Skip to content

Chương 20/1

NHÀ MẠC
(1527-1592)

Đoạn một

THỜI KỲ CHỐNG KHỞI NGHĨA,
VÀ CHỊU ÁP LỰC CỦA NHÀ MINH

 

      Từ tháng 6 năm 1527, Đại Việt đã thuộc về nhà Mạc. Vua Mạc Đăng Dung đặt niên hiệu là Minh Đức. Triều đại nầy đương đứng trước một tình thế không hề thuận lợi. Cái chết của vua Lê Chiêu Tông, vua Lê Cung Hoàng và hoàng thái hậu Trịnh Thị Loan đã truyền lan khắp nước. Bạo loạn không xảy ra, nhưng lòng bất mãn đang có mặt. Để đối phó với tình hình nầy, Mạc Đăng Dung không thay đổi cơ cấu hành chánh và quân sự đã có từ trước. Họ Mạc chiêu dụ hàng tướng lãnh quan lại từ triều đình đến địa phương. Nguyễn Kính, Lê Bá Ly, Phan Đình Tá, Nguyễn Thì Ung và một số văn võ quan khác đều được trọng dụng. Ngay như thượng thư bộ lại Trương Phu Duyệt, người có thái độ khinh thường cái chiếu nhường ngôi, cũng chỉ bị giáng xuống làm Tả thị lang bộ hình. Trừ con trưởng Mạc Đăng Doanh được phong làm thái tử, con thứ Mạc Chính Trung được phong làm Hoằng vương, và hai thân vương Mạc Quyết và Mạc Quốc Trinh là những người mới, hầu hết vua Thái Tổ Mạc Đăng Dung lưu dụng quan lại nhà Lê. Quân đội các cấp trong 13 thừa tuyên vẫn giữ nguyên các hàng quản lĩnh và tướng soái. Quy chế bổng lộc trong cả nước tỏ ra rất bình đẳng. Mọi người có công đều hưởng thực ấp hoặc phẩm tước mà không ai thấy mình thiệt thòi.

      Trong lúc cố gắng làm dịu tình hình trong nước như thế, thì triều đình nhà Mạc chịu áp lực nặng nề từ bên ngoài. Chiêm Thành và Lan Xang ở hai mặt nam và tây không có biểu hiện đáng ngại, nhưng mặt bắc đang gây sức ép từng ngày. Lúc ấy Chu Hậu Thông tức Minh Thế Tông đang trị vì nước Tàu. Triều đại nầy không cường bạo như triều Chu Lệ Vĩnh Lạc đối với Hồ Qúy Ly, nhưng mộng bành trướng lãnh thổ đều như nhau. Thay đổi một triều đại ở nước nhỏ là cơ hội để “ thiên triều đi hỏi tội”. Để đối phó với mối đe dọa nầy, vua nhà Mạc đã làm hai việc. Một: Cống nạp cho vua nhà Minh. Điều này xảy ra trong chuyến đi sứ qua Yên Kinh vào tháng 2 năm 1528. Theo ĐVSKTT ở bản kỷ thực lục quyển 5b: “Mạc Đăng Dung sợ nhà Minh hỏi tội bèn lập mưu cắt đất dâng hai châu Quy, Thuận và hai tượng người bằng vàng và bạc cùng châu báu của lạ vật lạ. Vua Minh thu nhận. Từ đấy nam bắc lại thông sứ đi lại”*. Hai: Thành lập 2 vệ quân mới, đó là Hưng Quốc và Chiêu Vũ để tăng cường sức mạnh hoàng thành. Tuy nhiên, tất cả những tính toán cân nhắc đó cũng không tránh khỏi tham vọng bá quyền của nhà Minh. Nó như một tảng đá treo lơ lững trên lưng nhà Mạc. Chưa biết tảng đá bá quyền nầy bao giờ rơi xuống, nhưng lực lượng hoài Lê đi phục quốc đang hiện ra. Trong 3 năm đầu tiên của triều nhà Mạc có 3 lực lượng đáng chú ý:

       Thứ nhất: Lê Công Uyên khởi nghĩa ở kinh thành. Lê Công Uyên là hậu duệ 4 đời của khai quốc công thần Lê Văn Linh. Ông cùng Nguyễn Ngãi, Nguyễn Thọ Tường bí mật chiêu quân lên tới cả ngàn người. Trong một đêm tối trời đầu tháng 3 âm lịch năm 1528, lực lượng nầy tấn công vào cửa Chu Tước. Đã chuẩn bị được cánh quân nội ứng, nhưng đến phút chót không liên lạc được. Một số quân đã vào trong nội thành không thể lui ra, nên Lê Công Uyên quyết định tiếp tục tấn công. Điều nầy đưa lực lượng khởi nghĩa bị chia làm 2 và lạc nhau. Cánh chủ lực đã tiến tới hồ Chu Tước, nơi mà vua Lê Tương Dực bị Trịnh Duy Sản giết chết năm xưa, trở thành một bãi chiến trường. Đã ít mà bị chia làm hai, dĩ nhiên là quân khởi nghĩa thất bại. Họ chết gần hết, chỉ có một số ít chạy được ra ngoài trong đó có Lê Công Uyên. Về sau ông Uyên chạy được tới Thanh Hoa để tiếp tục khởi nghĩa, nhưng không thành công và chết ở đó.

      Thứ hai: Lực lượng của Nguyễn Kim. Ông Kim được phong tước An Thành hầu, và giữ chức Tả vệ điện tiền tướng quân dưới thời vua Lê Chiêu Tông. Năm 1518 sợ thế lực của Trần Chân quá lớn, nhà vua mang những người họ ngoại vào triều đình để bảo vệ mình. Một loạt thay thế được diễn ra. Tả vệ tướng quân Nguyễn Kim được chỉ định về coi đạo quân Thanh Hoa trong trường hợp đó. Phải rời bỏ kinh đô như một người thất sủng, nhưng ông Kim vẫn một lòng trung thành với nhà Lê. Ông sinh năm 1468 tại Gia Miêu, Tống Sơn, Thanh Hoa. Nếu không theo sử cũ mà theo phả hệ của hoàng tộc Nguyễn Phước thì Nguyễn Kim là con cuả thái tể quốc công Nguyễn Văn Lưu, và là anh em chú bác với Nguyễn Hoằng Dụ (theo ĐVSKTT và TGCM thì Nguyễn Kim là con của Nguyễn Hoằng Dụ). Dù ở nhánh nào thì Nguyễn Kim cũng là con cháu họ ngoại của nhà Lê bắt nguồn từ hoàng hậu Huy Gia Nguyễn Thị Hằng, chánh thiếp của vua Lê Thánh Tông. Ông Kim không tiến hành chống nhà Mạc tức thời như Lê Công Uyên, mà ông chọn một căn cứ an toàn trước khi khởi binh. Lợi dụng người ta còn vui chơi cái tết kỷ sửu 1529, Nguyễn Kim đưa một số đồng chí và nghĩa binh thân tín qua Lan Xang. Lại Thế Vinh là người bạn đồng liêu và hai thuộc tướng Trịnh Kiểm và Đinh Công là 3 người đầu tiên giúp Nguyễn Kim trong hành trình cam go nầy.

      Không ai trong bọn họ mang vợ con theo chỉ trừ Trịnh Kiểm. Người thanh niên 29 tuổi họ Trịnh mang theo người vợ biết võ nghệ cùng đi theo chiến đấu với mình. Trịnh Kiểm có đồng quê hương với Trịnh Duy Sản và Trịnh Tuy, nhưng không có họ hàng gì với các vị hầu tước nầy. Ông tôi luyện tài năng qua cuộc đời mồ côi và tự lập. Ông lấy một người con gái đồng hoàn cảnh làm vợ, và họ luôn luôn có bên nhau. Khi Nguyễn Kim thu nạp ông làm một võ tướng, thì người vợ nầy cũng trở thành một nữ lưu chiến đấu bên chồng. Vì vậy, trong chuyến đi đầu tiên nầy có một người đàn bà đi theo. Từng nhóm hẹn nhau ở rừng tây Thanh Hoa, và cuộc vượt biên sang đất Lào bắt đầu. Đó là những bước chân đầu tiên của những người phục quốc. Nhóm ly khai lưu lạc nầy được quốc vương Phothisarath của Lan Xang cho tị nạn ở Sầm Châu. Tại rừng núi biên giới nầy Nguyễn Kim dần dần phát huy thế lực.

      Thứ ba: Lê Ý, một người cháu ngoại nhà Lê, khởi nghĩa ở Dạ Châu. Dạ Châu là một miền sơn cước phía tây Thanh Hoa bên bờ bắc sông Mã. Tháng 3 năm 1530, Lê Ý đã tập hợp nhiều tướng sĩ trên cả vạn người. Sau một lần thắng trận ở Nghĩa Lộ có người dâng hoàng bào để tăng thanh thế. Ông đặt niên hiệu Quang Thiệu như một vị vua. Tuy là cháu ngoại triều Lê, nhưng ông có họ Lê nên danh tiếng nhanh chóng lẫy lừng. Sợ rằng Lê Ý sẽ sinh mầm họa lớn, triều đình nhà Mạc quyết định phải tiêu diệt. Lúc nầy Mạc Đăng Dung đã 47 tuổi, vừa nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh để lên làm thái thượng hoàng. Ông đích thân dẫn hai vạn quân đi về miền tây Thanh Hoa để tiểu trừ Lê Ý, có thái sư Mạc Quốc Trinh đi theo.

      Chiến cuộc kéo dài hơn một tháng, nhưng quân triều đình nhà Mạc không thắng được quân du kích Dạ Châu. Thượng hoàng Mạc Đăng Dung phải rút về kinh sư. Ông giao Mạc Quốc Trinh lập hành dinh ở Nga Sơn làm bộ chỉ huy tiền phương phương nam, có tướng trẻ Phạm Tử Nghi giúp sức. Tháng 7 năm 1530, Lê Ý cất quân đi đánh chiếm Tây Đô. Nơi nầy không còn là căn cứ quân sự quan trọng của nhà Mạc, nhưng nó có tầm ảnh hưởng về chính trị. Làm chủ được Tây Đô như có thể làm chủ được những vùng mới khai phá phía nam. Lê Ý mong muốn như thế, nhưng sức chưa đủ để kham nổi một chiến trường lớn. Hai bên đã nhiều lần đụng độ ở các địa danh Hoằng Hóa, Liệt Thị, Đa Lộc, Động Bàng. Cuối cùng Lê Ý thất bại khi kịch chiến với Phạm Tử Nghi lúc cố đánh vào Tây Đô. Đoàn quân khởi nghĩa phải lui về Dạ Châu trước những cơn đói và giá lạnh mùa đông năm 1530.  Quân Mạc tiếp tục truy đuổi. Trong một đêm đầy sao của tháng 12 trước tết tân mão năm 1531, Lê Ý bị phục kích ngay trên linh địa của mình. Vị lãnh tụ khởi nghĩa nầy bị bắt giải về Đông Kinh. Số phận dành cho ông là một tử tội.

      Ba lực lượng phù Lê mà hai đã hoàn toàn tan rã, chỉ còn một ở bên Lào. Điều nầy làm triều đình Mạc Đăng Doanh có cơ hội kiến tạo đất nước. Ông lên ngôi vào tháng 12 năm 1529 tức vua Mạc Thái Tông. Ông đặt niên hiệu Đại Chính, và đây là thời kỳ vàng son của nhà Mạc. Sau khi dẹp Lê Ý tháng chạp năm 1530, thì nhà vua cũng vừa đúng 30 tuổi. Ông đã vững vàng thay cha làm chủ đất nước. Trừ quân đội, ông ra lịnh khắp 13 đạo không ai được mang vũ khí ra đường. Điều nầy đã giúp các nơi giảm hẳn cướp bóc. Nghề thương buôn đường xa do vậy được khởi sắc, đưa đất nước đến thịnh vượng mà không chỉ là thuần nông. Nơi đất thánh của nhà Lê là thừa tuyên Thanh Hoa cũng được yên ổn. Thừa tuyên nầy hẹp hơn Quảng Nam, Nghệ An và Tuyên Quang lúc bấy giờ, nhưng để cho an toàn hơn, vua Mạc Đăng Doanh chia làm 2 vùng quân sự. Nhà vua giao 7 huyện ở miền tây bắc cho Lê Phi Thừa. Mười một huyện còn lại ở miền trung và miền đông nam giao cho Dương Chấp Nhất. Dân chúng khắp nước chưa hẳn bình an và no đủ như dưới thời vua Lê Thánh Tông, nhưng thóc lúa dư đầy. Mùa lúa chiêm và lúa mùa đều trúng lớn trong 3 năm liền. Người ta nói súc vật không cần lùa vào chuồng, và nhà không cần đóng cửa ban đêm dưới triều vua Mạc Đăng Doanh là có thật. Được đà may mắn về nông nghiệp, nhà vua cho phát huy văn học để mong có một đất nước thực sự cường thịnh. Quốc tử giám được chăm sóc, các khoa thi được thực hiện. Nguyễn Thiến đỗ trạng nguyên năm nhâm thìn 1532, được phong tước Thư quốc công và làm thượng thư bộ lại. Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ năm ất mùi 1535 được phong tước hầu và giữ chức Đông các đại học sĩ.  Đây là hai văn thần tài giỏi thời vua Thái Tông Mạc Đăng Doanh.

      Rất tiếc hoài bảo mang thịnh vượng đến cả nước chưa thành, thì những bất lợi đã xảy ra. Nếu hai cuộc khởi nghĩa của Lê Công Uyên và Lê Ý thất bại, thì sự ly khai của Nguyễn Kim rất thành công. Ở Sầm Châu từ năm 1529 đến năm 1533, Nguyễn Kim vừa chiêu tập binh mã vừa cố công tìm tông thất nhà Lê để phò trì. Nguyễn Kim hiểu thế nào là danh chánh ngôn thuận cho một cuộc phục hưng, nên một vị quân chủ mang họ Lê rất cần thiết trong lúc nầy. Nguyễn Kim đã tìm được Lê Duy Ninh để làm “kim bài” cho việc phù Lê diệt Mạc. Tuy nhiên, Lê Duy Ninh có phải là con vua Lê Chiêu Tông hay không vẫn còn là một dấu hỏi, chỉ biết rằng ông được tướng Nguyễn Kim tôn lên làm vua, tức vua Lê Trang Tông. Tháng giêng năm 1533 tại Sầm Châu chính thức thành lập một triều đại Đại Việt lưu vong, mà Lê Duy Ninh là vị quân chủ lãnh đạo. Nhà vua lúc nầy đã 19 tuổi, có dáng người đỉnh ngộ thông minh. Ông đặt niên hiệu là Nguyên Hòa, và phong Nguyễn Kim làm thái tể Hưng quốc công nội ngoại chưởng sự. Dưới tài ba của đại công thần họ  Nguyễn, triều đại Nguyên Hòa lớn mạnh. Vương quốc Lào công nhận triều đình nầy và giúp đỡ tài vật. Tiếng vang lan xa về cố quốc, và nhiều người được tuyển đi theo. Trong số kháng chiến tân tuyển hầu hết là thanh niên thiếu nữ còn rất trẻ. Nếu có một Bùi Tá Hán, một Nguyễn Cảnh Hoan (còn gọi là Trịnh Mô) trở thành những tướng trẻ tài ba, thì bên thiếu nữ cũng có một cô gái độ tuổi tròn trăng trở thành mẫu nghi thiên hạ. Đó là hoàng hậu của vua Lê Duy Ninh.

      Từ năm 1533 trở đi, Sầm Châu đã có những bước tiến khá vững về quân số, lương thực và vũ khí. Họ có cả những tiếng khóc, tiếng cười của trẻ thơ từ những cặp đôi kháng chiến. Năm 1535 hoàng tử Lê Duy Huyên chào đời, và cũng trong năm này vợ của tướng Trịnh Kiểm sinh được một bé trai. Cặp vợ chồng son họ Trịnh đặt tên đứa con đầu lòng nầy là Trịnh Cối. Tuy nhiên, điều mà triều đình lưu vong nầy mong đợi nhất vẫn chưa có kết quả. Đó là việc liên lạc với nhà Minh bên Tàu tìm sự ủng hộ. Đã có mấy người đi mà chưa có tin về. Từ năm 1533 vua Lê Duy Ninh đã sai Trịnh Duy Liêu mượn đường thủy từ Chiêm Thành theo tàu buôn qua Yên Kinh, mà đến ba năm sau vị sứ thần họ Trịnh vẫn không có tin tức. Năm 1536 nhà vua sai Trịnh Viên mượn đường bộ phía bắc Lan Xang qua Vân Nam, nhưng vẫn chưa thành công.

      Công việc đi cầu nhà Minh nầy mãi đến đầu năm 1537 mới có kết quả. Triều đình Minh Thế Tông ủng hộ nhà Lê lưu vong bằng cách tăng cường quân số ở biên giới để uy hiếp nhà Mạc. Cái tảng đá treo lơ lửng gần 10 năm trước đang rơi chầm chậm xuống lưng thượng hoàng Mạc Đăng Dung của nhà Mạc. Một cuộc xâm Lăng đang được nhà Minh chuẩn bị. Tin tức lan nhanh trong dân chúng Đại Việt. Nhiều người đổ tội cho Mạc Đăng Dung giết vua cướp ngôi nhà Lê mới phải chịu đựng một cuộc đồ thán sắp xảy ra. Tuy nhiên cũng nhiều người trách rằng Nguyễn Kim – Lê Duy Ninh đi cầu cạnh nhà Minh mới sinh ra cớ sự. Thực ra, nếu Mạc Đăng Dung có cướp ngôi hay không, Lê Duy Ninh có cầu cạnh hay tự mình chiến đấu thì cuộc xâm lăng cũng sẽ đến. Đại Việt chưa đủ mạnh mới là nguyên nhân chính. Tháng 2 năm 1537, Minh Thế Tông quyết định cất quân đi “hỏi tội  nghịch thần Mạc Đăng Dung”. Trên 15 vạn quân với đầy đủ lương thực và vũ khí nặng đang chuẩn bị tiến về biên giới.

      Nếu ở mặt bắc như thế, thì ở mặt tây, Sầm Châu, cũng là một áp lực như xóc ngang hông nhà Mạc. Lúc nầy phục quốc quân nhà Lê vẫn còn ở đất Lào, nhưng mạnh hơn lúc trước rất nhiều. Từ quân số chưa tới 100 người khi bôn tẩu đầu năm 1529, đến mùa xuân năm 1537 nầy đã lên gần 2 vạn binh sĩ thuần thục chiến đấu. Bùi Tá Hán giúp Nguyễn Kim tuyển mộ người từ trong nước. Trịnh Kiểm giúp Nguyễn Kim huấn luyện quân đội gồm bộ chiến và kỵ binh. Lại Thế Vinh vận động vương quốc Lan Xang giúp đỡ lương thực. Với khả năng như thế, nhưng trong năm 1537 Nguyễn Kim vẫn chưa đủ lực so với nhà Mạc. Ông chờ đợi nhà Minh ra tay trước ở phía bắc.

      Trong lúc chờ đợi, Nguyễn Kim cho người đi chiêu dụ hai lực lượng mà từ lâu nay vẫn chưa có cơ hội. Thứ nhất: Lực lượng họ Vũ ở Đại Đồng, Tuyên Quang. Từ khi vua Lê Chiêu Tông cho Vũ Văn Uyên truyền thừa tập ấp cai quản xứ rừng núi miền tây Tuyên Quang đến nay đã gần 15 năm. Họ nằm im, và nhà Mạc vẫn để yên cho họ giữ thế tập cũ. Vũ Văn Uyên chết mà không có con, truyền ngai lại cho em là Vũ Văn Mật. Mật củng cố thành Nghị Lang trên đồi Bầu, và được huynh đệ gọi thân mật là chúa Bầu. Anh em chúa Bầu thọ ân vua Lê Chiêu Tông nên Vũ Văn Mật dễ dàng thuận đứng dưới trướng Nguyễn Kim để phù Lê. Thứ hai: Tây An hầu của nhà Mạc là Lê Phi Thừa trấn đóng ở bắc Thanh Hoa. Lê Phi Thừa và Dương Chấp Nhất được vua Mạc Đăng Doanh giao cho cai quản xứ Thanh nầy sau khi dẹp được Lê Ý năm 1530. Không hiểu vua họ Mạc căn cứ vào tài năng hay sự trung thành mà chia ra hai vùng rất chênh lệch. Lê Phi Thừa có tước hầu mà chỉ cai quản 7 huyện ở tây bắc. Đó là một vùng sơn cước thưa người. Trong lúc ấy Dương Chấp Nhất là một hoạn quan mà là tổng chỉ huy 11 châu huyện thuộc 5 phủ phía đông nam. Vùng nầy rộng lớn có thành Tây Đô, và mênh mông phù sa hạ nguồn sông Mã, sông Chu. Dường như có sự nghịch lý ở đây, và Nguyễn Kim đã khéo léo khai thác nó. Từ đó Lê Phi Thừa thấy vua nhà Mạc đối xử tệ bạc với mình. Khi hay tin nhà Minh có ý đồ xâm lăng, Lê Phi Thừa thay lòng. Tháng 3 năm 1537 ông mang quân qua Sầm Châu nguyện trung thành với vua Lê Duy Ninh.

      Áp lực từ hai đối thủ Minh và Lê đến như nghẹt thở, nhưng vua Mạc Đăng Doanh tỏ ra rất bình tĩnh. Mùa xuân năm 1537 đến mùa xuân năm 1538, sĩ tử cả nước vẫn được nhà vua khuyến khích thi hương và thi hội theo định kỳ cùa nó. Tiến sĩ và đồng tiến sĩ trong năm mậu tuất 1538 lên tới 36 nguời mà Giáp Hải ở Bắc Giang là vị trạng nguyên nổi tiếng.  Đến mùa hè năm 1538 nhà vua mới truyền lịnh trưng binh trong tình trạng chiến tranh. Một tuổi được sụt xuống để nhập ngũ. Tất cả trai tráng trong 13 đạo vừa đúng 17 tuổi được lịnh lên đường. Tăng quân, nhưng vua nhà Mạc cố gắng nhũn nhịn với địch quân phương bắc. Nguyễn Văn Thái được lịnh qua Yên Kinh để cố làm dịu tình hình, nhưng không có kết quả. Mùa thu năm 1539, quân nhà Minh kéo tới miền nam Quảng Đông và Quảng Tây. Theo tin báo tới 20 vạn quân. Người ta có cảm tưởng như cơn sóng thần sẽ tràn lên Đại Việt. Điều chờ đợi và phải chờ đợi đã đến.

Làm sao biết cung trời tròn khuyết
Khai Mạc triều từng độ truân chuyên
Phương nam xứ Việt hoài Lê dậy
Đất bắc Chu Minh mộng bá quyền

Mạc Đăng Dung giữ nguyên triều cũ
Những Lê thần từ trước không thay
Bá Ly, Nguyễn Kính, Thì Ung ấy
Phu Duyệt hờn lên chỉ nhíu mày

Chọn thái tử Đăng Doanh nối nghiệp
Phong Hoằng vương con thứ Chánh Trung
Bao giờ có được lòng yên ổn
Đại Việt sang trang vốn bão bùng

Năm mậu tý cung thành tây bắc (1528)
Trời tháng ba lặng gió đêm về
Lê Uyên dậy sóng hồ Chu Tước
Máu lệ khơi dòng máu lệ quê

Thành Đông Kinh không hề suy suyển
Mà phương nao lại có bất tường
Nguyễn Kim bỏ xứ đi chiêu tập
Mấy những anh hào mấy tứ phương

Ai Trịnh Kiểm, Đinh Công, Tá Hán
Lại Thế Vinh ai những Trịnh Mô
Rừng xanh lửa thắp bay hương sắc
Lê Duy Ninh bước ngoặc cơ đồ

Giữa lúc ấy Mạc triều nhường vị
Con Đăng Doanh lên thế vua cha
Thái Tông miếu hiệu đời sau tặng
Có giữ được chăng một thái hòa

Quân phương bắc phương tây đôi ngả
Còn nằm yên mà sóng Dạ Châu
Có người Lê Ý chiêu binh mã
Tràn đến Tây Đô mấy nhịp cầu

Cuộc chiến đấu kéo dài ngày tháng
Từ xuân thu đến độ đông sang
Từ đồi Nghĩa Lộ qua Đa Lộc
Hoằng Hóa thua đi, thắng Động Bàng

Rồi một sớm đang đông tiết bấc
Ở nơi đâu Lê Ý – Tử Nghi
Ai thành mãnh tướng, ai thất bại
Rừng xanh xanh một bóng lạc vì

Giết Lê Ý dẹp tan khởi nghĩa
Triều Đăng Doanh mưa gió thuận hòa
Ba năm thóc lúa dư đầy lẫm
Non nước thanh bình khúc hoan ca

Từng xứ sở mười ba thừa đạo
Không phân chia trừ xứ Thanh Hoa
Chia đôi hai tướng hai miền đất
Tưởng sẽ yên mà hóa bất hòa

Ai Phi Thừa ai Dương Chấp Nhất
Ai phù Lê phù Mạc đa đoan
Ai đem hồn nước lên Sầm Nứa
Ai ở Tây Đô phụ Mạc hoàng

Thế trùng điệp quân cơ khó biết
Nhưng kinh thành vẫn mở khoa thi
Chõng lều mấy độ người lui tới
Nguyễn Thiến, Bỉnh Khiêm tới đợi kỳ

Đã giữ được một thời thịnh trị
Nay biên thùy giặc đến hai nơi
Tây biên đã có nhà Lê tụ
Ải bắc Chu Minh ngập đất trời

Dường như thể đôi đường hò hẹn
Dẫu Yên Kinh – Sầm Nứa quan san
Ai vòng Chiêm quốc ai đường bắc
Sứ giả ra đi mấy độ vàng

Rồi ngày tháng biên cương se lạnh
Lá vàng thu chưa hết màu xanh
Giã từ đất khách về cố thổ
Cảm tạ biên cương một xứ lành
_________________________

* Khi viết về việc thông hiếu giữa nhà Mạc và nhà Minh năm 1528, các sử quan nhà Nguyễn đã không đồng thuận với các sử thần triều Lê Trung Hưng trong ĐVSKTT. Ở lời Cẩn Án của bản kỷ thực lục quyển 5b trong Thông Giám Cương Mục đã viết: “Lại xét: Trong năm Mạc Minh Đức thứ hai, tức là năm Minh Gia Tĩnh thứ 7(1528), sử cũ chép Mạc Đăng Dung sợ nhà Minh hỏi tội, bèn tính chuyện cắt đất dâng hai châu Quy, Thuận; vua Minh thu nhận. Từ đó, Nam, Bắc lại cho sứ giả đi thông hiếu trở lại. Nhưng, nay truy cứu bản đồ nước ta thì có Qúy Hóa châu và Thuận châu. Hai châu này nay thuộc tỉnh Hưng Hóa. Trong Đại Thanh nhất thống chí tuy có chép châu Quy Thuận nguyên thuộc phủ Trấn An tỉnh Quảng Tây nhà Thanh thật đấy, nhưng hai châu mà sử cũ gọi là Quy Thuận có lẽ là Quy Hóa và Thuận Châu đó thôi”.

      Tuy TGCM không nói chắc chắn, nhưng qua đó cũng làm cho người ta nghĩ tới ĐVSKTT trong thời Lê Trung Hưng đã viết nặng tay với kẻ thua cuộc Mạc Đăng Dung. Trong thời phong kiến (bất cứ quốc gia nào), sử thần của một triều đại nào thì viết thiên vị cho triều đại đó là chuyện thường. ĐVSKTT dưới thời Lê – Trịnh cũng không tránh khỏi điều đó. Bên cạnh lý do nầy, chúng ta cũng  nghĩ đến năm 1528 Mạc Đăng Dung chưa chịu áp lực quá mạnh để phải dâng đất. Có thể ông chỉ cống nạp vàng bạc qua lần đi sứ Yên Kinh mà thôi.


<<  |  >>