Skip to content

Chương 20/2

NHÀ MẠC
(1527 -1592)

Đoạn hai

NGÀY VỀ CỦA QUÂN ĐỘI NHÀ LÊ,
VÀ NỖI NHỤC NHẰN CỦA THƯỢNG HOÀNG MẠC ĐĂNG DUNG

 

      Tháng 8 năm 1539 đoàn phục quân nhà Lê từ rừng Sầm Châu trở về. Mục tiêu được chọn: chiếm thành nhà Mạc ở Lôi Dương, bên bờ bắc sông Chu. Thái tể Nguyễn Kim tổng chỉ đoàn quân hồi hương nầy. Trịnh Kiểm được phong tước Dực quốc công làm đại tướng tiên phong. Ông chỉ huy trên 5 ngàn quân mở đường. Vua Trang Tông, phụ nữ và trẻ con được bảo vệ trong cánh trung quân do cha con Nguyễn Cảnh Huy, Nguyễn Cảnh Hoan và Bùi Tá Hán đảm trách. Ba ngàn quân phía sau do Hòa quốc công Lại Thế Vinh và Hùng quốc công Đinh Công chỉ huy. Đoàn quân trở về giẫm lên những tiền đồn heo hút nhà Mạc như đi qua những căn nhà hoang. Những nhóm lính biên cương ở đây bỏ chạy trước khi quân tiên phong Trịnh Kiểm đến. Mãi đến ngày thứ ba, khi quân nhà Lê tiến vào sâu vào nội địa mới có đụng độ. Cánh trung quân bị đột kích bất ngờ. Vì vướng phải trẻ em, một số nghĩa sĩ phải chết trong đó có người vợ của Trịnh Kiểm. Bà tử thương khi người chồng ở phía trước không hề hay. Trịnh Kiểm đương điều quân tấn công thành Lôi Dương. Họ Trịnh đối mặt với hai vị quản lĩnh can trường của nhà Mạc. Hai thủ lĩnh nầy cùng quân sĩ của họ thà chết chứ không chịu đầu hàng. Đây là trận đánh lớn đầu tiên trong cuộc chiến tranh Lê – Mạc. Dương Chấp Nhất đang ở Tây Đô không tiếp viện kịp, trong khi đại quân của Nguyễn Kim đang tiến sát bên hông. Thành Lôi Dương thất thủ. Đó là một ngày giữa mùa thu năm 1539.

      Thành Lôi Dương không lớn. Nó nằm trên huyện Lôi Dương, nguyên là huyện Cổ Lôi xưa, cái nôi của khởi nghĩa Lam Sơn. Đã 10 năm nay, nhà Mạc cho xây thành nầy làm tiền đồn tây nam của Tây Đô. Chiếm được thành, quân nhà Lê chỉ mới đi được bước thứ nhất của cuộc trường chinh. Tướng Nguyễn Kim cho dừng quân nghỉ khi mặt trời vừa xuống thấp. Lúc này người ta mới để ý đến lá đã chớm vàng, và gió thu lành lạnh ở một góc bìa rừng. Trước mặt họ, nhà cửa, nương rẫy, cỏ cây và khe suối, đâu đâu cũng phảng phất hồn Lam Sơn cũ. Một trăm hai mươi năm đã trôi qua mà người ta còn nghe như đâu đây tiếng thề Lũng Nhai, tiếng trống tập quân, tiếng lặng im của những lần bị bao vây. Vua Lê Duy Ninh đặt hành dinh tại Lôi Dương và phong tước cho một số người, trong đó người con trai 4 tuổi Lê Duy Huyên được phong làm thái tử. Nghe tin hậu duệ hai đời của nhà Lê đang có mặt nơi đất thánh, người người tụ về ủng hộ. Những kháng chiến quân ra đi 10 năm có những cuộc trùng phùng nhiều nước mắt. Ba người con của thái tể Nguyễn Kim cũng gặp lại cha trong lúc nầy.

      Nguyễn Kim không được hanh thông về cung thê nhi. Ông có 3 người vợ nhưng đều chết trước thời gian lưu lạc. Những người con lúc ông còn trẻ cũng đã chết lúc mới sơ sinh. Giờ trùng phùng sau 10 năm nầy, người ta chỉ thấy 3 người con nhỏ của ông. Chúng được gởi cho họ hàng nhà ngoại có người cậu Nguyễn Ư Kỷ trông nom. Đứa con lớn nhất Nguyễn thị Ngọc Bảo nay đã đôi mươi, Nguyễn Uông là em kế, và người con trai út Nguyễn Hoàng vừa tròn mười lăm. Trừ người chị Ngọc Bảo, hai người em trai không còn nhận ra được cha mình. Lúc nầy Nguyễn Kim mới hiểu hết những gian nan của những đứa con. Dù được người cậu ruột Nguyễn Ư Kỷ nhận làm con, nhưng quan lại địa phương vẫn hoài nghi. Rất may người cậu nầy có một người em họ là mệnh phụ không chính thức của triều đình nhà Mạc. Không rõ bà tên gì, chỉ biết bà họ Đậu và có một đứa con trai tên Mạc Lịch thường gọi là Mạc Cảnh Huống. Uy tín của bà mệnh phụ nầy giúp Nguyễn Ư Kỷ bảo bọc cho chị em Nguyễn Thị Ngọc Bảo. Dù rất thương con, hiểu thấu nổi cơ cực của các con đã trải qua, nhưng Nguyễn Kim chỉ giữ lại trong lòng. Trước mắt, thái tể họ Nguyễn đưa quân mở rộng phạm vi Lôi Dương. Những ngày sau đó quân nhà Lê tiến về phía đông tới Sóc Sơn. Tiến về phía bắc tới bờ nam sông Mã, và phía nam tới Nậm Giải, Đồng Văn thuộc miền tây Nghệ An. Người người trong vùng nghe tiếng đều nức lòng ủng hộ. Đầu mùa đông năm 1539, nhà Mạc không còn kiểm soát vùng tây nam Thanh Hoa nầy được nữa.

      Tuy mất Lôi Dương không lớn, nhưng sự trở về của nhà Lê trong lúc nầy là một thách thức lớn. Qua những tuần cuối đông kỷ hợi 1539 ấy, vua Mạc Đăng Doanh luôn nhận những tin bất tường từ nhà Minh phía Bắc và nhà Lê phía nam. Không phải là 20 mà là 22 vạn quân đang có mặt ở Quảng Đông và Quảng Tây. Gian Tĩnh đế nhà Minh đã chính thức cử Cừu Loan làm chinh nam tướng quân, và Mao Bá Ôn làm tán lý quân vụ. Họ đương lập hành dinh ở sát biên giới và sẵn sàng nhận lịnh tấn công. Nếu quân nhà Minh là một đàn qủy đỏ đang nhe nanh phía trước, thì quân đội nhà Lê ở Lôi Dương là hồn ma của ba mẹ con vua Lê Chiêu Tông trở về. Nó như một luồng sóng lạnh từng chặp ập đến phía sau lưng. Ám ảnh ấy càng làm cho nhà vua cảm thấy mình nhỏ bé hơn trước kẻ thù. Chống chọi với lưỡng đầu đe dọa nầy làm vua Mạc Đăng Doanh suy sụp. Ông ngã bịnh trong những ngày tết canh tý 1540 để trung tuần tháng giêng phải băng hà. Cái chết của nhà vua giữa lúc tình hình còn ngổn ngang. Mọi việc dồn trở lại trên vai thượng hoàng Mạc Đăng Dung. Việc đầu tiên ông lập người con trưởng của Mạc Đăng Doanh là Mạc Phúc Hải lên làm vua và đặt niên hiệu Quang Hòa.

      Mạc Phúc Hải lên ngôi giữa lúc Đại Việt như một chiếc thuyền nan trong cơn biển động. Tuổi của nhà vua còn quá trẻ để đối phó với một tình hình vô cùng nguy hiểm. Sau cái chết của vua cha Mạc Đăng Doanh, quân nhà Minh tiến sát biên ải. Phó tướng giặc Mao Bá Ôn tháp tùng sứ giả mang chiếu thư của vua Minh buộc nhà Mạc đầu hàng. Cụ thể là vua nhà Mạc tự trói mình mang sổ sách điền địa và hộ tịch đến trấn Nam Quan để nộp cho vua Minh. Đây là sự sỉ nhục chưa từng có. Đứng trước tình thế nầy người thấm đau và chịu trách nhiệm cao nhất là thượng hoàng Mạc Đăng Dung chứ không phải đứa cháu nội mới vừa tại vị. Mạc Đăng Dung phải làm gì? Đầu hàng hay Chiến đấu? Nếu chiến đấu chắc chắn quân và dân Đại Việt sẽ chết vô số kể. Những trận chiến, và hình ảnh lầm than nô lệ của dân Việt sau một năm cầm cự của Hồ Qúy Ly hiện ra. Vị vua đầu triều họ Mạc đi đến một chọn lựa để đến muôn đời sau còn nhiều nỗi khen chê. Đầu tháng 11 năm 1540, Mạc Đăng Dung để vua Mạc Phúc Hải ở lại kinh sư, tự mình và một số quan lại đem thân qua biên giới đầu hàng. Sổ sách điền địa trong 13 đạo mang đến theo yêu cầu, và cắt giao hẳn 5 động biên giới: Ti Phù, La Phù, Cổ Sâm, Liễu Cát và Kim Lặc. Theo đó lãnh thổ bị thu hẹp lại, và chịu nội thuộc nước Tàu. Cũng theo đó Đại Việt sẽ không còn là một quốc gia mà là một “ty đô”, tên gọi của một đơn vị cấp tỉnh. Cũng theo đó, sẽ không có thái thú người Tàu qua cai trị trên đất Việt, mà giao cho họ Mạc thế tập trông coi gọi là ty đô sứ. Đây là một thỏa ước mà Mạc Đăng Dung đã chọn. Theo ông, nó sáng sủa hơn cái tệ nhất: Thái thú người Tàu trực tiếp đô hộ sau khi một chiến tranh tàn phá kết thúc. Tuy nhiên, nó vẫn là một chọn lựa đớn nhục.

      Điều chọn lựa nầy đã làm thượng hoàng 58 tuổi họ Mạc tự dày vò. Ông chỉ còn một niềm an ủi là biết rằng quân Minh dần dần rút khỏi biên giới. Từ đó sứ giả hai bên qua lại bàn về những chi tiết nội thuộc kéo dài đến gần cả năm. Chính trong thời gian nầy thượng hoàng Mạc Đăng Dung gặm nhấm từng nỗi đau theo từng chi tiết.  Nó đã khiến ông ngả bịnh phải về an tĩnh ở quê hương Cổ Trai. Lúc bịnh trở nặng ông còn dặn vua Phúc Hải không nên về thăm, hãy kíp trở lại kinh sư để trấn an nhân tâm, coi trọng xã tắc. Khi đứa cháu nội vừa về đến Đông Kinh, Mạc Đăng Dung qua đời. Ông được con cháu phong tặng miếu hiệu là Mạc Thái Tổ. Đó là ngày 27 tháng 8 năm 1541. Gần một tháng sau cái chết nầy, mới có chiếu chỉ chính thức từ kẻ thù phương bắc. Theo đó, vua nhà Minh đổi An Nam quốc (Đại Việt) thành An Nam đô thống ty, trao cho Mạc Đăng Dung làm Đô thống sứ. Đổi 13 đạo thành 13 phủ sứ ty cho lệ thuộc nhà Minh. Không được dùng lịch Việt mà phải theo chính sóc có nghĩa là dùng theo niên đại kẻ thống trị. Dĩ nhiên thượng hoàng Mạc Đăng Dung không có một ngày nào hưởng dương theo lịch Tàu này, và vĩnh viễn không bao giờ nhận chức Đô thống sứ.

Đường quân tiến nhanh theo hạnh phúc
Mầm reo vui dù giữa chiến tranh
Ra đi tay trắng ôm hoài bảo
Trở lại vua quân rộn bước hành

Nguyễn thái tể điều quân biên ải
Rừng sương khuya trở lại thổ hoàng
Ngơ ngẩn mười năm cây cũng lớn
Huống gì không bạc sợi thời gian

Ngàn quân đi trước ngàn quân tới
Đâu ở đầu kia đâu ở đây
Rừng già hỏi gió ai đi thế
Những kẻ từ xưa tự xứ nầy

Thanh Hóa ra đi lại trở về
Bao năm được mất dọc sơn khê
Người đi hò hẹn mờ non nước
Chiến trận Lôi Dương lúc trở về

Lê thắng Mạc giữa rừng đất thánh
Hồn Lam Sơn còn vọng đâu đây
Lũng Nhai thề hội trăm năm trước
Có phải nơi đâu ở chốn nầy

Thắng quân Mạc chạnh lòng Trịnh Kiểm
Người vợ yêu đã thác bên sông
Từng đeo gian khó thời xuân nữ
Sao chẳng chờ nhau buổi vợ chồng

Dù Trịnh Kiểm thê nhi không trọn
Dù Nguyễn Kim chỉ gặp con thơ
Cổ Lôi đất thánh rừng xanh biếc
Gió cũng xôn xao tiếng đợi chờ

Trầm hương khói vua Lê hậu duệ
Nguyền trung hưng cùng với muôn quân
Sông Chu mãi chảy về sông Mã
Cuộc nước từ đây mãi chẳng dừng

Mở Thanh Hóa bình nam xứ Nghệ
Đông: Sóc Sơn, nam: bắc Đồng Văn
Tây Đô sẽ chiếm mùa xuân tới
Khí thế quân Lê rõ đằng đằng

Cùng lúc ấy quân Minh phương bắc
Kéo quân đi suôn suốt biên cương
Cừu Loan lãnh ấn chinh nam soái
Đường xâm lăng chỉ một tấc đường

Quân địch tiến đôi phương đối mặt
Giáo gươm nào sẽ tới Đông Kinh
Nhà vua từng đã đôn quân số
Dàn đỡ chưa xong chết thình lình

Vua Doanh chết thượng hoàng gánh vác
Đặt Đức Nguyên kế vị ngôi vua
Thịnh suy gang tấc như đùa cợt
Hưng phế đi qua tựa gió lùa

Đứa cháu nội hãy còn nhỏ lắm
Tre đã tàn măng chửa lên cao
Nước cờ tính tới nghe mà nặng
Đâu vĩ nhân đâu kẻ tội đồ?

Để Phúc Hải ngự triều chính thống
Tự thân mình chịu phục quân ma
Đem theo năm động biên cương bắc
Chuộc lấy yên vui cõi sơn hà

Nỗi khốn ấy so ra không nhỏ
Trăm niềm đau chỉ một niềm vui
Nước non giữa lúc treo mành gió
Thì sá chi danh nhỏ phận người!


<<  |  >>