Skip to content

Chương 20/3

NHÀ MẠC
(1527 – 1592)

Đoạn ba

BẮC TRIỀU MẠC, NAM TRIỀU LÊ

 

      Sau khi thượng hoàng Mạc Đăng Dung Chết, Mạc Phúc Hải được lên thay chức Đô thống sứ An Nam. Trên danh nghĩa đất nước hoàn toàn mất tự chủ. Nhìn chung, nó giống như các thời Giao Chỉ, Giao Châu bị đô hộ trước đây, tuy nhiên, nó cũng khác rất nhiều với những thời lệ thuộc đó. Mùa đông năm 1541 những người lính Tàu cuối cùng ở biên giới cũng đã trở về. Không có một tướng lãnh hay quan lại nào của nhà Minh ở lại làm thái thú. Quân đội nhà Mạc không bị giải giáp, vẫn được chỉ huy bởi Đô thống sứ An Nam Mạc Phúc Hải. Vốn Gia Tĩnh đế nhà Minh không có mộng “bình thiên hạ” như Vĩnh Lạc hoàng đế. Ông là người chuộng Đạo giáo, nên bành trướng lãnh thổ không phải là mộng thiết tha hàng đầu. Hơn nữa, trong thập niên 40 (1540) mặt biển phía đông và biên giới phía bắc của Tàu đương có loạn, vừa Nhật Bản vừa Bắc Nguyên. Điều nầy đã giúp cho triều đại Mạc Phúc Hải đi từ nội thuộc đến độc lập. Nhà Minh không can thiệp vào nội bộ nhà Mạc, chỉ nhận cống vật hàng năm. Mạc Phúc Hải đã dần dần lột cái vỏ sứ ty, và được xem như một vị vua. Giống như ông nội và cha, thời đại ông vẫn có niên hiệu, điều mà một quan thái thú không thể có. Đó là Quang Hòa nối tiếp của hai thời Minh Đức và Đại Chính.

      Những biến chuyển ở Đông Kinh như thế, thì ở Thanh Hoa thái tể Nguyễn Kim từng bước mở rộng. Từ bờ nam sông Mã đến biên giới Nghệ An, dân chúng không che dấu niềm tự hào mình được sinh ra ở vùng đất thánh. Họ hết lòng ủng hộ hậu duệ nhà Lê, nên  hai năm 1540 và 1541 quân đội nhà Lê đã có vóc dáng của một quốc gia. Đầu năm 1542 vua Lê Duy Ninh cử tướng Lại Thế Vinh làm tư lịnh mặt đông bắc, và tướng Đinh Công trấn thủ miền tây nam chịu trách nhiệm thủ phủ Lôi Dương. Thái tể Nguyễn Kim và tướng Trịnh Kiểm tiến chiếm và bình định Nghệ An. Hai vạn quân tiến về miền tây nam, nơi còn gọi là “động” là “sách” của xứ Hoài Hoan xưa. Tại đây không có sự kháng cự nào, mãi đến khi quân đội nhà Lê tiến đến miền trung du. Cuối tháng 4 năm 1542, họ gặp quân của tổng trấn Nghệ An là Mạc Đăng Lượng. Trận chiến kéo dài nhiều ngày và quân Mạc yếu thế. Tướng Lượng phải bỏ phủ trị Đô Đặng kéo quân chạy về miền đông. Thái tể Nguyễn Kim cho an định tình hình vùng bán sơn địa nầy trước khi tiến quân vào mùa xuân năm qúy mão 1543. Những cuộc chiến thường xuyên lấn dần về phía đông Nghệ An qua tới cuối mùa hạ. Những địa danh Quỳnh Lưu, Tân Yên, Hồ Sặt, Tây Phù, Đập Vệ đều có nhiều người Việt chết hằng ngày, nhưng chỉ có sự thắng thua được chú ý. Đến mùa thu năm 1543, một rẻo dài sát biển mà ngày xưa gọi là Diễn Châu cũng về tay nhà Lê. Những thuyền binh hải quân nhà Mạc cũng bỏ cửa biển mà đi. Tướng Mạc Đăng Lượng rút tàn quân chạy đến Thuận Hóa trong lúc nầy.

      Chiến thắng trong hai năm liền làm khích lệ toàn quân kháng chiến, và đến mùa đông họ dự một tiệc vui. Đó là lễ thành hôn của tướng quân Trịnh Kiểm với Nguyễn Thị Ngọc Bảo, con gái của thái tể Nguyễn Kim. Tuy bóng dáng của người vợ trước còn đâu đó, nhưng đây là tình yêu thật sự của họ Trịnh. Ông luôn luôn chiều chuộng người vợ nhỏ hơn ông đến gần 20 tuổi nầy. Cuộc lương duyên đứa con gái yêu của vị thái tể không làm chậm bước tiến quân nhà Lê. Tướng Nguyễn Kim đang chuẩn bị một cuộc nam tiến. Thuận Hóa và Quảng Nam đang nằm trong mắt của vị chủ soái nầy. Rất tiếc, trong lúc các đội hải thuyền đang thành lập thì nhận được tin có biến. Tổng trấn Thanh Hoa của nhà Mạc là Dương Chấp Nhất trên đường tái chiếm Lôi Dương. Thái tể Nguyễn Kim bỏ kế hoạch nam tiến. Ông ra lịnh kéo quân trở về. Bùi Thế Hán được phong làm đô đốc tướng quân ở lại phòng ngự vùng biên cương mới nầy.

      Từ miền nam Nghệ An kéo về Lôi Dương xa hơn từ Tây Đô tiến tới hành dinh nầy. Khi quân của Nguyễn Kim về tới, thì quân phòng thủ Lôi Dương nhà Lê đương chật vật chống cự lại đạo quân của Dương Chấp Nhất. Quân nhà Mạc đã tràn vào cổng thành phía bắc và phía đông. Nếu không có đại quân của Nguyễn Kim trở về thì chỉ trong chừng vài canh giờ nữa Lôi Dương sẽ mất. Trong giờ khắc treo mành ấy thì tình hình đã xoay ngược. Quân nhà Mạc bị phản công với quân số gấp 3 lần hơn, trong ngoài đều thọ địch. Dương Chấp Nhất nhanh chóng bị dồn vào thế thủ. Một ngày trôi qua, số tử thương của quân nhà Mạc càng lúc càng tăng buộc Dương Chấp Nhất thu quân rút về Tây Đô. Tướng Nguyễn Kim thừa thắng xua quân đuổi theo. Nếu hai cuộc chiến ở Đô Đặng và Lôi Dương có nhiều thương vong, thì ở Tây Đô lại rất bình yên. Dương Chấp Nhất liệu thế không chống nổi trong khi vợ con còn ở trong thành, ông ta đã đầu hàng nhà Lê trong lúc nầy. Đây là vị tướng thứ hai của nhà Mạc hàng nhà Lê sau Lê Phi Thừa. Chiếm được Nghệ An và Tây Đô là một chiến thắng lớn của nhà Lê lúc bấy giờ. Vua Lê Trang Tông ban thưởng kể cả hàng tướng họ Dương. Nhà vua cho điều phối các đơn vị, và Dương Chấp Nhất vẫn nắm giữ quân đội của mình dưới trướng thái tể Nguyễn Kim. Từ đó, mùa hè năm 1544, biên cương nhà Lê đã rộng mở ở hầu hết các huyện phủ của hai thừa tuyên Thanh Hoa và Nghệ An. Với lãnh thổ mới, thái tể Nguyễn Kim trình vua Lê Trang Tông kế hoạch mới: Bắc tiến.

      Từ Tây Đô nhìn về phương bắc là một thôi thúc chiến lược. Chiếm được Đông Kinh mới thực sự được gọi là một quốc gia. Nó đương bị ngăn cách bởi Hưng Hóa phía tây, và Sơn Nam phía đông. Sơn Nam chạy dài qua hạ nguồn sông Đáy, sông Hồng đến tận Yên Bang. Nó là một thừa tuyên quan trọng nằm ở đông nam kinh thành Đông Kinh. Ở phía bắc là những cánh đồng phì nhiêu, nhưng phía nam có nhiều đồi núi thấp và hồ nước thiên nhiên. Cuối tháng 4 năm ất tỵ 1545, thái tể Nguyễn Kim quyết định tiến đánh miền nam Sơn Nam làm bàn đạp. Từ Nga Sơn tiến qua một vùng dân cư thưa thớt không thấy bóng dáng quân nhà Mạc ở đâu. Giống như những nơi heo hút khác, họ bỏ chạy khi nghe tin quân nhà Lê bắc tiến. Chuyến hành quân nầy có cả vua Lê Trang Tông, và khi cánh trung quân của nhà vua đến Yên Mô thì trời đã xế chiều. Ánh nắng không còn  những tia sắc nhọn. Những chân đồi và đồng trũng khô đương chìm vào màu vàng, thỉnh thoảng mới óng lên một vệt nắng rồi mất đi. Trong vùng mênh mang đó không biết nơi đâu là trận chiến của nhà Hậu Trần chống triều Minh ngày xưa. Đâu là thành Mô Độ, đâu là thành Cổ Lộng, đâu là thành Bô Cô. Đâu rồi những Trần Ngỗi, Trần Triệu Cơ, Trần Quí khoách, Nguyễn Cảnh Chân, Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung… Lâng lâng những chinh chiến của người xưa, vua tôi nhà Lê cùng bàn bạc cho chiến thuật cận kề ngày mai.

      Cứ ngỡ kế hoạch tiến quân không gặp trở ngại, nhưng bất ngờ có đột biến kinh hoàng xảy ra ngay ngày hôm sau. Tướng Nguyễn Kim bị ngộ độc đến tử vong.  Ông chết sau khi dùng bữa với Dương Chấp Nhất. Không còn nghi ngờ gì đây là thủ đoạn của hàng tướng họ Dương. Bởi vì, liền sau đó quân bản bộ của ông ta phối hợp với quân nhà Mạc ở Yên Mô tấn công quân nhà Lê. Dương Chấp Nhất nguyên là một hoạn quan trung thành với nhà Mạc. Ông kín đáo và có tài. Khi Lê Phi Thừa phản bội nhà Mạc năm 1537  làm quân sĩ Dương Chấp Nhất chao đảo. Họ Dương tâu trình với thượng hoàng Mạc Đăng Dung. Một kế hoạch tùy nghi có thể trá hàng nhà Lê được bàn đến. Đó là niềm tín cẩn của vị vua đầu triều nhà Mạc giao cho Dương Chấp Nhất.

      Tướng Trịnh Kiểm nhận ra được cấp nguy biến của tình hình, lập tức điều quân phản kích. Quân sĩ Lê – Mạc giết nhau giữa những đồi đá vôi và trũng lúa chiêm trong đêm. Phải lo bảo vệ nhà vua cùng thi hài của Nguyễn Kim, quân Trịnh Kiểm phải lui dần. Dương Chấp Nhất quyết đuổi quân nhà Lê trở lại bên kia bờ sông Mã, trong khi Trịnh Kiểm đau lòng cho vị thái tể linh hồn của cuộc kháng chiến. Cuộc so guơm của hai vị tướng Trịnh – Dương không thể nào dừng nếu chưa có một người bị chết.  Điều phải đến đã đến. Giữa lúc hàng hàng lớp lớp kiếm đao va chạm vào nhau, Dương Chấp Nhất yếu thế hơn chỉ nửa đường gươm. Trịnh Kiểm đã trả thù được cho người chỉ huy, người nhạc phụ mà ông hằng kính trọng. Đó là một đêm cuối tháng 5 năm 1545.

       Giết được Dương Chấp Nhất, nhưng quân nhà Lê phải rút lui. Đạo quân Sơn Nam của nhà Mạc đang kéo tới. Chiều ngày hôm sau quân nhà Lê trở về được thành Tây Đô. Cử quốc công Lại Thế Vinh ở đây trấn thủ, vua Lê Trang Tông thu quân về Lôi Dương. Việc đầu tiên nhà vua  giao Trịnh Kiểm chỉnh đốn hàng ngũ quân đội, và đưa linh cửu thái tể Nguyễn Kim về an táng tại quê nhà Gia Miêu, Tống Sơn. Hai người con trai của cố thái tể họ Nguyễn được phong tước trong lúc nầy. Nguyễn Uông là Lãng quận công, và Nguyễn Hoàng là Hạ Khê hầu.

       Dù quân tướng không hao hụt nhiều sau trận thất baị Sơn Nam, nhưng không có kế hoạch bắc tiến để trả thù. Kế hoạch phòng thủ được để ý hơn. Qua một lần tấn công và một lần bị tấn công, Trịnh Kiểm thấy Lôi Dương không có một địa thế phòng thủ tốt. Ông tâu trình nhà vua dời hành dinh đến Vạn Lại. Đó là vùng đất ở phía nam thành Lôi Dương. Nơi nầy có dòng suối bao quanh và tả hữu có hai đồi núi đứng. Theo họ Trịnh nó không những là nơi có thể lập hành dinh vững chãi, mà còn là nơi phát tích dựng nghiệp. Trịnh Kiểm cho xây dựng hào lũy và pháo đài xung quanh. Nhờ địa thế thiên nhiên thuận lợi nên không tốn nhiều công sức. Ông dồn nổ lực vào việc thành lập những vệ quân mới, có cả kỵ binh và hải quân. Tháng 8 năm 1545 vua Lê Trang Tông gia phong cho Trịnh Kiểm từ Dực quận công tướng quân thành Lượng quốc công thái sư, tiết chế trong ngoài quân đội. Phạm Đốc, con nuôi của Trịnh Kiểm được phong Dương Nghĩa hầu mang quân đi bình định Thuận Hóa. Bùi Tá Hán được phong làm Trấn quận công mang thủy quân chinh phục Quảng Nam.

      Vua Lê Trang Tông nghĩ rằng hai xứ Thuận và Quảng nầy cũng dễ dàng thu phục như Nghệ An, nhưng điều nầy chỉ đúng với Quảng Nam. Từ khi Mạc Đăng Lượng bỏ Nghệ An chạy vào Thuận Hóa tháng 2 năm 1542 thì ông gặp thân vương Mạc Quyết và tùy tướng Hoàng Bôi đang trấn thủ ở đây. Lúc nầy triều đình nhà Mạc ở Đông Kinh đương bị áp lực nặng nề từ quân Minh ở biên giới. Họ không giúp được gì cho Thuận Hóa, nhưng các tướng nhà Mạc còn đủ sức mạnh mà cả một vạn quân của Phạm Đốc không dễ dàng chiến thắng. Cuộc chiến ở đây hầu như ngang ngửa, nhưng không lâu sau thì Mạc Quyết được lịnh trở về Bắc. Chiến trường Thuận Hóa trở nên nghiêng lệch, nhưng tướng Hoàng Bôi vẫn kiên cường chiến đấu. Đối với Quảng Nam (từ nam đèo Hải Vân đến núi Thạch Bi tức gồm cả Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và một phần Phú Yên ngày nay) thì Bùi Tá Hán thuận tiện hơn nhiều. Ông dùng thuyền đưa quân đến các đảo ngoài khơi nghỉ ngơi, rồi sau đó mới đổ bộ vào đất liền. Vì xa kinh sư nên lực lượng nhà Mạc ở Quảng Nam rất lỏng lẻo và ít ỏi. Chưa hết mùa thu năm 1545, Bùi Tá Hán đã khuất phục được binh lính nhà Mạc. Ông đặt bản doanh tại Cổ Lũy, và nhanh chóng bình định thừa tuyên Quảng Nam. Dân chúng vốn là thần dân di cư từ nhà Hồ, và rất nhiều từ nhà Lê. Tất cả ở với nhà Mạc chỉ 17 năm, thời gian chưa đủ dài để bứng cái gốc nhà Lê trong lòng họ. Bên cạnh đó, một phần dân Việt gốc Chàm vẫn sống lặng lờ không quan tâm đến Lê hay Mạc. Bùi Tá Hán là người khôn khéo, ông đối đãi thân thiện với mọi người. Nếu Thuận Hóa vẫn xung đột, thì Quảng Nam đã yên bình.

      Nhìn chung, nước Đại Việt vào cuối năm 1545 chia thành 2 vùng tương đối rõ rệt. Thứ nhất: Từ biên giới bắc với Tàu đến nam Sơn Nam (Ninh Bình) thuộc nhà Mạc. Lãnh thổ nầy có 9 trên 13 thừa tuyên cả nước. Nó có thủ đô Đông Kinh có giá trị về mặt chính trị, nhưng nó cũng có một vùng nhỏ tự trị Đại Đồng của chúa Bầu ở Tuyên Quang. Thứ hai: Từ bắc Thanh Hoa đến nam Quảng Nam thuộc nhà Lê. Lãnh thổ nầy chỉ có 4 thừa tuyên trên 13, nhưng diện tích không thua nhà Mạc bao nhiêu. Thanh Hoa và Nghệ An đã được gọi là đất nhà có “thủ đô” Vạn Lại. Thuận Hóa đang là vùng xôi đậu, mà nhà Lê giữ quyền kiểm soát đa số. Cuối cùng là Quảng Nam từ Hải Vân đến núi Thạch Bi (khoảng đèo Cù Mông). Vùng đất mới nầy hầu như đã thuộc nhà Lê do tướng Bùi tá Hán kiểm soát.

Mạc Đăng Dung xuôi tay làng Cổ
Ngày hắt hiu tang chế cũng qua
Nước non dù đã mang tên mới
Dân Việt còn đây một nước nhà

Giặc không đến ngoài xa phương bắc
Mà biên nam rất đỗi rộn ràng
Lê, Mạc hùa nhau cơn thua thắng
Đất trời Thanh Nghệ nặng quan san

Mạc Đăng Lượng thủ thành Đô Đặng
Quân Mạc triều yếu thế lung lay
Ngày đông xuống thấp mùa đông giá
Mà lửa lên cao cả xứ này

Cuộc chiến đấu kéo dài đến hạ
Cờ phù Lê treo đỉnh Đô Lương
Trông theo thất thểu hồn quân Mạc
Bán địa sơn, Lê chủ chiến trường

Rồi một sớm tràn về châu Diễn
Dòng sông Con quân tiến qua sông
Những đâu Cửu Đức, Hoài Hoan cũ
Máu ướt lưng gươm nhỏ xuống đồng

Đâu Mộ Dạ, Quỳnh Lưu, Hồ Sặt
Đâu Tân Yên, Đập Vệ, Tây Phù
Diễn Châu cũng mất chiều thu cuối
Lê, Mạc bên nào vui gió thu?

Mạc Đăng Lượng trôi về Thuận Hóa
Đời mong manh ai biết nơi nao
Nghệ An mừng buổi thôi chinh chiến
Người rửa gian nan rửa chiến bào

Quan thái tể khao quân chiến thắng
Ghép ân tình một đoạn riêng mong
Trao cho Trịnh Kiểm người con gái
Ngọc Bảo đôi mươi có thỏa lòng?

Cuộc chinh chiến vừa trong vừa đục
Nhưng chinh nam nào thể bỏ qua
Lê triều xương máu từ Hồng Đức
Đỉnh Thạch Bi vốn đỉnh núi nhà

Chuẩn kỵ mã chuẩn thuyền quân thủy
Nhắm Linh giang hay nhắm Hải Vân
Bên sông bên núi chưa phân rõ
Bỗng có tin xa đến thật gần

Dương Chấp Nhất, Tây Đô khởi động
Cất quân đi mà chiếm Lôi Dương
Bên dòng sông Mã đang kịch chiến
Lê – Mạc quanh co lắm nẻo đường

Tướng Trịnh Kiểm trực hồi đi trước
Hẹn chinh nam một độ mai sau
Ngựa hồng sải vó về đất thánh
Kịp lúc tơ chuông giữa trận bày

Tưởng Mạc thắng nào ngờ thất thế
Lui binh về trở lại Tây Đô
Nguyễn Kim trùng điệp vây tứ phía
Biển giáo rừng gươm khắp thành Hồ

Thế phải đến ai qui hàng phục
Mạc mất thành Lê rộng biên cương
Chiều trông đất bắc hoài thành cổ
Một trận Sơn Nam mấy ngả đường

Bóng Tam Điệp chiều tà Mô Độ
Cuộc quân hành dang dỡ chưa xong
Ai người đã chết trong đêm tối
Ai kẻ sang sông đã phụ lòng

Thờ nhà Mạc họ Dương hạ độc
Tướng Nguyễn Kim chết chẳng xứng danh
Chiến bào không sướt mà thọ tử
Rường cột Trung Hưng dạ có đành?

Hận quân giặc đã luồn tay áo
Dực quận công họ Trịnh ra tay
Chiến trường đẫm máu thi nhau chết
Gươm bén hoa lên lấy nợ này

Giết Chấp Nhất thu quân trở lại
Bờ sông Chu dằng dặt buồn hiu
Người đi xứ Tống là đi mãi
Còn lại ai không ở chốn triều

Nào Phạm Đốc, Nguyễn Uông, Tá Hán
Nào Nguyễn Hoàng, Trịnh Kiểm đệ huynh
Lòng soi nhật nguyệt phù Lê ấy
Sông Mã sông Chu có hiểu mình

Vua giao cả quyền hành Trịnh Kiểm
Ban công hầu huynh đệ Nguyễn Uông
Lôi Dương mây nước chiều tháng hạ
Trịnh- Nguyễn thương cha giống nỗi buồn

Sử không nói nguồn cơn buổi ấy
Ai oan khiên ai lại oan khiên
Nguyễn Uông mất tích không dấu gút
Khó nói nhà ai muốn đoạt quyền

Làm sao biết nỗi trong nỗi đục
Chuyện oan nghi rồi cũng một mai
Vua Lê quyết định dời dinh mới
Vạn Lại nơi nao bóng cổ đài

Đất Vạn Lại hào sâu núi đứng
Nước Yên Trường trong vắt xanh xanh
Địa tàng phát tích muôn năm khí
Trịnh Kiểm phù Lê dựng lũy thành

Không chinh chiến cõi miền đất bắc
Mà bình nam tiếp nối hành trình
Đánh Thuận Hóa, ra quân Phạm Đốc
Bình Quảng Nam, Tá Hán trấn binh

Những khó dễ trăm đường đất mới
Cả phò Lê phò Mạc truân chuyên
Lúc mà xứ Quảng bình yên được
Thuận Hóa còn treo giá chủ quyền

Miền đất hẹp nghiêng nghiêng Ô Lý
Tướng Hoàng Bôi phù Mạc phụ Lê
Chiến trường còn đó dài theo mãi
Phải đợi Hạ Khê một lúc về


<<  |  >>