Skip to content

Chương 20/4

NHÀ MẠC
(1527 -1592)

Đoạn bốn

BIẾN LOẠN BẮC TRIỀU MẠC

 

      Đầu năm bính ngọ 1546, vùng lãnh thổ và quân đội của nhà Mạc còn hơn nhà Lê rất nhiều. Cơ hội nhà Mạc chiến thắng vẫn còn cao. Rất tiếc chỉ mấy tháng sau, tình hình ở xứ bắc nầy trở nên rối ren. Ngày 8 tháng 5 vua Mạc Phúc Hải băng hà. Người con trai còn nhỏ là thái tử Mạc Phúc Nguyên được truyền ngôi, và người chú ruột Khiêm vương Mạc Kính Điển giữ quyền nhiếp chính. Đó là di chí từ tiên đế Mạc Phúc Hải. Hầu hết triều thần đều tuân theo, chỉ trừ Hoằng vương Mạc Chính Trung và tướng Phạm Tử Nghi.

      Mạc Chính Trung là con thứ của Thái Tổ Mạc Đăng Dung, tức là ông chú của nhà vua, và đã từng đi chinh chiến. Phạm Tử Nghi là một mãnh tướng đã giúp vương thân Mạc Quốc Trinh thắng Lê Ý năm 1530, và được phong tước Tứ Dương hầu. Họ Phạm giữ chức thiếu úy qua hai triều đại Mạc Đăng Doanh và Mạc Phúc Hải. Sức mạnh của ông gồm quân bản bộ, và lực lượng của chi phái Mạc Chính Trung. Họ quyết phò vị hoàng tử có kinh nghiệm chiến đấu nầy lên làm vua. Lý do: Đất nước đương rối loạn, cần một quân vương lớn tuổi. Ý kiến nầy bị nhiếp chính đương triều Mạc Kính Điển không bằng lòng. Mạc Kính Điển lúc nhỏ ốm yếu, nhưng lớn lên  trở thành phụ tá đắc lực cho vua anh Mạc Phúc Hải. Ông có tài thao lược, hiểu biết và khiêm cung. Giữa lúc tranh ngôi nầy, ông là cột trụ của triều đình nhà Mạc mà vua Mạc Phúc Nguyên còn nhỏ tuổi. Ông không muốn sinh nội loạn giữa lúc vừa phải đối đầu với cả nhà Lê và nhà Minh. Nhưng, Phạm Tử Nghi và người chú ruột Mạc Chính Trung của ông xua quân tấn công kinh thành.

      Đó là một ngày đầu tháng 6 năm 1546. Quân của Mạc Chính Trung và Phạm Tử Nghi đánh bức cửa Đông Hà tràn vào nội thành. Trong lúc một số đại thần văn võ có ý nhượng bộ, thì Nhiếp chính Mạc Kính Điển được 3 cánh quân của 3 vị tư lệnh từ phía ngoài kéo về ủng hộ: Tây đạo tướng quân kiêm tổng trấn Sơn Tây Nguyễn Kính và con trai Nguyễn Ngọc Liễn.  Đông đạo tướng quân kiêm tổng trấn Hải Dương Lê Bá Ly cùng con trai Lê Khắc Thận. Nam Vệ tướng quân Nguyễn Quyện về kinh thành chậm hơn một bước, nhưng là lực lượng chính đối đầu với mãnh tướng Phạm Tử Nghi. Hai người này đã kịch chiến với nhau nhiều ngày ở trong nội thành. Chiến cuộc dần dần nghiêng phần thắng về phía triều đình, và đã để lại không ít thương vong cho bên khởi loạn. Đến ngày thứ 15 quân của hoàng tử Mạc Chính Trung và Phạm Tử Nghi phải kéo ra khỏi thành, nhưng cuộc chiến vẫn âm ỉ đến nhiều năm sau ở vùng biên giới.

      Dẹp được nội loạn, vua Mạc Phúc Nguyên thăng thưởng các người có công. Nguyễn Kính từ Tây Thanh hầu trở thành Tây quận công. Lê Bá Ly được rút về triều và phong chức thái tể. Nguyễn Quyện vẫn coi đạo quân Nam Vệ, nhưng được phong tước Thạch quận công. Các hàng quản lãnh và binh sĩ đều được ơn mưa móc của nhà vua, và tình hình trở lại ổn định. Nếu không kể từ Thanh Hoa trở vào nam, thì  9 thừa tuyên miền bắc được yên ổn, chỉ trừ khu vực Đại Đồng ở miền tây Tuyên Quang. Ở đây chúa Bầu Vũ Văn Mật đã nghiêng về nhà Lê ở Vạn Lại. Để tránh tình trạng rối loạn xã hội, vua Mạc Phúc Nguyên vừa tăng cường quân đội vừa khuyến khích việc nông tang và thi cử.  Đã có những vụ mùa thu hoạch thóc lúa rất yên bình, trong lúc sĩ tử các nơi lều chõng về kinh sư thi hội. Mùa xuân năm đinh mùi 1547 Dương Phúc Tư và 29 vị khác đỗ tiến sĩ hoặc đồng tiến sĩ xuất thân. Năm canh tuất 1550 có Trần Văn Bảo và 22 người khác cũng có những học vị tương tự. Rất tiếc những yên bình đó không được kéo dài. Triều đại Mạc Phúc Nguyên một lần nữa xảy ra biến động vào mùa thu năm 1550.

      Sau khi dẹp loạn Phạm Tử Nghi, tướng Nguyễn Quyện trở thành rể của thái tể Lê Bá Ly. Từ thiếu thời Nguyễn Quyện cùng anh trai là Nguyễn Phủ đã chơi thân với người anh vợ Lê Khắc Thận, và cả ba người họ đều là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vị thầy nầy đã từng làm quan và được phong tước Trình Tuyền hầu, nhưng chán cảnh quan trường đã xin về quê từ năm 1542. Ông là bạn học thân thiết với thân phụ của Nguyễn Quyện tức thượng thư bộ Lại Nguyễn Thiến. Từ đó, cả ba người Lê Bá Ly, Nguyễn Thiến, và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều có cái nhìn kỳ vọng về đám con cái và học trò của mình. Họ thường gặp nhau làng Trung Am quê hương của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong những lúc trà đàm rảnh rỗi. Lúc nầy ông Khiêm thường nghiên cứu phật học và nghiên cứu thái ất độn số. Ông bắt đầu có những tiên tri về thời cuộc. Chính sự qua lại của Lê Bá Ly, Nguyễn Thiến và Nguyễn Bỉnh Khiêm dậy lên trong lòng vua Mạc Phúc Nguyên và Nhiếp chính Mạc Kính Điển một mối nghi ngờ. Phải chăng họ đương bàn về nhân quả của nhà Phật, về những phế hưng? về những mất còn của triều đại nhà Lê, nhà Mạc? Họ đã vô tình hoặc cố ý tạo ra những nguồn dư luận bất lợi? Nhà vua sai hai nội nhân là cha con Phạm Quỳnh và Phạm Dao đi theo dõi.

       Sự theo dõi của hai người họ Phạm bị Lê Bá Ly và Nguyễn Thiến biết được. Họ nghĩ rằng nhà Mạc nghi ngờ mình. Họ yêu cầu nhà vua phải giao cha con họ Phạm để họ tìm hiểu thực hư. Vua Mạc Phúc Nguyên cho rằng đây là đòi hỏi quá đáng, phạm thượng, nên không bằng lòng. Điều này làm tổn thương lòng tin cẩn giữa vua và tôi. Từ đó lòng trung thành với nhà Mạc của hai gia đình nầy bị lung lay. Lê Bá Ly nhớ tới thời trai trẻ dưới triều vua Lê Chiêu Tông. Lúc ấy, ông không trung thành đến nỗi phải sống chết cho nhà Lê, nên đã theo nhà Mạc vì sức mạnh của Mạc Đăng Dung. Tuy nhiêu sau khi vua Chiêu Tông, vua Cung Hoàng và thái hậu bị giết, đã làm ông ghê sợ vị vua đầu triều nhà Mạc. Đã 23 năm qua, có nhiều lúc ông thấy lòng mình gợn lên một niềm trắc ẩn. Nó như một vết nứt nhỏ trong ruột chưa hẳn đã đau, mà chưa hẳn đã không đau. Những ân sủng của nhà Mạc dành cho ông đã khỏa lấp chút vết nứt đó, nhưng lúc nầy, khi bị hoài nghi, nó lại trỗi dậy. Nhưng phải làm gì bây giờ? Ông không thể làm một Phạm Bá Nghi bất trung với nhà Mạc, nhưng ông cũng không thể ngồi yên để giống như Đặng Tất, như Đặng Cảnh Chân dưới thời nhà Hậu Trần ngày xưa. Ông bàn với Nguyễn Thiến để đưa đến một quyết định mà hai người cho là hợp lý nhất: bỏ Mạc hàng Lê. Trong những chiến thuyền ra khơi vào nam tháng 7 năm 1550 có các tướng lãnh đã từng trung thành với nhà Mạc: Lê Bá Ly, Nguyễn Thiến, Lê Khắc Thận, Nguyễn Phủ, Nguyễn Quyện, Phùng Khắc Khoan và Đặng Huấn. Phùng Khắc Khoan là một nho sinh quen biết Phủ và Quyện qua tình đồng môn. Khoan cũng là học trò của thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm.  Đặng Huấn vừa là cháu vừa là thuộc tướng của Lê Bá Ly. Họ đi mang theo cả ngàn quân trung thành. Quả, là một mất mát quá lớn cho triều đại Mạc Phúc Nguyên.

      Nếu nhà Mạc có những tranh giành và mất mát như thế, thì trong thời gian nầy, nhà Lê may mắn hơn. Ở đây cũng có truyền ngôi, nhưng rất suôn sẻ. Tháng giêng năm mậu thân 1548, vua Lê Trang Tông qua đời, ông chết vì bịnh và được an táng tại kinh sư Vạn Lại. Thái tử Lê Duy Huyên lên ngôi tức vua Lê Trung Tông. Lúc nầy nhà vua chỉ vừa 13 tuổi, nhưng được triều thần nhất nhất ủng hộ. Ông đặt niên hiệu là Thuận Bình thay cho niên hiệu Nguyên Hòa của vua cha. Ở tuổi nầy nhà vua không quyết định được điều gì, mọi việc vẫn do một tay thái sư Trịnh Kiểm. Họ Trịnh vẫn luyện tập binh sĩ, và khai thác những vùng lúa thóc để tiếp tế chiến trường Thuận Hóa của Phạm Đốc. Đối với Bùi Tá Hán ở Quảng Nam cũng cần tăng quân số, nhưng Trịnh Kiểm chưa thể nào thỏa mãn. Rất may là hai năm sau, năm 1550, tình hình ở Thuận Hóa khả quan hơn. Sự ra đi của hai gia đình Nguyễn Thiến và Lê Bá Ly làm triều đình nhà Mạc không đủ sức tăng viện dồi dào cho Thuận Hóa. Tại đây, dù Hoàng Bôi đã tận sức, nhưng quân nhà Lê liên tiếp thắng trận. Cũng trong năm nầy bà Nguyễn Thị Ngọc Bảo sinh con đầu lòng. Đứa bé được đặt tên Trịnh Tùng. Khi đang mừng cậu bé nầy tròn tháng tuổi, thì hay tin đoàn hàng binh của Lê Bá Ly xin quy thuận ở cửa Lạch Triều, sông Mã. Chánh tướng ở đây là Hoàng Đình Ái, cháu họ của Trịnh Kiểm, khẩn báo về Vạn Lại.

        Dù bị một lần mang họa với Dương Chấp Nhất, nhưng với chiêu bài “Lê chính thống, Mạc nghịch thần” thì lòng khoan dung vẫn là cần thiết. Nó vẫn là cái sườn để chiêu dụ quân mhà Mạc. Do vậy, bọn Lê Bá Ly lần lược được diện kiến hoàng thượng Lê Duy Huyên. Họ được thu dụng. Tin hai đại quan văn võ của triều nhà Mạc đưa quân tướng về hàng nhà Lê, làm thần dân 4 thừa tuyên phía nam càng tin vào chính nghĩa của cuộc kháng chiến. Không những ở miền nam, mà 9 thừa tuyên miền bắc cũng có những rỉ tai bất lợi cho nhà Mạc. Trước tình hình đó, Vũ Văn Mật ở Đại Đồng, Tuyên Quang công khai ủng hộ nhà Lê. Ngoài quân cơ hữu, một số đông nông dân tây bắc đã hưởng ứng chúa Bầu họ Vũ nầy.

       Từ những duyên may đó, nhà Lê đặt những bước chân thăm dò lên đất bắc. Thái sư Trịnh Kiểm quyết định cất quân đánh Hưng Hóa. Đây là thừa tuyên mà bắc giáp Tuyên Quang, nam giáp Thanh Hoa, tây giáp Lào. Nếu làm chủ được Hưng Hóa sẽ uy hiếp được Sơn Tây ở phía đông. Cuối năm tân hợi 1551, một cuộc hành quân được thực hiện. Vũ Văn Mật từ bắc, Lê Bá Ly từ nam được lịnh tiến quân thành thế gọng kềm trên xứ tây đạo nầy. Mỗi cánh quân gần cả vạn người, và chiến trận miền tây diễn ra trong những ngày bất ngờ cuối năm. Chỉ 10 ngày chiến đấu trong một cái tết không phòng bị, quân Mạc buộc phải đầu hàng. Đó là đầu tháng giêng nhâm tý 1552. Tướng tư lệnh mặt trận Hưng Hóa nhà Mạc là Nguyễn Khải Khang và người cháu là Nguyễn Hữu Liêu bị bắt đưa về Vạn Lại. Tại kinh đô nhà Lê, hai người nầy cũng được phủ dụ và trở thành hàng tướng. Trong khi đó thì liên quân Lê Bá Ly – Vũ Văn Mật xuôi sông Hồng tiến về Sơn Tây. Cuộc chiến diễn ra bên khúc sông huyết mạch nầy. Có nhiều lúc quân nhà Lê đến gần sát phủ Phụng Thiên, đến nỗi hoàng thành Đông Kinh có thể nghe được tiếng gươm đao chạm nhau. Áp lực quá gần, Khiêm vương Mạc Kính Điển phải đưa vua Mạc Phúc Nguyên về Kim thành ở Hải Dương lánh nạn. Lão tướng Nguyễn Kính cùng con trai là Nguyễn Ngọc Liễn cầm quân chống lại những kẻ đã có thời đứng chung chiến tuyến với mình. Nguyễn Kính từng là một kỳ tài quân sự dưới thời vua Lê Chiêu Tông, nhưng chúa Bầu Vũ Văn Mật cũng không phải là kẻ tồi. Hai bên quần thảo nhau mà quân họ Vũ suýt tràn vào được phủ Phụng Thiên. Ở một cánh khác, Lê Bá Ly đang kịch chiến với Nguyễn Ngọc Liễn. Hai bên đang dành nhau từng vị trí một, chợt lòng Lê Bá Ly chùng xuống. Nhìn lại giang sơn đã từng sống, từng bảo vệ trong 23 năm với bao ân tình của nhà Mạc đã làm ông do dự. Chỉ trong khoảnh khắc đó, tướng Nguyễn Ngọc Liễn kịp điều quân đẩy lùi được cánh quân họ Lê ra xa. Chàng trai trẻ họ Nguyễn quay lại đánh thốc vào bộ chỉ huy họ Vũ đang làm áp lực lên cánh quân của cha mình. Quân chuá Bầu họ Vũ không thể nào cầm cự với liên quân của hai cha con Nguyễn Kính. Họ Vũ phải chạy ngược về sông Hồng. Chiến trận Sơn Tây kết thúc.

Lê mấy nỗi chông chênh chừng ấy
Ở bắc triều họ Mạc long đong
Phúc Nguyên ấu chúa lên ngôi báu
Kẻ nguyện thờ vua kẻ phụ lòng

Giặc không đến từ biên cửa bắc
Chẳng trời nam mà tại ngay triều
Đôi bờ phò phế vì vua nhỏ
Máu đổ vây thành biết bao nhiêu

Đâu Nguyễn Kính, Bá Ly, Nguyễn Thiến
Đâu Tử Nghi đâu Mạc Chính Trung
Ai theo Kính Điển phò vua Mạc
Ai loạn Đông Kinh gió bão bùng

Dẹp được loạn đôi mùa thu trước
Lại sinh thù đôi buổi thu sau
Tôi thần ân sủng vua trao tặng
Không đủ vì nhau trọn tháng ngày

Ai nghi kỵ ai sinh kiêu mạng
Mà vua tôi lại hóa sinh hờn
Thuyền ai tách bến đêm thu ấy
Ân tình sau trước nặng nào hơn?

Đâu Nguyễn Thiến, Bá Ly, Nguyễn Quyện
Đâu Cảnh Thân, Nguyễn Phủ hàng Lê
Họ Phùng, họ Đặng đi theo gió
Mấy kẻ phù Lê mấy trở về?

Lê đón nhận những hàng tướng Mạc
Lúc Lê triều đang độ thăng hoa
Trang Tông đã thác mùa xuân trước
Thái tử lên thay buổi thái hòa

Dù Thuận Hóa đông tây còn động
Nhưng Quảng Nam nhà Mạc không còn
Nam triều mấy đạo nam phương ấy
Non nước như đà nửa nước non

Vua Trung Tông dù còn nhỏ tuổi
Triều Trung Tông bắc tiến lần đầu
Trịnh Kiểm xua quân về Hưng Hóa
Chiến trận sông Hồng ngả tới đâu?

Lê Bá Ly nam quân chủ soái
Hàng tướng nầy trực chỉ Thiên Quan
Lê thần vốn tự từ xưa ấy
Phụ Mạc thì chi có ngỡ ngàng

Chiều tây đạo quan san đông giá
Vũ chúa Bầu lại ở bên nao
Nam Lê, bắc Mạc trêu khanh tướng
Ai đã hàng ai ở chốn nào

Nguyễn Khải Khang quy hàng Vạn Lại
Nguyễn Hữu Liêu nối gót theo sau
Hoài Lê có phải in trong dạ
Mà trước như sau có một màu

Thắng Hưng Hóa được đà đông tiến
Gió Sơn Tây vi vút giao niên
Ngày xuân nhâm tý reo gươm giáo (1552)
Như đổi giang sơn đổi mối giềng

Mạc Kính Điển trao quyền Nguyễn Kính
Đưa nhi vương về tại Kim Thành
Nước non mờ mịt chiều khói lửa
Người chết tha hồ giữa chiến tranh

Khói phủ Quốc bay về Tam Đái
Mà Từ Liêm mây cũ chưa tan
Trêu chi mấy kẻ đồng liêu ấy
Đất lặng muôn năm cũng ngỡ ngàng

Địch hay bạn Bá Ly, Nguyễn Kính
Chảy trong lòng mấy độ can qua
Đúng sai hai kẻ đà lão tướng
Thành bại so ra cũng nhạt nhòa

Trận vẫn đánh nhưng lòng bỗng mở
Sông bỗng trong và nước bỗng yên
Bá Ly, Nguyễn Kính thu binh lại
Thù, bạn từ đây biệt hai miền


<<  |  >>