của hai nhà lại không hề dính tới nó.

      Tháng 3 năm 1568 tổng trấn Quảng Nam Bùi Tá Hán của nhà Lê mất tích. Người ta đồn đoán ông bị người bản thổ Chiêm Thành giết chết, nhưng không thấy thi hài. Chỉ thế rồi thôi, không ai bỏ công tìm hiểu cái chết của vị thần tử nầy. Vua Lê Anh Tông lấy Nguyễn Bá Quýnh từ Nghệ An vào thay Bùi Tá Hán.

      Tháng 9 năm kỷ tị 1569, tổng trấn Thuận Hóa Nguyễn Hoàng ra yết kiến vua Lê Anh Tông ở kinh đô Vạn Lại. Họ Nguyễn ở lại thăm gia đình người chị ruột đến tháng giêng năm sau. Giữa những ngày tết nầy, người anh rể Trịnh Kiểm đã tâu trình với nhà vua xin Nguyễn Hoàng làm tổng trấn cả hai thừa tuyên Thuận Hóa và Quảng Nam. Thỉnh cầu vị thái tể họ Trịnh được vua Lê Anh Tông mau chóng chấp thuận. Tháng giêng năm 1570 Nguyễn Hoàng trở về Thuận Hóa với chức vụ mới. Lúc nầy cả ba người Mạc Cảnh Huống, Nguyễn Ư Kỷ và Tống Phước Trị là 3 trợ thủ đắc lực cho lưỡng tổng trấn Nguyễn Hoàng. Lỵ sở dinh Cát ở Ái Tử được dời về Trà Bát. Địa danh nầy cách Ái Tử chừng vài dặm đường về hướng đông bắc, và trở thành tổng hành dinh của cả Thuận Hóa và Quảng Nam. Quan trấn thủ Nguyễn Bá Quýnh của Quảng Nam được rút trở về Nghệ An. Một lãnh thổ mênh mông từ đèo Ngang đến núi Thạch Bi đầy màu xanh đang chờ Nguyễn Hoàng, nhưng đường con cái của ông không mấy trọn vẹn. Giống như người cha Nguyễn Kim, những đứa con đầu của Nguyễn Hoàng đều chết sớm. Đương thời ông bà chỉ còn người con trai thứ 5 là Nguyễn Hải, tiếp theo là Nguyễn Phúc Nguyên, và cô con gái Nguyễn Thị Ngọc Tú.

      Tháng 2 ngày 18 năm 1570 thái tể Trịnh Kiểm mất. Ông Kiểm thọ 63 tuổi và được vua Lê Anh Tông truy phong tước vương, Minh Khang vương. Trong 4 khai quốc công thần của nhà Lê trung hưng, thì Nguyễn Kim và ông là nổi trội nhất. Hùng quốc công Đinh Công chỉ lên đến chức thiếu úy rồi mất lặng lẽ vào năm 1562. Hòa quận công Lại Thế Vinh chỉ lo công việc ngoại giao rất lu mờ. Nhân khi Trịnh Kiểm chết, Lại Thế Vinh được lên thay làm thái tể nhưng rất giới hạn quyền lực. Việc binh bị Trịnh Kiểm đã giao lại cho con trưởng của mình là Tuấn Đức hầu Trịnh Cối. Trịnh Cối đã có lần theo cha cầm quân chinh chiến. Ông là người nhân đức và không có mưu lược nổi trội, trong khi đó người em khác mẹ của ông là Trịnh Tùng rất nhiều mưu cơ. Tùng mới vừa 20 tuổi, nhưng đã nẩy sinh sang đoạt quyền vị của anh mình. Khi tang cha còn đương ở tháng thứ nhất, Tùng đã khéo léo lấy lòng các vị tướng quân. Lúc nầy Phạm Đốc đã chết, còn lại những vị tướng khác đều tin  Trịnh Cối sẽ thay Trịnh Kiểm, nhưng đã bị Trịnh Tùng lung lay. Trong số họ có hai người gần gũi với Tùng nhất là Trịnh Đỗ, và Lê Cập Đệ.

      Đầu tháng 4 năm 1570, Trịnh Tùng sai hai người thân tín nầy từ Biện Thượng vào kinh sư Vạn Lại yết kiến vua Lê Anh Tông xin trình bày việc cơ mật. Theo đó Trịnh Cối đam mê tửu sắc làm mất lòng người, Trịnh Tùng khuyên can nhưng Trịnh Cối không nghe, hai bên đang chuẩn bị cho một xung đột lớn. Nhà vua hạ lịnh Trịnh Tùng rút quân bản bộ về thủ đô, không gây đổ máu với Trịnh Cối ở Biện Thượng. Được lịnh của nhà vua, Trịnh Tùng bỏ vùng trách nhiệm rút quân đi, lúc nầy hai bên mới có xung đột. Ngoài Lê Cập Đệ và Trịnh Đỗ có Đặng Huấn, Hà Thọ Lộc, Ngô Cảnh Hựu và Vũ Sư Thước theo Trịnh Tùng. Số còn lại gồm Hoàng Đình Ái, người vừa trở về từ Lạng Sơn,  Lại Thế Khanh, Lại Thế Mỹ, Nguyễn Hữu Liêu, Nguyễn Sư Doãn ủng hộ Trịnh Cối. Khi quân Trịnh Tùng rút dần về kinh sư thì quân Trịnh Cối đuổi theo. Điều nầy, người anh Trịnh Cối đã mắc bẩy người em Trịnh Tùng. Khi tới địa phận Yên Trường, thì cuộc chiến giữa hai huynh đệ họ Trịnh xảy ra khốc Liệt. Vua Lê Anh Tông ban chiếu chỉ khuyên can hai đàng, nhưng không có kết quả. Quân Trịnh Cối cố dẹp quân Trịnh Tùng để yết kiến nhà vua nên càng đánh mạnh. Điều nầy bị vua Lê Anh Tông tin rằng Trịnh Cối đang làm phản. Ông ra lịnh những cánh quân bảo vệ thủ đô nhảy vào vòng chiến. Dĩ nhiên là cùng với Trịnh Tùng tiêu diệt kẻ phản bội Trịnh Cối.

      Nếu không tính kẻ thù nhà Minh luôn luôn muốn nuốt Đại Việt, thì nhà Lê vẫn còn kẻ thù nội chiến là nhà Mạc. Cuộc chiến ở Vạn Lại, Yên Trường quả là nội chiến trong nội chiến. Nó kéo dài đến 3 tháng sau, hai bên quân lính chết không hề ít. Nguyên nhân gây ra cuộc chiến nầy là do Trịnh Tùng, nhưng người chịu trách nhiệm lại là Trịnh Cối. Thừa kế cha, giữ quyền tiết chế quân đội trong cả nước, ông có nhiệm vụ giữ yên bờ cõi và trung thành với nhà Lê. Ý thức điều nầy làm ông không muốn kéo dài dai dẳng hơn thua với người em khác mẹ của mình. Chống kẻ thù nhà Mạc là quan trọng hơn. Ông rút quân về Biện Thượng, và hội các tướng chống giặc. Việc đầu tiên là củng cố các cửa biển. Lại Thế Mỹ trấn thủ hai cửa Linh Trường và Lạch Trường. Nguyễn Sư Doãn ở cửa Bạng và Ngọc Giáp. Lại Thế Khanh, Hoàng Đình Ái và Nguyễn Hữu Liêu ở miền đồng bằng sông Chu và sông Mã đề phòng quân Trịnh Tùng. Phải giữ yên vùng đông Thanh Hoa nầy trước khi tâu trình với nhà vua về biến cố Trịnh Tùng.

      Rất tiếc, Tuấn Đức hầu Trịnh Cối không còn cơ hội. Ông bị thất thế khi nhà Mạc tấn công liền sau đó. Mạc Kính Điển đốc suất hơn 5 vạn quân thủy bộ và 700 chiến thuyền tràn vào Thanh Hoa. Ngoài Mạc Đôn Nhượng, Nguyễn Ngọc Liễn còn có Nguyễn Quyện và người con rể của ông Quyện là Bùi Văn Khuê. Không như lần trước đổ quân vào ban đêm, 5 cánh quân của Khiêm vương Mạc Kính Điển tiến vào 3 cửa Linh Trường, Chi Long và Hội Triều ngay vào ban ngày. Nó như cơn đại hồng thủy giữa một tinh mơ đầu tháng 8 năm 1570. Gươm giáo, tên cung tha hồ xé gió. Quân của nhà Lê cũng không vừa. Phản công. Nhiều người ngả sấp trên chính ngọn kiếm của mình, khi kiếm đối phương chỉ nhanh hơn trong tích tắc. Trịnh Cối và tướng sĩ chiến đấu rất hăng, nhưng lực lượng quá chênh lệch: một trên năm. Dù các tướng nhà Lê có giỏi giang bao nhiêu cũng đành thúc thủ. Chỉ nửa canh giờ. Khi mặt trời mới lên ngang hông, còn đỏ lựng, thì đã thấy thắng thua rõ rệt. Bình minh đang chan hòa, mà chiến trận đã đi vào hoàng hôn. Quân nhà Lê tan tác ra từng mảnh. Người không biết người chạy đi đâu. Khi tàn quân của Trịnh Cối bị bao vây, thì chỉ còn khoảng vài trăm quân với hai thuộc tướng là Lại Thế Mỹ và Nguyễn Sư Doãn. Ba vị tướng nhà Lê nầy buộc phải đầu hàng để sống còn.

      Bắt được Trịnh Cối, quân nhà Mạc ồ ạt tiến tới. Lúc này thì mới hay hai cánh quân của Lại Thế Khanh và Nguyễn Hữu Liêu chịu không nổi sức tấn công Nguyễn Ngọc Liễn và Nguyễn Quyện. Họ kéo bại binh về Kim Bôi do Hoàng Đình Ái trấn thủ. Cả ba liệu không đủ sức chống lại đại quân của Mạc Kính Điển, họ rút về Yên Trường hội quân với Trịnh Tùng. Lúc nầy hai bên Lê – Mạc cân sức nhau. Trịnh Tùng được cử làm tiết chế quân đội cầm quân chống giặc. Một cuộc chiến đẫm máu lan rộng mà tổng số tham chiến cuả hai bên lên tới trên 10 vạn, đông hơn cả lần ở Kinh Bắc 1560. Không những ở Yên Trường, Lôi Dương, mà khói lửa lan tràn khắp Thanh Hoa suốt một nửa mùa thu sang một nửa mùa đông. Dọc theo sông Chu và sông Mã đều tanh mùi máu. Trận đánh lớn ở Bảo Lạc còn ngổn ngang thây người chưa kịp chôn. Trừ miền núi, lê dân Thanh Hoa xiêu tán khắp nơi. Đa số chạy về Nghệ An, để lại nơi phát tích nhà Lê một chiến trường trần trụi.

       Lúc nầy trời đã cuối năm. Tháng mười một, rừng miền tây chịu đựng cái lạnh căm căm từ thượng Lào thổi xuống. Hai bên đều phải lập lều trại chống giá rét. Quân nhà Lê đã quen địa thế dùng chiến thuật du kích tấn công quân nhà Mạc. Ngược lại nhà Mạc cũng không hề yếu khả năng nầy.  Mạc Kính Điển, Nguyễn Quyện và Nguyễn Ngọc Liễn cũng đã từng dày dạn đường rừng Hưng Hóa và Tuyên Quang. So ra quân nhà Mạc vẫn còn mạnh hơn, nhưng Mạc Kính Điển không muốn sa lầy. Ông hội các tướng, và một cuộc rút lui về cửa biển Ngọc Sơn mang theo hai hàng tướng Trịnh Cối và Lại Thế Mỹ. Qua 4 tháng đẫm máu, quân nhà Lê cũng không còn sức để kéo dài chiến tranh, nên cuộc rút lui của quân nhà Mạc an toàn. Trên thực tế, triều đình Lê và Mạc không thiệt hại chỉ có những cái chết của những người lính, người dân vô danh, và nỗi đau của Trịnh Cối. Ông về hàng nhà Mạc bị cho là kẻ phản bội. Không biết có ai hiểu được ông không?

       Mất Trịnh Cối, Trịnh Tùng nghiễm nhiên có được quyền vị của người cha để lại. Tuy nhiên chức danh có khác đi vì trên danh nghĩa vị tiền bối Lại Thế Vinh vẫn là thái tể.  Tháng giêng năm 1571 Trịnh Tùng được gia phong từ Phú Lương hầu thành Trường quốc công và giữ chức thái úy thống lĩnh quân đội. Các người em là Trịnh Đỗ, Trịnh Đồng và Trịnh Ninh cũng được phong hầu và được cầm quân. Trịnh Tùng chưa tới 22 tuổi, nhưng quả là người mưu lược. Trịnh Tùng cử Phùng Khắc Khoan đi làm một bàn tay xoa dịu đám dân xiêu tán rất thành công. Họ Trịnh biến sự ra đi nhục nhằn của người anh Trịnh Cối thành sự đầu hàng của kẻ bê tha phản bội rất hiệu quả. Bên cạnh đó, theo tài năng và lòng trung thành, ông đặt để từng người một ở vị trí thích hợp. Lê Cập Đệ có công dụ vua Lê Anh Tông tin lời nên nâng lên hàng quận công Thái phó. Tướng Nguyễn Cảnh Hoan tức Trịnh Mô được ông đưa đến Nghệ An để giúp tổng trấn Nguyễn Bá Quýnh tiểu trừ tàn quân của Mạc Đăng Lượng.

       So ra tài thao lược và dùng người, thì hậu duệ Trình Tùng hơn hẳn ông ngoại và cha. Từ vốn liếng ấy đến gian hùng chỉ bước qua một lằn tơ. Và, Trịnh Tùng đã buớc qua lằn tơ ấy một cách không nhợn chưn. Khi giao binh quyền cho Trịnh Tùng, thì vua Lê Anh Tông cũng giao những việc nội chính cho Lê Cập Đệ. Nếu Tùng có tước quốc công, thì Đệ có tước quận công. Thấp hơn một cấp, nhưng cũng là cánh tay đắc lực của nhà vua. Dù trước đây Cập Đệ đã ủng hộ Tùng, nhưng đang là nút chặn trên đường bá quyền của vị thái úy nầy. Lê Cập Đệ đã chết với cái án âm mưu làm phản trên lưng do Tùng đeo lên. Tùng đã xử Đệ như một cánh giang hồ. Tùng mời Đệ đến quân doanh của mình, và cho người giết đi rồi sau đó báo cho vua Lê Anh Tông biết. Đó là một ngày cuối tháng 11 năm nhâm thân 1572. Vua Lê Anh Tông vô cùng hoang mang trước thái độ tiền trảm hậu tấu của họ Trịnh. Nhà vua có cảm tưởng Trịnh Tùng vừa nói chuyện với mình về kết qủa của một cuộc đi săn. Mùi máu lạnh như ở trong xương của Tùng tiết ra. Điều nầy làm vua Anh Tông chợt run thầm, vì bản thân ông đã có dự mưu với Lê Cập Đệ kìm chế quyền lực của Trịnh Tùng. Sợ quá, trong một đêm tối trời sau đó, nhà vua bỏ trốn. Vua Lê Anh Tông và hoàng hậu được một đám cận thần đưa đi. Bốn hoàng tử lớn cũng được xuất thành trót lọt, duy hoàng tử nhỏ nhất không nhanh nhẹn nên bị kẹt lại. Đó là Lê Duy Đàm.

        Dĩ nhiên Trịnh Tùng biết nhà vua trốn đi, nhưng tất cả đều bình yên không ai bị rượt đuổi. Chờ cho gia đình nhà vua qua khỏi vùng đất khởi nghiệp Lôi Dương đến miền tây Nghệ An, Trịnh Tùng hội các tướng chọn vua mới. “Đất nước không thể để một ngày không vua” là luận điệu muôn thuở của kẻ phế lập. Lê Duy Đàm 7 tuổi được lên làm vua tức vua Lê Thế Tông. Ngày đăng quang của tân vương là ngày 1 tháng giêng năm qúy dậu 1573. Kinh thành Vạn Lại buồn hiu giữa một màu chì mùa đông. Vị ấu vương giao cho Trường quốc công Trịnh Tùng chức vụ mới: Tổng nội ngoại Bình chương quốc quân trọng sự, và ra lịnh phải đi mời hoàng đế Anh Tông trở lại giữ ngôi cửu ngũ. Vị tổng Bình chương họ Trịnh mau chóng tuân lệnh, nhưng vị cựu hoàng họ Lê vĩnh viễn ra đi. Vua Lê Anh Tông bị bọn tay sai của Trịnh Tùng phát hiện trong một đám ruộng mía khi đi lùng bắt. Trên đường rước về kinh đô Vạn Lại, nhà vua được cho rằng bị ốm nặng và qua đời.  Hôm ấy là ngày 22 tháng 1 năm 1573, sau 3 tuần đứa con út lên làm vua. Khó để nói không có bàn tay của Trịnh Tùng đối với cái chết của vua Lê Anh Tông. Nếu quả như thế, thì đây là lần phế lập và giết vua Lê đầu tiên của nhà Trịnh.

       Từ năm 1573 nầy quyền lực hoàn toàn nằm trong tay Trịnh Tùng. Trong tháng giêng, vị Bình chương quốc quân sửa đổi một số luật lệ. Dĩ nhiên là trên danh nghĩa của vua Lê Thế Tông. Theo đó lưỡng trấn Thuận – Quảng phải đóng thêm 400 cân bạc và 500 tấm lụa mỗi năm. Vị Đoan quốc công họ Nguyễn đã biết được quyền lực của đứa cháu mình như thế nào, nên bằng lòng tuân thủ. Đây gọi là thuế “tiễn dư” khác với loại thuế hằng năm trước đó mà Trịnh Kiểm thường du di tùy theo được hay mất mùa. Trịnh Tùng làm điều nầy để kiểm soát, và làm giảm tiềm lực phương nam mà ông đã “đánh hơi” thấy một điều gì đó. Họ Trịnh đã biết được người cậu mình đã âm thầm dời phủ trị từ Ái Tử về Trà Bát, một nơi dễ phòng thủ hơn. Họ Trịnh cũng biết được Nguyễn Hoàng đã thần thánh hóa chiến thắng Trảo Trảo (với Mạc Lập Bạo vào tháng 8 năm 1572) để thu phục nhân tâm. Đối với chúa Bầu ở Đại Đồng, Trịnh Tùng có một cách khác để kiểm soát. Lúc nầy Vũ Văn Mật đã chết, con là Vũ Công Kỷ lên thay. Nhân danh vua Lê, Tùng phong Kỷ làm thái phó và cho giữ chức hữu tướng quân. Vũ Công Kỷ bị giữ ở triều đình Vạn Lại làm một thứ con tin hơn là một vị tướng có thực quyền. Bên cạnh đó các chức vụ then chốt được giao cho các người em ruột của họ Trịnh và các thuộc tướng trung thành. Chỉnh đốn một bộ máy công quyền thuộc về mình, và Trịnh Tùng không chủ trương tấn công nhà Mạc. Ông giữ thế thủ trong nhiều năm liền để tăng cường sức mạnh. Từ năm 1573 đến 1580 quân Mạc đã có nhiều lần tấn công quân Lê – Trịnh, nhưng Trịnh Tùng không phản công.

      Năm canh thìn 1580 Trịnh Tùng thấy vóc dáng Nam triều đủ mạnh về quân sự và cả về xã hội, ông cho tổ chức thi hội. Đây là khoa thi hội đầu tiên từ lúc gián đoạn dưới thời vua Lê Cung Hoàng, trong lúc nhà Mạc vẫn đều đặn 3 năm một lần. Dù bị tụt hậu con đường khoa cử trong nửa thế kỷ, nhưng trong khóa thi nầy nhà Lê cũng có được hai bậc kỳ tài. Đó là Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Văn Giai.

      Cùng trong năm 1580 nầy, rường cột của nhà Mạc là Khiêm vương Mạc Kính Điển qua đời. Vua Mạc Mậu Hợp vừa tròn 20 tuổi, ông chọn ông chú út Mạc Đôn Nhượng lên thay làm thái tể phụ chính. Dù đương thời vẫn còn hai kiện tướng Nguyễn Ngọc Liễn và Nguyễn Quyện, nhưng nhà Mạc yếu dần. Mạc Đôn Nhượng là người không có tài, và vua Mạc Mậu Hợp sinh ra ăn chơi là nguyên nhân chính. Vua đã có hoàng hậu là con gái của tướng Nguyễn Quyện, nhưng như con chim sổ lồng tha hồ rong chơi. Không còn sức “kìm kẹp” của ông chú Mạc Kính Điển, vua Mạc Mậu Hợp quên luôn cả ở phía nam của mình có một kẻ thù. Lợi dụng tình hình nầy Trịnh Tùng đưa quân tấn công. Tháng 10 năm qúi mùi 1583 tấn công đông Sơn Nam, tháng giêng năm ất dậu 1585 tấn công tây Sơn Nam. Tháng giêng năm bính tuất 1586, Trịnh Tùng xua quân đến tận Sơn Tây. Cả ba lần đều cướp hết quân trang và thóc lúa tồn kho, mà nhà Mạc không làm gì được. Đến lúc nầy, khi được 25 tuổi, khi vừa có đứa con trai đầu lòng, khi thấy quân Trịnh tiến sát gần thủ đô, vua Mạc Mậu Hợp mới bắt đầu lo.

      Tháng 2 năm 1586 nhà vua cho đắp lũy từ sông Hát đến Hoa Đình. Đó là một lũy tre hào đất có thể che chở cho tây nam Sơn Tây đến đông nam kinh thành Đông Kinh. Từ đó, trong thành có vẻ an toàn, nhưng ngoài thành phía nam đến biên giới Thanh Hoa vẫn bị tấn công. Tháng 10 năm 1587 quân nhà Lê đánh Gia Viễn, Yên Hóa, Phụng Hóa. Tháng 11 năm 1588 đánh Trường Yên. Tháng 10 năm 1589 đánh từ Tam Điệp đến Hà Nam. Liên tiếp bị tấn công trong 10 năm như thế, ngoài việc xây hào lũy bảo vệ kinh thành, nhà Mạc không có một sự thành công nào. Tướng Nguyễn Ngọc Liễn và tướng Nguyễn Quyện bị trói tay bởi hệ thống quyền lực quân thần, mà vua Mạc Mậu Hợp và phụ chính Mạc Đôn Nhượng là những kẻ không có tài tiết chế quân đội. Đó là nguyên nhân đưa đến thất bại liên tiếp. Nếu Khiêm vương Mạc Kính Điển còn sống tình hình sẽ không chuyển biến như thế. Có lẽ nhà Mạc đã hết vận may.

      Vận bỉ của nhà Mạc lại đến một lần nữa vào tháng 9 năm tân mão 1591. Đó là lúc khả năng thao lược chiến trường của Trịnh Tùng đã già dặn. Mục tiêu của họ Trịnh là tấn công thành Đông Kinh, nhưng vị Bình chương tài ba nầy tạo hai cuộc nghi binh ở Phủ Lý và Đại Đồng. Ông sai các tùy tướng Nguyễn Thất Lý, Trịnh văn Hải đem thủy quân từ cửa sông Đáy tiến về Phủ Lý. Ở Đại Đồng, Tuyên Quang, chúa Bầu đời thứ ba là Vũ Đức Cung cũng được lịnh khuấy rối. Vua Mạc Mậu Hợp đã bị mắc lừa. Nhà vua sai hai vị tướng kỳ cựu Nguyễn Ngọc Liễn và Nguyễn Quyện đi dẹp loạn ở hai nơi nầy. Đó là lúc đại quân của Trịnh Tùng theo đường tây Sơn Nam tiến về Đông Kinh. Trịnh Tùng thân chinh chỉ huy 5 vạn quân, và có hai tướng Hoàng Đình Ái và Nguyễn Hữu Liêu đi theo. Mười ngày sau đến Ma Nghĩa, chỉ cách phủ trị Thạch Thất của thừa tuyên Sơn Tây 25 dặm về hướng nam. Suốt trên đường tiến quân không có lần kháng cự nào đáng kể, và Trịnh Tùng lập bản doanh ở Tốt Lâm. Địa danh nầy không xa Tốt Động trong trận tiến chiếm Đông Đô của 165 năm trước bao nhiêu. Lúc ấy Lê Lợi đánh nhau với Vương Thông, bây giờ Trịnh Tùng đánh nhau với Mạc Mậu Hợp.

      Chiến tranh chống xâm lăng ngày xưa và chiến tranh nội chiến bây giờ có khác nhau, nhưng máu đổ ra dường như vẫn thế. Từ Tốt Lâm, Trịnh Tùng chia thành 5 đạo quân tấn công về mặt tây kinh thành. Quân đội nhà Mạc cũng trên 5 vạn quân do vua Mạc Mậu Hợp tổng chỉ huy, với phụ chính Mạc Đôn Nhượng và tướng Mạc Kính Cung phụ tá. Nhà vua tin rằng khả năng mình có thể đuổi được quân Trịnh Tùng, nhưng không phải như thế. Chiến trường càng lúc càng đẫm máu. Quân nhà Lê đuổi quân nhà Mạc qua sông Hát, qua Cù Sơn chạy về Phấn Thượng (Tùng Thiện, Sơn Tây). Nơi nơi ngùn ngụt khói lửa, và quân của vua Mạc Mậu Hợp chết lên đến số ngàn. Lúc nầy tướng Nguyễn Ngọc Liễn và tướng Nguyễn Quyện từ chiến trường Đại Đồng và Phủ Lý mới kịp trở về. Họ đẩy lùi quân Lê ở Cao Kiều, sát tây nam phủ Phụng Thiên, Trịnh Tùng không tiến vào thành Đông Kinh được. Đó là những ngày cuối tháng 12 âm lịch, sát tết nhâm thìn 1592.

        Sự chận đứng của nhà Mạc không thể làm chùng chân Trịnh Tùng. Ông ta cho quân lính ăn tết ở phía tây ngoại thành, và lập đàn cáo báo với tổ tiên nhà Lê. Lòng trung kiên phò Lê lung linh hương khói của vị tư lịnh làm quân lính nức lòng chiến đấu. Những tiếng hô “phò Lê, diệt Mạc” theo những cánh tay giơ lên làm không ai còn thấy cái gía rét mùa đông. Nó lan ra tới ngoài dân chúng, và ngay trong quân đội nhà Mạc. Mang mang đâu đó ý niệm phù Lê, lấy thành trả về chủ cũ là điều hợp lý. Nó là thứ áp lực kinh người làm cho quân lính tướng sĩ nhà Mạc để dạ phòng ngờ lẫn nhau. Không biết ai trong huynh đệ sẽ có người bỏ ngũ theo giặc như đã từng. Sức chiến đấu của quân đội nhà Mạc xuống rất thấp. Đó là lúc quân nhà Lê tiến quân.

        Nếu cánh tiên phong của nhà Lê đã tới Cao Kiều, thì hậu tập đang trên bờ sông Đáy khúc Ninh Giang. Trịnh Tùng đẩy cái đuôi nầy theo chiều bắc, chiếm lấy khu vực núi Trầm. Lúc này quân nhà Lê như một cánh cung phía tây nam ôm lấy thủ đô Đông Kinh. Trịnh Tùng không bỏ mất thời gian, ngày 5 tháng giêng năm 1292, ông xua quân qua Thanh Oai tràn đến cầu Nhân Mục và đồi Xạ Đôi. Từ đó họ đổ quân dọc theo hai bên bờ Tô Lịch, đặt những chốt điểm ngay bên hông đồn binh nhà Mạc. Tình hình vô cùng rối loạn. Khói, máu, và di tản đã có mặt khắp phủ Phụng Thiên. Vua Mạc Mậu Hợp cũng phải ra đi. Hành dinh được dời qua Thổ Khối, bên kia bờ Nhị Hà. Chiến trường đương xảy ra trong lòng Đông Kinh. Trịnh Tùng tiến chiếm Hồng Mai và đặt bản doanh tại đây. Ông ra lịnh Hoàng Đình Ái và Trịnh Đồng dẹp sạch các ổ kháng cự từ Cầu Dền đến cửa Nam Giao. Trịnh Đỗ tiến chiếm phố Cầu Muống đến phố Cầu Gỗ. Nguyễn Hữu Liêu và Trịnh Ninh tiến đánh từ Cầu Dưa đến cửa Tây. Nếu không kể loạn 12 sứ quân đánh nhau ở thành Đại La từ thời nhà Đinh, thì đây là lần đầu tiên người Việt giết người Việt trên thủ đô của dân tộc mình.

       Tại hành dinh bờ bắc Nhị Hà vua Mạc Mậu Hợp điều thủy binh từ Vạn Kiếp, Hải Dương về đầy lòng sông. Họ yểm trợ cho bộ binh cố thủ thủ đô. Tây đạo Nguyễn Ngọc Liễn kéo về phía đông chống trả với quân Lê từ cửa Bảo Khánh đến đồn Nhật Chiêu. Nam đạo Nguyễn Quyện đẩy quân nhà Mạc từ Mạc Xá đến đông Gia Lâm. Đông đạo Bùi Văn Khuê chiến đấu từ cửa Cầu Dừa đến Thọ Xương. Từ tinh mơ sáng ngày 7 tháng giêng năm 1592 khói lửa mù trời bao phủ thủ đô. Dân chúng kéo nhau cố chạy khỏi lằn gươm giáo Lê, Mạc. Lúc nầy hai bên còn dùng cả súng bắn đá có vùng sát thương tới 30 thước. Đạn đá bắn ra được nhiều viên trong một lúc nên được gọi là súng “bách tử”. Từng con đường nhỏ, từng bờ tường đều có hai bên phục kích hoặc đối mặt cận chiến. Theo đúng lối tiến quân của Bình Định vương ngày xưa, Trịnh Tùng dùng cờ và trống làm hiệu lệnh rất có hiệu quả. Quân Lê tiến lên có hàng ngũ, trong khi quân Mạc khiếp sợ trong tiếng vang dội thúc quân của đối phương. Cánh đông Thọ Xương bị áp lực địch quá mạnh, Bùi Văn Khuê phải rút quân dựa vào thủy quân ở sông Hồng. Trịnh Tùng không đuổi theo mà đích thân ông xua quân tấn công vào cửa Cầu Dền. Nội thành bị uy hiếp, Nguyễn Quyện thốc quân từ Mạc Xá lên cản địch. Trận chiến ở đây vô cùng khốc liệt. Lính hai bên chết chồng lên nhau giữa tiếng hò reo mà bên nhà Lê đã chiếm phần ưu thế. Chiến trường diễn ra chỉ chừng một canh giờ giữa lúc trời đứng bóng mà hai bên đã chết lên tới cả ngàn người. Nguyễn Quyện đành thúc thủ dưới người chiến tướng họ Trịnh trẻ hơn ông đến 30 tuổi. Trên 70, tướng Nguyễn Quyện đã tả xung hữu đột đến lúc cạn kiệt sức lực. Ông bị bắt sau khi hai người con trai đi theo vừa tử thương.

      Bắt được tướng Nguyễn Quyện, nhưng quân nhà Lê đã hao hụt quá nửa. Liệu rằng không đủ quân số chiếm giữ vùng chiếm được, Trịnh Tùng lui binh. Ông hiểu rằng thủy quân của nhà Mạc còn nguyên vẹn, cọng với sức mạnh của lục quân tây đạo Nguyễn Ngọc Liễn chưa suy giảm. Trịnh Tùng rút quân về Thanh Hoa mang theo tù binh Nguyễn Quyện. Nếu lúc còn trẻ tướng Nguyễn Quyện đã từng theo cha ruột và cha vợ (Nguyễn Thiến và Lê Bá Ly) đi hàng nhà Lê, thì đến lúc già ông một lòng trung thành với nhà Mạc. Không biết bây giờ tướng Quyện đang nghĩ gì? Nước chăng? Nhà chăng? Tất cả đều ngoài tầm tay. Có lẽ trong giờ phút bi thảm nầy, ông nghĩ đến con đường Lê – Mạc ông đã đi qua, nghĩ đến những đứa con trai đã hy sinh, nghĩ đến hai con gái nhỏ nhoi còn lại. Đứa nhỏ: đương kim hoàng hậu vợ vua Mạc Mậu Hợp, đứa lớn: vợ của thuộc tướng Bùi Văn Khuê. Không biết trong cơn can qua nầy, hai đứa nó sẽ ra sao? Tướng Quyện miên man về một tình nhà, tình nước không trọn vẹn mãi tới khi về đến Thanh Hoa. Tại đây, Trịnh Tùng nhân danh nhà Lê chiêu dụ ông, nhưng ông chọn cái chết trong tù.

       Mùa xuân năm nhâm thìn 1592 trôi qua, kinh thành Đông Kinh lăn mình như một con bịnh trở dậy. Vua Mạc Mậu Hợp vẫn cho tổ chức thi hội theo định kỳ để giữ trạng thái bình thường. Phạm Hữu Năng và Nguyễn Hữu Đức cùng 15 người khác đỗ đồng tiến sĩ xuất thân trong năm nầy. Nhà vua cũng cắt cử hàng tướng lãnh đến nơi trấn nhậm mới cho thích hợp, trong đó có người anh cột chèo Bùi Văn Khuê được đưa đến Gia Viễn. Nơi đây trở thành tiền phương phương nam mà chỉ cần vói tay là tới biên giới không rạch ròi giữa Lê và Mạc. Nó là tuyến đầu lửa đạn khó thể giữ nổi khi bị tấn công. Điều nầy đã làm vị tướng họ Bùi nghĩ vua Mạc Mậu Hợp đưa mình đến chỗ chết. Tính toán hơn thiệt, ông sai người con trưởng là Bùi Văn Nguyên đến Thanh Hoa xin hàng. Dĩ nhiên là tiết chế Trịnh Tùng dè dặt chấp thuận. Ông sai Hoàng Đình Ái đem quân tướng tới Bái Đình tiếp nhận hàng binh. Mọi việc đều suôn sẻ, và một cuộc tấn công kinh thành Đông Kinh tiếp theo được thực hiện. Đó là ngày 28 tháng 8 năm 1592.

      Sau khi Bùi Văn Khuê đầu hàng, lãnh thổ nhà Mạc bị rút lại. Nho Quan, Gia Viễn, Đại Yên nay đã thuộc về nhà Lê. Phòng tuyến nhà Mạc cứ bị rút dần về bắc. Từ Thiên Phái rút về Ý Yên rút về Bình Lục chỉ trong mấy ngày đầu tháng 9 năm 1592. Đến ngày 4 tháng 11 đại bản doanh của tiết chế Trịnh Tùng đã có mặt ở bãi Tinh Thần thuộc Thanh Oai. Mười ngày sau một cuộc chạm trán khốc liệt ở cửa sông Hát với đoàn quân Tây Đạo của tướng Nguyễn Ngọc Liễn. Hai bên đều tận lực để chiến thắng, nhưng dần dần quân nhà Mạc xuống tinh thần. Đương thời nhà Mạc có 3 tướng cột trụ, nhưng một Nguyễn Quyện bị bắt, một Bùi Văn Khuê đầu hàng, đã kéo quân đội xuống dốc. Dù đem hết tài ba, tướng Nguyễn Ngọc Liễn cũng đành bất lực. Cả thủy và bộ binh Tây đạo đều bị đẩy lui dưới sức tấn công của quân tướng Trịnh Tùng. Tướng Nguyễn Ngọc Liễn không thể kéo quân về cứu thủ đô được, ông phải kịch chiến để dẫn tàn quân chạy bộ về Tam Đảo. Kinh thành Đông Kinh không còn lực lượng nào bảo vệ, chỉ còn sự di tản hỗn loạn. Các vương thân nhà Mạc bằng mọi phương tiện tìm cách ra đi. Người lên Kinh Bắc, người về Hải Dương, có kẻ chạy xa hơn, lên thuyền ra khơi vào nam. Trong hành trình di tản ấy kéo theo bao cuộc đời trôi giạt.

Tân vương Mạc lên ngôi hai tuổi
Tây biên cương bị mất nửa chừng
Không vì ở xứ đồng Chum ấy
Mà tự Lê triều Lê trung hưng

Quân Lê Trịnh xua quân tây bắc
Chiếm Nậm Giôn, Sập Vạt, Hồng Ngài
Bên lòng nước đục Đà Giang ấy
Lãnh thổ bên nào đã một mai?

Tự độ ấy Sơn Nam cũng đổi
Cõi mịt mờ mạnh được yếu thua
Trường Yên, Gia Viễn bao lần mất
Lê thứ muôn dân tựa cỏ lùa

Loạn biên bắc, biên nam không loạn
Mà trấn công đất Quảng đâu rồi
Trăm năm núi đất còn y đó
Người biệt nơi nào cõi nổi trôi

Nguyễn Bá Quýnh vào nam trấn Quảng
Tướng Nguyễn Hoàng ra bắc lai kinh
Nào ai biết được đời dâu bể
Một bước lăn qua giấc chuyển mình

Tướng Trịnh Kiểm nặng tình huynh đệ
Xin vua Lê cho Nguyễn thênh thang
Trăng treo trên đỉnh thành Vạn Lại
Rọi suốt nhân gian dạ đá vàng

Từ dạo ấy hai đàng Trịnh Nguyễn
Nước liền non mà đã phân ly
Trịnh Kiểm già nua cơn hấp hối
Mai sau nào biết những chuyện gì

Tướng Trịnh Cối thay cha tiết chế
Phò vua Lê như đã chính chuyên
Tiếc rằng cuộc thế ưa diễu cợt
Có kẻ tranh hơn muốn đoạt quyền

Nào có ngỡ em thơ tuổi nhỏ
Đã bao khôn mà lại gian hùng
Lừa vua hiểu lệch tâm huynh trưởng
Vạn Lại mơ hồ trung bất trung

Hầu Trịnh Tùng vừa tròn mười chín
Treo nước non trên đỉnh lung lay
Treo luôn nhân nghĩa lên tơ nhện
Muốn giết người anh giữa độ này

Buổi chiến địa trở thành hoang mạc
Giữa đệ huynh ai tỉnh ai say
Trịnh Tùng tỉnh trí say quyền lực
Cối tỉnh nhân tâm khó giải bày

Hàng nhà Mạc cơn đau đứt ruột
Nói sao cùng: tôi, tướng, trưởng huynh
Khó mà để chết thành danh tướng
Đời trách chi không một huống tình?

Từ độ ấy không còn Trịnh Cối
Biệt nơi nao xứ Mạc xa nhà
Trịnh Tùng hầu tước lên công tước
Tiết chế trong ngoài nối nghiệp cha

Quả buổi ấy Trịnh Tùng đã xứng
Tài hơn cha hơn ngoại Nguyễn Kim
Phò vua không phải thờ vua nữa
Tâm ấy nhân gian cũng khó tìm
Trải qua những đôi đời vua trước
Đời thứ ba vua cũng khiêm tài
Trịnh Tùng gom hết triều văn võ
Ai đã phò ai ai giết ai?

Giết Cập Đệ mùa đông lạnh giá
Gió kinh thành hiu hắt tang ma
Vua Lê sợ hãi chiều tây Nghệ
Ruộng mía không che nắng xế tà

Sa tay Trịnh chết thầm đất thánh
Như cỏ cây vô tích vô danh
Đường về Vạn Lại xanh mộ chí
Con út lên thay tiếp vận hành

Từ độ ấy triều nam thay đổi
Quyền vua Lê hạn hẹp hơn xưa
Đã từng hư vị bao đời trước
Ngồi để vui chơi quả có thừa

Vua Duy Đàm vừa tròn bảy tuổi
Tặng Trịnh Tùng thêm chức bình chương
Quốc quân trọng sự đều tự duyệt
Hậu tấu cô vương chuyện lẽ thường

Kìm Quảng Thuận lịnh rằng nộp thuế
Gọi “tiễn dư” là thuế chi chi
Nguyễn Hoàng cau mặt nhường đứa cháu
Buổi ấy vua Lê chửa biết gì

Kìm họ Vũ Đại Đồng cách khác
Gọi triệu về hữu tướng trao cho
Vua Lê ngơ ngẩn làm sao hiểu
Tướng vị, con tin: chỉ một trò
Hay là thế mà không đối Mạc
Mấy đông sang mấy độ yên bình
Mười năm đã hết ngày chinh chiến
Nho văn thơ phú cũng hồi sinh

Phùng Khắc Khoan sân Trình đỗ đạt
Nguyễn Văn Giai cùng độ canh thìn (1580)
Lều chõng trời nam giăng trở lại
Đằng đẳng bao mùa mãi biệt tin

Cùng mùa ấy bắc phương họ Mạc
Một tin buồn vang vọng khắp nơi
Khiêm vương Kính Điển không còn nữa
Đôn Nhượng lên thay gánh đất trời

Ông chú nhỏ khiêm tài quyền lớn
Dạ thờ vua rất đỗi trung trinh
Tiếc rằng giữa thế cờ nam bắc
Tình ấy không thay được tình hình

Giặc đã đến Hà Nam, Thạch Thất
Những nơi nao bao lượt bao lần
Lũy hào ai đắp từ sông Hát
Ngăn được quân thù giẫm bước chân?

Rồi thu tới như mùa thu trước
Tưởng như xưa giặc đến lại về
Nào hay chiến trận lên như gió
Chiến trường đẫm máu suốt phương quê

Giặc Nam đến tràn về Phủ Lý
Bắc Tuyên Quang, Bầu chúa nổi lên
Diện nầy cứ tưởng như là điểm
Đôn Nhượng điều quân quả gập ghềnh
Xứ Phủ Lý ràng chân Nguyễn Quyện
Miền Đại Đồng, Ngọc Liễn vướng tay
Đố ai cứu kịp kinh thành Mạc
Để khỏi sa cơ ở độ này

Phủ Phụng Thiên ỷ vào lũy cố
Mà Đông Kinh sớm đã mịt mờ
Tốt Lâm quân Trịnh xua quân tiến
Kẻ Chợ như là đã xác xơ

Tướng Nguyễn Quyện trở về kịp lúc
Hạ chúa Bầu tướng Liễn về sau
Tiếc rằng cuộc diện như đà trễ
Nguyên đán năm nao chuốc hận này?

Mạc thúc thủ vua dời Thổ Khối
Nam Nhị Hà, Nguyễn Quyện ra sao
Chân đồi Mạc Xá trêu danh tướng
Hàng Trịnh, ai hay có lẽ nào?

Dù chiến thắng nhưng không giữ nổi
Tướng Trịnh Tùng rút lại Thiên Quan
Đông Kinh máu chảy tràn Lê Mạc
Đất cũng chưa yên dạ bàng hoàng

Tướng Nguyễn Quyện sang trang số phận
Chết ngục tù không chịu hàng Lê
Đã từng buổi trước theo gia phụ
Mà nặng nghĩa ân chọn chốn về

Từ độ ấy Văn Khuê, Mậu Hợp
Bỏ đệ huynh, bỏ nghĩa quân thần
Vực Vông không nói điều chân giả
Phò phụ nơi nào biết giả chân?

Bùi Văn Khuê hàng Lê mùa hạ
Mùa sang thu họ Trịnh tấn công
Nước nhà xứ Mạc thêm lần nữa
Khói dậy nơi nơi cháy bập bồng

Cháy Thiên Phái, Ý Yên, Bình Lục
Lửa cuồng cuồng đổ tới Thanh Oai
Chiến trường ồ ạt về sông Đáy
Máu thấm lan qua tận xứ Đoài

Tướng tây đạo Mạc triều Ngọc Liễn
Tả phương đông hữu tại phương tây
Xông pha trận mạc từng trăm trận
Mà phải thu quân ở trận nầy

Không cứu nổi kinh thành nhà Mạc
Vua Mạc triều phải lánh Hải Dương
Non xanh Tam Đảo quân Ngọc Liễn
Vua tướng hai nơi biệt hai đường

Tướng họ Trịnh về thành lần nữa
Ép Mạc hoàng tan tác tang thương
Ai về Kinh Bắc ai Thuận – Quảng
Lưu Lạc trăm năm mấy nẻo đường


<<  |  >>