Skip to content

Chương 20/5

NHÀ MẠC
(1527 – 1592)

Đoạn năm

HAI KINH THÀNH, HAI TRẬN CHIẾN

      Sau trận Sơn Tây, vị nhiếp chính vương triều nhà Mạc Mạc Kính Điển trở nên đăm chiêu. Không những ông quan ngại tình hình nhà Lê phương nam, mà còn nghi ngờ Gia Tĩnh đế phương bắc. Bọn đế quyền nhà Minh có thể nhúng tay vào Đại Việt bất cứ lúc nào. Cuối năm 1552 các cánh quân ở Bắc Giang và Tuyên Quang được tăng cường, đề phòng quân nhà Minh lợi dụng tình hình xua quân bất ngờ. Chuyện nầy có thể xảy ra khi nhà Minh muốn chèn thêm một yêu sách, hoặc đã bắt tay với nhà Lê. Ở mặt tây, tướng Nguyễn Hữu Mệnh, người con trưởng của Nguyễn Kính, được lịnh tái lập đạo quân Tây đạo. Phòng tuyến Yên Mô – Thần Phù ở mặt nam và đông nam cũng được tăng cường. Nguyễn Ngọc Liễn lúc nầy đã trở thành phò mã, và đến trấn thủ phòng tuyến nầy. Riêng ở kinh thành lão tướng Nguyễn Kính đã tận lực giúp Khiêm vương Mạc Kính Điển trong việc bảo vệ triều đình.

       Nếu nhà Mạc nặng về mặt phòng thủ, thì nhà Lê có vẻ dàn trải ra hơn. Bên cạnh một kinh đô Vạn Lại, đầu năm 1554 thái tể Trịnh Kiểm cho lập một quân doanh lớn ở Biện Thượng. Nó là bộ chỉ huy tiền phương đông bắc, nhưng chính là nơi tiết chế mọi chiến trường. Thái sư Trịnh Kiểm thường xuyên có mặt ở đây. Lúc nầy ông đã thu dụng những thuộc tướng trẻ giúp sức. Ngoài những người cùng quê như Trịnh Quang, Tống Phước Trị, Lê Chủng, Vũ Sư Thước, còn có Lại Thế Mỹ và Lại Thế Khanh. Tất cả 6 người họ đều là bạn bè của Tuấn Đức hầu Trịnh Cối. Các hàng tướng từ nhà Mạc cũng được cắt cử đi các nơi. Tháng 5 năm 1554 Tống Phước Trị được lịnh mang 5 ngàn quân vào Thuận Hóa giúp Phạm Đốc kết thúc cuộc chiến. Chiến dịch hè – thu tại đây đã đẩy lùi quân của tổng trấn Hoàng Bôi. Ông nầy và các bại tướng Mạc Đăng Lượng, Phạm Đức Trung từ Nghệ An chạy đến phải chạy ngược về miền núi. Không hiểu số phận của họ ra sao, nhưng từ mùa thu năm 1554 nầy nhà Lê kiểm soát hầu hết phần duyên hải và trung du. Thái sư Trịnh Kiểm rút Phạm Đốc về Biện Thượng, và cho Tống Phước Trị trông coi xứ Thuận Hóa. Ngoài ra, để bồi đắp cho một chính quyền danh chính phát triển,  Trịnh Kiểm cũng giúp vua Trung Tông để ý về mặt văn hóa. Tháng 8 năm 1554, nhà vua mở khoa thi chế khoa để tìm những bậc nho học có tài.  Đinh Bạt Tụy và Chu Quang Trứ là hai người đỗ đầu của hai bậc đệ nhất và đệ nhị chế khoa xuất thân trong dịp nầy.

     Mất Thuận Hóa, nhà Mạc đánh trả một nơi khác. Họ tấn công Thanh Hoa. Tháng 8 năm 1555 Khiêm vương Mạc Kính Điển dẫn gần 100 chiến thuyền tiến về phương nam. Đoàn quân nầy chia hai, một nửa cập cửa Thần Phù theo sông Lèn tấn công bắc Biện Thượng. Nửa thứ hai cập cửa sông Mã tấn công phía nam quân doanh nầy. Thái sư Trịnh Kiểm cùng tướng Phạm Đốc trực tiếp chỉ huy hai mặt để chống nhà Mạc. Họ dùng hầu hết hàng tướng trong cuộc phản công. Lê Bá Ly, Nguyễn Thiến theo Trịnh Kiểm ở mặt bắc. Nguyễn Khải Khang, Lê Khắc Thận, Nguyễn Quyện theo Phạm Đốc ở mặt nam. Dù doanh quân Biện Thượng mới thành lập, nhưng quan trọng nên vô cùng kiên cố. Không những họ đủ sức phòng thủ mà còn tiến quân đánh trả. Quân Mạc dần dần yếu thế. Mạc Kính Điển không phải là người thiếu mưu cơ, nhưng nóng lòng khi mất Thuận Hóa nên đã sai lầm. Trận chiến mau kết thúc khi một vạn quân chiến đấu với một vạn quân, mà bên tấn công không rành địa thế. Chỉ trong một ngày quân Mạc thất bại. Một nửa quân số chạy được ra cửa biển về bắc, số còn lại tan tác ở Yên Định và Đông Sơn.

        Chiến trường liên tiếp thắng lớn và lãnh thổ được nới rộng, nhưng tháng 1 năm 1556 vua Lê Trung Tông lại mất. Ông bị đột tử khi vừa tròn 22 tuổi, và không có con kế tự. Thái sư Trịnh Kiểm và các đại thần chọn người thân tộc gần nhất với tiên đế lên ngôi. Đó là Lê Duy Bang, tức vua Lê Anh Tông, cháu 5 đời của người anh ruột vua Lê Thái Tổ. Vua Lê Anh Tông là người khai sinh ra nhánh khác, nhưng không có gì thay đổi. Chống Mạc vẫn là quốc sách. Tháng 7 năm 1557 có cuộc kịch chiến ở miền đông bắc Thanh Hoa là cuộc chiến đầu tiên trong triều đại của ông. Lần nầy Khiêm vương Mạc Kính Điển chỉ dồn quân vào cửa Thần Phù tấn công Nga Sơn, Tống Sơn và Yên Mô. Những cứ điểm nầy không quan trọng như Biện Thượng, nhưng quân Mạc vẫn không thắng. Quả Trịnh Kiểm là người có tài điều binh. Ông đánh bức Mạc Kính Điển phải thu quân chỉ trong vòng hai ngày. Ở trận chiến nầy thái sư Trịnh Kiểm không dùng một hàng tướng nào, nhưng hai người trong bọn họ lại chết. Lê Bá Ly chết trước và Nguyễn Thiến chết sau, cùng trong tháng 8 năm 1557. Cái chết của hai vị hàng tướng lão thành không ai giải thích tại sao, nhưng liền sau đó thì Nguyễn Quyện và Nguyễn Phủ đưa gia đình trốn trở về Mạc. Thật khó để giải thích sự ra đi rồi trở về của tướng Nguyễn Quyện. Có thể nào lúc ra đi vì lòng hiếu thảo với người cha, lúc trở về mới là tâm nguyện của vị võ tướng nầy?

      Khi hai vị tướng trẻ họ Nguyễn trở về nhà Mạc, lập tức Thái tể Trịnh Kiểm gọi tướng Phạm Đốc mới vừa đến Nghệ An về trở lại quân doanh Biện Thượng. Họ bàn nên khởi chiến ngay trong lúc nhà Mạc chưa dám tin dùng anh em Nguyễn Quyện. Tháng 9 năm 1557, hai vị phụ tử Trịnh – Phạm mang cả vạn quân tràn qua Sơn Nam. Họ tiến quân như chỗ không người, quân Mạc rút chạy từ sông Vạc qua sông Đáy qua sông Phụng Xí (Ninh Cơ). Tại đây mới gặp sự kháng cự của quân nhà Mạc. Khiêm vương Mạc Kính Điển trực tiếp điều binh đến chiến trường, ông mang theo cả vị tướng vừa trở về Nguyễn Quyện. Nhiều lần Nguyễn Quyện đã áp đảo được đối phương, nhưng không hẳn thành công. Chiến trường kéo dài từ tháng 10 năm 1557 đến tháng 9 năm 1558, và quân Mạc thất bại vì phải chia quân về Đại Đồng. Chiếm được một phần duyên hải Sơn Nam, nhưng tướng Phạm Đốc của nhà Lê đột ngột qua đời. Thái sư Trịnh Kiểm giao lại vùng mới chiếm được cho Nguyễn Khải Khang trấn giữ. Vị hàng tướng nầy (từ Mạc về Lê) bị quân Mạc phản công chiếm lại vùng đất đã mất. Ông Khang bị bắt giải về Đông Kinh chịu hình phạt của một kẻ phản bội. Mọi việc trở lại như cũ, chỉ có quân lính và thường dân phải chịu chết.

        Cùng từ nhà Mạc hàng nhà Lê, nhưng mỗi người mỗi số phận. Nguyễn Thiến và Lê Bá Ly chết già (?) ở nơi mình chấp nhận sau cùng. Nguyễn Quyện và Nguyễn Phủ trở về lại nhà Mạc chưa biết số phận ra sao. Họ đều là học trò của Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm, hy vọng sẽ được nhà Mạc đối đãi tử tế trở lại. Số phận của Nguyễn Khải Khang không được may mắn, nhưng một người khác thì thành công ở đất nhà Lê. Đó là Phùng Khắc Khoan. Ông Khoan không theo nghiệp võ. Ông có tài văn chương và đỗ đầu hương cống ở trường thi Yên Định vào tháng 4 năm 1558. Nếu không tính lần thi hội chế khoa năm 1554, thì khóa thi hương nầy là lần đầu tiên mang sắc thái văn học của thời Lê trung hưng. Tuy mới đỗ hương cống, nhưng họ Phùng là người có tài được Lê Anh Tông trọng dụng. Ông giữ chức ký lục trong dinh, được vua Lê Anh Tông và thái tể Trịnh Kiểm tin dùng.

      Những sự việc đi hay về của những người Lê – Mạc trong thập niên 50 (1550) rồi cũng vào quên lãng, nhưng có một việc khác thì đời sau không mấy ai quên nó. Đó là sự ra đi của Hạ Khê hầu Nguyễn Hoàng. Tháng 10 năm 1558, thái sư Trịnh Kiểm xin vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, và nhà vua chấp thuận. Nguyễn Hoàng ra đi mang theo gia đình một vợ và hai con trai còn nhỏ cùng một số người thân thiết với ông. Họ gồm cả gia đình người cậu ruột Nguyễn Ư Kỷ, gia đình người anh em đồng hao Mạc Cảnh Huống, quân lính bản bộ, và hơn ngàn đồng bào ở Gia Miêu. Đến Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng được Tống Phước Trị đón rước ở Ái Tử, nơi mà họ Tống đã đặt làm phủ trị. Sự ra đi nầy khởi nguồn cho cuộc phân tranh Trịnh Nguyễn về sau, nhưng suốt cuộc đời Trịnh Kiểm chưa hề coi anh em Nguyễn Hoàng là thù địch*

      Đưa người em vợ vào trấn thủ Thuận Hóa, thái tể Trịnh Kiểm yên lòng hơn giao cho Tống Phước Trị. Tháng 9 năm kỷ mùi 1559 ông tiến hành bắc tiến. Sau khi cử Lại Thế Khanh, Vũ Sư Thước trấn giữ mặt biển, Trịnh Quang và Lê Chủng giữ nội địa, Trịnh Kiểm thân hành cầm quân. Trịnh Cối đã được phong tước Tuấn Đức hầu và được đi theo cha. Trịnh Tùng cũng được phong tước Phú Lương hầu, nhưng mới 9 tuổi nên ở nhà với mẹ. Từ Biện Thượng, 4 vạn quân tiến về Nga Sơn. Theo chiến thuật, họ sẽ chia làm 3 cánh tại đây, và mục tiêu tấn công là Phủ Lý. Chiếm được Phủ Lý, tùy theo tình hình sẽ tiến về kinh thành Đông Kinh. Rất tiếc những tính toán của Trịnh Kiểm đã bị chận đứng ngay tại Yên Mô. Quân phòng tuyến Yên Mô – Thần Phù của nhà Mạc đã có mặt. Tướng tiên phong Đinh Công của Trịnh Kiểm qua hơn một canh giờ không xé được phòng tuyến. Kế hoạch phải thay đổi. Thay vì Phủ Lý, đại quân của họ Trịnh tiến về Sơn Tây. Họ phải đi qua những đoạn đường khúc khuỷu Lạc Thủy, Yên Thủy miền đông nam Hưng Hóa. Trong thời gian đó, nhà Mạc gấp rút chuyển quân miền bắc về thủ đô.

      Khi chưa đến được Sơn Tây thì quân nhà Lê phải chiến đấu liên tục với các đạo quân địa phương nhà Mạc. Dù quân Trịnh Kiểm đã thiệt hại lên đến số ngàn, nhưng quân nhà Mạc ở các địa phương nầy không cản được bước chân họ Trịnh. Dần dần chiến trường di chuyển về phía bắc, cuộc kịch chiến ở Sơn Tây cũng phải đến. Hai lão tướng trên dưới 60 của hai nhà Lê, Mạc gặp nhau. Đây là kỳ phùng địch thủ mà tướng Nguyễn Kính phải bảo vệ nhà Mạc, và tướng Trịnh Kiểm phục hồi nhà Lê. Lý tưởng nào cũng chính đáng chỉ còn đem sức mạnh ra so bằng mà thôi. Nếu Trịnh Kiểm có Phạm Đốc, Hoàng Đình Ái, thì Nguyễn Kính có Nguyễn Phủ, Nguyễn Quyện vừa trở về. Cuộc chiến diễn ra ròng rã một mùa đông kỷ mùi 1559. Bờ nam sông Hồng đầy máu của hai bên qua hai tài điều quân của hai tướng lãnh giàu kinh nghiệm. Tiến, lui, nghi binh, đột kích, tấn công để cuối cùng Trịnh Kiểm chỉ chiếm được phủ trị Thạch Thất, nhưng không thể nào tiến xa hơn về hướng đông. Thấy rằng không thể qua cửa ải Sơn Tây được, Trịnh Kiểm quyết định thay đổi chiến thuật. Với sự tiếp tay của chúa Bầu Vũ Văn Mật bên kia sông, tướng họ Trịnh cho tiến hành vượt bắc qua sông Hồng. Họ chiến đấu kịch liệt để cuối cùng chiếm được một phần nhỏ của các đạo Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Kinh Bắc. Nó tạo thành một rẻo dài ở bờ bắc sông Hồng và bờ tây của sông Đuống. Giữa tháng hai năm 1560, quân nhà Lê đã có bản doanh ở 4 địa danh nầy và đương mở rộng địa bàn. Lực lượng nhà Mạc ở các nơi nầy không chống cự nổi, vì quân chính qui đã rút về bảo vệ kinh thành.

      Được đà, mùa hạ năm 1560, Trịnh Kiểm xua quân vượt sông Đuống tiến chiếm vùng đông Kinh Bắc, và Hoàng Đình Ái đã đi xa hơn đến Lạng Sơn. Họ củng cố những vùng vừa chiếm được sinh ra những cuộc đọ sức mà quân nhà Lê cứ trên đà thắng thế. Tính đến thời điểm một năm sau, tháng 4 năm 1561, binh tướng nhà Lê đã có mặt trên phần lớn lãnh thổ nhà Mạc. Trừ 3 thừa tuyên Sơn Tây, Sơn Nam, Hải Dương và Phủ Phụng Thiên, 6 thừa tuyên còn lại đều có quân đội nhà Lê. Đó là Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Kinh Bắc, Lạng Sơn, Yên Bang. Trịnh Kiểm lập đại bản doanh tại Tiên Du, Kinh Bắc và chuyển dịch những đơn vị quân đội trong các xứ. Với lực lượng khoảng 2 vạn quân còn lại phải trải đều trên một diện tích chiếm được quá rộng, vô tình quân đội nhà Lê trở thành thế thủ. Quân nhà Lê đã đi quá sâu trong lúc binh lực không đủ, đó là sai lầm của Trịnh Kiểm. Lúc nầy quân đội nhà Mạc tập trung về dọc hai bên bờ sông Hồng. Họ phản công. Một cuộc tấn kích Tiên Du được khai diễn.

      Lần nầy, bên nhà Mạc, cũng do lão tướng Nguyễn Kính chỉ huy với hai thuộc tướng Nguyễn Quyện và Nguyễn Phủ. Nếu ở Sơn Tây năm 1559 nhà Mạc ở thế thủ, thì trong tháng 4 năm 1561 nầy họ đương ở thế công. Doanh trại Tiên Du của Trịnh Kiểm còn rất sơ sài. Nó là một thành cổ của sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp từ rất xa xưa với những đồi thấp và hào rảnh thiên nhiên phòng ngự. Trịnh Kiểm phải gọi các đơn vị ở Yên Bang và Thái Nguyên về tiếp ứng. Hai bên cầm cự đến nửa tháng trong tình trạng ngang ngửa không bên nào thủ thắng. Trong lúc chiến sự còn giằng co, thì họ Trịnh mới hay rằng Thanh Hoa bị tấn công. Trịnh Kiểm gấp rút thu quân kéo về nam trong tình trạng chớm sa lầy. Riêng cánh quân của Hoàng Đình Ái ở Lạng Sơn không liên lạc kịp.

      Trong lúc quân Lê say chiến thắng ở đất bắc, thì thủy bộ binh nhà Mạc đã tách bến sông Hồng từ nhiều ngày trước. Họ tấn công Thanh Hoa do đích thân Khiêm vương Mạc Kính Điển chỉ huy. Họ phối hợp với lực lượng của tướng Nguyễn Ngọc Liễn ở Thần Phù nâng quân số lên tới hai vạn người. Đây là những đội quân tinh nhuệ đã được huấn luyện. Theo đường thủy họ lên thuyền về hướng nam và tấp vào bờ giữa cửa sông Yên và cửa sông Mã. Quá nửa đêm, biển và bờ mênh mông như nhau. Một cuộc đổ bộ im lặng đến nỗi người ta chỉ nghe được tiếng thì thầm cuả sóng. Họ đi sâu vào đất liền dưới những vì sao xa tít. Ở một góc trời vành trăng hạ huyền như chiếc lưỡi liềm đang nghiêng lưng xuống. Đêm gần sáng. Lúc này thủy quân của nhà Lê ở cửa sông Yên mới hay. Một cuộc đụng độ thần tốc xảy ra. Nó nhanh đến nỗi quân nhà Lê không có đủ thì giờ bắn lên những tín hiệu cầu cứu. Hơn một ngàn quân đồn trú đều bị bắt hay bị giết. Tướng Lê Chủng chỉ huy ở đây đã bị chết trong lúc nầy. Khiêm vương Mạc Kính Điển cho nghỉ ngơi và bố trí phòng thủ doanh trại mới vừa chiếm được. Trời vừa rạng đông, người ta có thể nhìn thấy những cánh đồng hoang sơ còn ẩm sương. Khi mặt trời nhô lên ở góc biển bên trái, bình minh mênh mang kéo dài. Mục tiêu Vạn Lại, Trường Yên được xác định.

      Cắt cử một đơn vị ở lại doanh trại vừa chiếm được, Khiêm vương Mạc Kính Điển ban lịnh tiến quân. Theo độ lệch 15 tây bắc, đại quân nhà Mạc trực chỉ. Dân cư thưa thớt đến độ như chẳng có người. Khi đến gần trưa, họ đi qua một vùng khô cằn mà xa xa về cánh tay trái có dãy núi Nưa hiện lên, nơi có huyền thoại quân của bà Triệu luyện binh ngày xưa. Lúc nầy họ mới gặp những kháng cự đầu tiên của nhà Lê. Tổng trấn Trịnh Quang điều động binh mã cản đường tiến quân của nhà Mạc. Lại Thế Khanh, Vũ Sư Thước đều có mặt, nhưng không thể thay đổi tình hình. Quân Lê quá yếu phải chạy về Vạn Lại. Một cuộc tiến quân thần tốc của tướng Mạc Kính Điển về kinh thành Yên Trường để chiếm thành Vạn Lại được thực hiện. Quân nhà Mạc tưởng chừng một ngày sẽ phá được thành, nhưng không phải như thế. Quả cái nhìn của Trịnh Kiểm 15 năm trước rất chính xác. Dù quân số nhà Lê ít hơn, nhưng họ đã giữ được thành Vạn Lại đến hơn 10 ngày. Tuy nhiên sẽ không tốt, nếu phải chịu đựng gấp đôi thời gian nầy. Một kế hoạch đưa vua Lê Anh Tông, các hoàng tử đi ẩn náu được âm thầm tiến hành. Họ đưa nhà vua đến sách Thủy Đà an toàn. Trong chuyến lánh nạn nầy có hai mẹ con bà Nguyễn thị Ngọc Bảo, Trịnh Tùng.

      Hay tin vua Lê Anh Tông đã trốn thoát và không thể thành công chớp nhoáng, Mạc Kính Điển đổi kế hoạch. Một cuộc rút lui về sông Yên. Họ an toàn lên thuyền về đất bắc, trong khi hầu hết quân Trịnh Kiểm chật vật theo đường bộ Đà Giang – Thiên Quan về phương nam. Cả hai vua Lê, Mạc đều qua một cơn hoảng hốt. Vua Lê Anh Tông trở lại hành điện Vạn Lại chiêu đãi quân binh, và thăng thưởng những người có công. vua Mạc Phúc Nguyên không rời kinh sư như vua Lê Anh Tông, nhưng lại ra đi vĩnh viễn. Hơn một năm chiến loạn nhà vua vẫn bình yên, nhưng khi tàn cuộc chiến ông lại qua đời. Cơn đau kéo dài trong những ngày cuối đông, và sang đầu tháng giêng năm 1562, ông băng hà.  Đứa con duy nhất mới 2 tuổi được đưa lên ngôi. Đó là Mạc Mậu Hợp.

Phận đã định oan khiên Lê, Mạc
Chiến tranh nầy không thể bỏ qua
Chính danh, lãnh thổ, ngôi vua ấy
Giẫm nát nhân tâm nát sơn hà

Mạc Kính Điển, Khiêm vương đất Bắc
Đeo gian nan mà giữ triều đình
Điều quân tây tướng, điều đông tướng
Lệnh truyền trao qua suốt chiến chinh

Dài mấy đổi giằng co buổi ấy
Bắc nam ơi hai cõi mịt mờ
Đông Kinh, Vạn Lại lần trang sử
Dân Việt như về cõi cổ sơ

Chuẩn thế trận nam triều chiêu tướng
Nào Thế Khanh, Tống Trị, Trịnh Quang
Ai là Lê Chủng, ai Vũ Thước
Họ Trịnh chiêu quân trướng Lê hoàng

Tướng Trịnh Kiểm độ tròn ngũ thập
Con hai dòng, Trịnh Cối trưởng huynh
Trịnh Tùng buổi ấy còn nhỏ lắm
Quân tướng nào đâu đến phận mình

Bình Thuận Hóa tướng quân Phạm Đốc
Cuộc chinh nam dai dẳng chưa thành
Chờ khi Tống Trị đưa quân tới
Chiến trận thu dần góc chiến tranh

Thắng Thuận Hóa nhà Lê thế mạnh
Mà vua Lê đột tử bất ngờ
Đôi mươi tuổi trẻ chưa thê tử
Triều thần bỗng chốc hóa ngẩn ngơ

Chọn vua mới thân vương mấy kẻ
Dòng chánh danh hậu duệ không còn
Duy Bang tôn tử Trừ khảo tổ
Gánh lấy ngai vàng giữa nước non

Từ độ ấy hai triều nam bắc
Nhân lên thêm nhiêu nhưỡng không cùng
Ai về xứ bắc hoài ân nghĩa
Kẻ đến trời nam nhớ lao lung

Nếu Nguyễn Quyện trở về xứ Mạc
Thì Nguyễn Hoàng nhón gót chân riêng
“Hoành Sơn nhất đái” dung kẻ khó
Bá nghiệp trông xa mấy cõi miền

Chuyện sẽ đến nào ai đã biết
Buổi đương thì Trịnh Kiểm xua quân
Nga Sơn đường bắc mơ Phủ Lý
Há giấc Đông Kinh lại ngập ngừng

Quân đi trước Yên Mô đã tới
Mà quanh co không thắng Mạc triều
Đường lên Lạc Thủy lên Yên Thủy
Hưng Hóa sương chiều bước liêu xiêu

Chừng mấy độ xông pha nam bắc
Quân nhà Lê cũng tới Sơn Tây
Sông Hồng bỗng nóng hồn chinh chiến
Phù Mạc phù Lê chuyển gió nầy

Sóng kinh thành Đông Kinh sôi bỏng
Khói Quốc Oai rợp bóng kình thù
Sáu mươi năm chẵn chưa từng gặp
So kiếm, ơ hờ tiếc lắm ru

Giang hồ một thuở từng nghe tiếng
Kính, Kiểm ngang nhau tuổi độ chừng
Dòng sông đã chảy chia hai bến
Thì tiếc làm gì chuyện dửng dưng

Quân Trịnh Kiểm chiếm thành Thạch Thất
Quân Mạc triều giữ tuyến Sơn Tây
Mùa đông thổi miết lòng tranh thắng
Mà chẳng hơn nhau ở trận nầy

Đổi thế trận qua sông xứ bắc
Ván cờ nầy Mạc thắng không thua
Nước đi đã lỡ tự độ ấy
Trịnh Kiểm qua sông quả chuyện đùa

Chiếm Hưng Hóa, Tuyên Quang, Kinh Bắc
Trải quân ra suôn suốt mấy miền
Trăm người đã chết trăm người sống
Thế trận không còn mộng bá niên

Lập bản doanh Tiên Du trận mạc
Ngày chưa qua đã bị tấn công
Trăm năm thành cổ rêu phong ấy
Lê Mạc giành nhau khói dậy bồng

Chiến trận tiếp nửa mùa trăng hạ
Mà tin đưa lại đến bất ngờ
Tin từ Thanh Hóa ven cửa biển
Mạc đã tràn vào buổi tinh mơ

Bỏ đất bắc nghe đau phế phổi
Lúc trời nam người vẫn hi sinh
Hạ huyền trăng đứng nghiêng cát biển
Ai phá đồn Yên tiếng sóng kình

Mạc Kính Điển thân hành xuất chiến
Tướng Thần Phù, Ngọc Liễn giám quân
Bình minh có thức hồn sông núi
Đất ẩm sương khuya có dậy mừng?

Đất đã phụ nhà Lê buổi ấy
Quân Mạc triều thẳng tiến kinh đô
Thế Khanh, Vũ Thước đành yếu thế
Lê sẽ về đâu sẽ thế nào

Thành Vạn Lại hào sâu núi đứng
Đất Yên Trường dốc dốc cao cao
Quân Lê đổ máu nghiêng triền dốc
Thấm cả hai bên lớp chiến bào

Chiến lũy cuối chòi cao bỏ ngỏ
Thành về đâu nước lại về đâu
Thủy Đà sách núi phương nao đó
Cứu được vua Lê cuộc dãi dầu?

Nhớ Trịnh Kiểm lún sâu đất bắc
Mạc Khiêm vương thu kiếm trở về
Sông Yên quân Mạc lui về biển
Trả lại Yên Trường non nước Lê

Đất cứ thế kéo dài đôi ngả
Trời sang thu vàng đổ đôi bên
Vua Lê trở lại ban khanh tướng
Vua Mạc không may mạng chẳng bền

____________________

      * Khi nói đến nội chiến, người Việt nhớ ngay đến cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn dài trên 200 năm. Người ta trách Nguyễn thì ít, mà trách Trịnh thì nhiều. Nguyễn có công mở mang phương Nam để bù lại, Trịnh chỉ thấy chèn ép phế lập vua Lê thậm chí đã sát hại gây ra tội lỗi. Nguyễn còn lưu sử để bênh vực, Trịnh thì không.

      Tuy nhiên, tất cả những sai lầm nhà Trịnh đã làm đều bắt đầu từ Trịnh Tùng. Trước đó, Trịnh Kiểm không hề làm tổn thương vua Lê. Và, nhất là không hề có ý định dìm chết những hậu duệ của Nguyễn Kim như đã từng mang tiếng.

      Trịnh không có sử, sử Nguyễn thì không đủ trung thực về nhà Trịnh. Trong thời phong kiến rất nặng đạo quân thần, nhưng cũng không hiếm việc giết vua, hoặc nhân một cơ hội thuận tiện để đoạt ngôi. Tất cả các chúa Trịnh đều dư khả năng làm điều đó mà họ không làm. Đó là những điểm cọng đáng được ghi. Giả sử nhà Trịnh lật nhà Lê và lập ra một triều Trịnh kéo dài, thì sẽ thấy công lao rạng rỡ, và tội lỗi chỉ là bóng mờ.   Nhìn chung nhà Trịnh có tốt có xấu, riêng về Trịnh Kiểm chúng ta cũng nên có cái nhìn công bình về ông.

      Trong Khâm định Việt Sử thông giám cương mục (Q 28) có nói Trịnh Kiểm giết Nguyễn Uông, và tạo áp lực để Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ Thuận Hóa vào năm 1558 như sau:

“Tháng 10, mùa đông. Sai Thái Tổ Gia Dụ hoàng đế ta vào trấn thủ đất Thuận Hóa.

Từ khi Triệu Tổ Tỉnh hoàng đế ta mất đi, bỏ dỡ công nghiệp to lớn, quyền bính trọng yếu trong nước đều do Trịnh Kiểm chuyên chế cầm nắm. Lãng quận công Uông làm tả tướng, Thái Tổ Gia Dụ hoàng đế ta thì cầm quân đánh dẹp, lập được nhiều chiến công, được phong đến tước Đoan quận công. Cả hai đều bị Trịnh Kiểm nghi kỵ. Rồi tả tướng bị Kiểm làm hại. Còn Thái Tổ Gia Dụ hoàng đế ta thì tự lắng xuống, kín đáo giữ mình.

Bấy giờ luôn luôn có cuộc dụng binh với nhà Mạc, Thuận Hóa tuy là đất cũ của nhà Lê, nhưng bè đảng nhà Mạc phần nhiều ẩn hiện ở đó, nhà Lê chưa rỗi kinh lý được. Gia Dụ bèn nhờ trưởng công chúa là Ngọc Bảo cầu xin cho vào trấn giữ đất đó. Trịnh Kiểm cho rằng đất đó hiểm trở xa khơi, bèn muốn lợi dụng, nên cũng ưng thuận. Kiểm dâng biển nói với vua Lê rằng ‘Thuận Hóa là nơi có hình thế đẹp. Để làm nên nghiệp lớn, bản triều lúc mới khai quốc, phải nhờ đến sự đóng góp quân lính và tiền tài của Thuận Hóa. Có điều là giặc Mạc chiếm cứ đã lâu, lòng người vẫn còn phản trắc, phần nhiều vượt biển đi theo Mạc, hoặc nhân dịp đưa giặc đến quấy phá phía sau lưng chúng ta. Đó là điều rất đáng lo ngại. Vậy nếu không được tay lương tướng vào trấn giữ vỗ về thì không xong. Đoan quận công là con nhà tướng, có tài năng mưu lược, nay ra lệnh cho hắn vào trấn áp đất ấy, gây thế ỷ dốc với Trấn quận công Bùi Tá Hán ở Quảng Nam, ngõ hầu không có cái lo phải đoái đến miền nam nữa.’

Nhà vua nghe theo, bèn trao Gia Dụ cờ tiết để đi trấn thủ, công việc trong cõi thảy đều cho phép được tùy tiện xử trí, hằng năm chỉ thu lễ cống và phú thuế mà thôi. Thế rồi nhiều người ở quê hương Tống Sơn và nghĩa dũng ở Thanh Nghệ đều dắt díu gia quyến vui vẻ đi theo Gia Dụ.”

      Đọc đoạn sử trên chúng ta thấy chức vụ, và cái chết của Nguyễn Uông rất mơ hồ. Sử nhà Nguyễn nói ông Nguyễn Uông có chức tả tướng, nhưng ĐVSKTT thì chỉ nói ông có tước Lãng quận công. Dù rằng ĐVSKTT dưới thời Lê Trung Hưng bị chi phối bởi nhà Trịnh, nhưng ít ra cũng ghi biên niên về 3 sự việc nhà vua thường làm: ban chỉ dụ, thăng chức, ban tước. Nếu thật sự ông Uông có chức vụ nầy thì phải có hành trạng của ông trong thời chiến tranh với nhà Mạc. Các thuộc tướng như Phạm Đốc, Tống Phước Trị… còn có huống hồ một vị tả tướng chỉ dưới quyền Trịnh Kiểm mà thôi. Phải chăng quốc sử quán nhà Nguyễn gắn cho ông Uông chức tả tướng để làm điều kiện ắt có cho Trịnh Kiểm nghi kỵ? Riêng về cái chết của ông Uông thì không có một chi tiết nào. Nơi chết, ngày chết và chết trong trường hợp nào đều không có. Qua đó chúng ta có thể nghĩ, các vị sử thần nhà Nguyễn đã không công bằng khi cho Trịnh Kiểm đã giết Nguyễn Uông.

      Về phần Trịnh Kiểm muốn lợi dụng đất Thuận Hóa để hại Nguyễn Hoàng thì thử coi xứ ấy lúc bấy giờ ra sao? Cả Thuận và Hóa từ biển đến rừng, không nơi nào là long đàm hổ huyệt. Thù địch ở đây không đủ sức giết chết được một Đoan quận công Nguyễn Hoàng. Thuận Hóa đã yên. Thật vậy, tướng Phạm Đốc của nhà Lê đã vào tấn công quân Mạc ở đây vào tháng 8 năm 1545 cùng lúc với Bùi Tá Hán ở Quảng Nam. Ông Hán đã may mắn hơn, nhưng ông Đốc gặp sự kháng cự của trấn thủ Mạc Quyết rồi Hoàng Bôi. Chiến trường nầy dai dẳng gần 9 năm đến đầu năm 1554. Quân Mạc ở Thuận Hóa yếu thế dần vì không đủ tiếp viện. Đến mùa hè năm 1554

thì tướng nhà Lê, Tống Phước Trị, được lịnh mang quân tăng viện cho tướng Phạm Đốc. Đó là thời gian Lê dứt điểm Mạc ở Thuận Hóa. Quân Mạc thất bại từng vùng. Họ trốn ra khơi về bắc hoặc tản lạc về miền thượng du. Cuối năm 1554 Thuận Hoá đã yên.  Phạm Đốc về tổng hành dinh Biện Thượng, Tống Phước Trị ở lại giữ Thuận Hóa. Suốt gần 4 năm từ tháng giêng năm 1555 đến tháng 10 năm 1558, Thuận Hóa chỉ có những đám giặc cỏ và tàn quân Mạc theo thuyền trốn ra khơi. Tống Phước Trị đã lập lỵ sở ở Ái Tử và không hề bị đánh phá.

      Trong khi đó ở Thanh Hóa và Sơn Nam có chiến tranh dai dẳng. Tổng hành dinh Biện Thượng bị nhà Mạc tấn công  vào tháng 8 năm 1555. Tháng 7 năm 1557 vùng Tống Sơn, Nga Sơn bị tấn công. Tháng 9 năm 1557 quân Lê chinh phạt đất bắc ở vùng đông Sơn Nam, tả ngạn song Phụng Xí, kéo đến tháng 9 năm 1558 mới xong. Thua thắng hai bên Lê – Mạc đều trải qua, từng ngày đều phải canh phòng lẫn nhau. Trong thời gian trước tháng 10 năm 1558, khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, không thể nói Thanh Hoa yên bình hơn Thuận Hóa.

      Vậy, Trịnh Kiểm xin vua Lê cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558 không hề có dã tâm, mà đó là thiện ý. Lòng dạ nầy được chứng minh thêm một lần nữa ở năm 1570.  Lần ấy, Nguyễn Hoàng về thăm chị ở thủ đô Vạn Lại vào cuối năm 1569 và lưu lại đến tháng giêng 1570. Trong dịp nầy người anh rể Trịnh Kiểm đã tâu xin vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng trở thành tổng lưỡng trấn Thuận Hóa – Quảng Nam. Thỉnh cầu nầy được chấp thuận, và tổng trấn Quảng Nam đương thời Nguyễn Bá Quýnh được rút về kinh đô. Mùa xuân năm 1570, Nguyễn Hoàng chính thức nhậm chức tổng lưỡng trấn Thuận – Quảng. Đó là một lãnh thổ mênh mông có chiều dài từ Hoành Sơn đến đèo Cù Mông. Đó là thời phát triển của xứ nầy. Hầu như không có giặc giã, chỉ trừ năm 1572 phải chiến đấu với quân của Mạc Lập Bạo từ Đông Kinh kéo vào. Nếu Trịnh Kiểm sợ Nguyễn Hoàng tranh quyền thì việc giao thêm phần đất Quảng Nam chẳng khác gì đưa gươm vào tay người.

      Việc phân tranh Trịnh Nguyễn là việc về sau. Nếu nói Trịnh Kiểm giết Nguyễn Uông, và muốn hại Nguyễn Hoàng thì thật oan cho ông.


<<  |  >>