Skip to content

Chương 19/8

NHÀ LÊ SƠ
(1428 – 1527)

Đoạn tám

LÊ CUNG HOÀNG, VÀ BÀN TAY HỌ MẠC

 

      Ngày 1 tháng 8 năm 1522 Mạc Đăng Dung và thái phó Lê Phụ đưa hoàng tử Lê Xuân lên ngôi. Đó là vua Lê Cung Hoàng, và ông lấy niên hiệu là Thống Nguyên. Dưới danh nghĩa nhà vua, Mạc Đăng Dung ra lịnh an định cả nước. Họ Mạc không rầm rộ mừng đón một triều đại mới, mà chỉ cho quân trạm khẩn đưa chiếu chỉ an dân của nhà vua đến các nơi.

      Trong khi ấy khắp 13 đạo đang lan dần phong trào Cần Vương của vua Quang Thuận (Chiêu Tông). Dân chúng lo sợ ngong ngóng tin tức. Quân đội nghe theo cấp chỉ huy gần nhất là cấp đội trưởng của mình, nhưng các vị nầy cũng không biết theo bên nào. Các tướng lãnh và hàng quan văn ở khắp nơi chịu áp lực của Mạc Đăng Dung, nhưng lòng trung thành với vua Lê Chiêu Tông vẫn còn đó. Chúng nằm im âm ỉ, chờ bật dậy. Mới khoảng mười ngày đầu của tháng 8 năm 1522, Phúc Sơn hầu Hà Phi Chuẩn đã chiêu mộ lên tới cả ngàn quân ở Bắc Giang. Ông điều động binh mã về Tây Kiều ở hạ nguồn sông Thương để lập căn cứ. Nghiêm Bá Ký, Nguyễn Xí, Phạm Tại, Nguyễn Vĩnh, Lê Quảng, Lê Đình Tú đồng loạt mang quân về hợp tác với Hà Phi Chuẩn. Họ đều là tướng lãnh có hàm tước hầu hoặc bá ở các đạo miền bắc. Nguyễn Kính, Nguyễn Áng dưới quyền của Vũ Hộ, án binh bất động ở Sơn Tây, nhưng chỉ vài ngày sau quyết định theo Hà Phi Chuẩn. Thái Bảo Đàm Thận Huy, chưởng quản hàn lâm viện Nguyễn Hữu Nghiêm, đông các đại học sĩ Dương Khảo từ triều đình trốn ra Tây Kiều giúp sức cho họ Hà. Lúc nầy họ rước vua Chiêu Tông từ Bắc Giang về Tây Kiều để được an toàn. Từ đó phong trào Cần Vương lan rộng về phía nam. Trịnh Tuy ở Thanh Hóa cũng ủng hộ nhà vua. Với cơ cấu có sẵn từ trước, Trịnh Tuy trở thành lực lượng đáng kể, nhưng mức độ chỉ là ủng hộ, chứ chưa sẵn sàng nhập cuộc. Các đạo Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam cũng sôi sục. Một cuộc tấn công thủ đô có thể xảy ra.

      Trước tình thế nóng bỏng ấy, Mạc Đăng Dung quyết định dời đô. Ngày 30 tháng 8 năm 1522, tức là 30 ngày sau khi lên ngôi, vua Thống Nguyên được triều thần đưa về Hồng Thị. Đây là bản bộ của Mạc Đăng Dung. Quân Cần Vương chiếm lại kinh thành, và rước vua Chiêu Tông về ngày hôm sau. Cuộc chiến bắt đầu nổ ra ở mức thấp. Ngày 1 tháng 9, quân hai bên đụng độ ở Ninh Giang, Nghĩa Lễ và Bộc Độ. Quân Cần Vương bị thua. Tướng Lê Đình Tú là một hoàng thân có tước hầu bị bắt giải về Hồng Thị. Ông bị kết án phản loạn, chờ xử chết. Thống Nguyên đế Lê Xuân và hoàng thái hậu Trịnh Thị Loan đã can thiệp với Mạc Đăng Dung, nhưng họ Mạc không bằng lòng. Cả hai người đều ngậm ngùi nhìn vị hầu tước họ Lê chịu chết. Đó là cái chết đầu tiên của một vị tướng lãnh trong nội chiến.

      Trong tháng 9, tháng 10 và đầu tháng 11 năm 1522 tình hình vẫn âm ỉ khắp cả nước, nhưng thực sự chiến tranh chỉ xảy ra ở 4 đạo: Sơn Tây, Kinh Bắc, Yên Bang và Sơn Nam. Sau khi Lê Đình Tú thất trận, quân Thống Nguyên Lê Cung Hoàng do Mạc Quyết và Lê Bá Ly chỉ huy tiến gần về kinh thành. Vua Chiêu Tông ra lịnh Nguyễn Kính và và Nghiêm Bá Ký dàn quân chống lại. Từ Gia Lâm, Văn Giang, Đường Hào đến Cẩm Giàng, Lương Tài, Gia Định hai bên quần thảo lui tới nhiều tháng trời.  Lợi dụng lúc quân triều đình Chiêu Tông bận bịu ở mặt đông bắc, thân chinh Mạc Đăng Dung dẫn quân đột kích phố Vĩnh Xương thuộc phía nam của hoàng thành lúc bấy giờ (về sau nhà Mạc đổi thành Thọ Xương). Lại Thúc Mậu, Nguyễn Dư Hoan được lịnh mang quân chống trả, nhưng trước sức tấn công thần tốc của đối phương, họ Lại và họ Nguyễn phải lui dần.

      Đội quân Hưng Hiền, nguyên là đội quân túc vệ cơ hữu của Mạc Đăng Dung từ xưa, tấn công khu phố Phục Cổ. Cung điện Thụy Quang gần đó, nơi vua Chiêu Tông đang ngự bị uy hiếp. Nhà vua phải chạy về Thiên Mỗ, Từ Liêm. Mạc Đăng Dung xua quân đuổi theo, nhưng nửa chừng phải bỏ dở. Tin đại quân của Trịnh Tuy từ Thanh Hoa kéo ra bắc được khấp báo. Dù Trịnh Tuy là bại tướng của Mạc Đăng Dung năm 1519, nhưng họ Mạc phải gấp rút trở về Hải Dương. Ngày 20 tháng 9 năm 1522, vua Chiêu Tông được rước về lại điện Kính Thiên. Đây là lần thứ 3 nhà vua ra đi và trở về. (lần 1 bị Nguyễn Kính báo thù cho Trần Chân đưa quân tấn công, nhà vua phải chạy qua dinh Bồ Đề trong đêm 14 tháng 7 năm 1518. Lần 2 bị Mạc Đăng Dung lấn át, được Phạm Hiển đưa đến Sơn Tây, sau đó lên Bắc Giang rồi Tây Kiều tháng 7 năm 1522)

      Trịnh Tuy kéo quân ra bắc, nhưng không gây hấn với Mạc Đăng Dung ở Hải Dương. Ông kéo quân về kinh thành Đông Kinh phò vua Chiêu Tông. Tuy nhiên, giữa nhà vua và vị tôi thần họ Trịnh có một khoảng cách. Làm sao vua Chiêu Tông quên được Trịnh Tuy đã từng lập Lê Bang rồi Lê Do lên làm vua, khi ông bị yếu thế ở dinh Bồ Đề. Làm sao Trịnh Tuy quên được nhà vua đã sai Mạc Đăng Dung đánh tan hành dinh của vua Lê Do, mà thực ra là của Trịnh Tuy, ở Từ Liêm. Hai vị quân và thần nầy tương nhượng nhau chống Mạc Đăng Dung, nhưng trong triều Chiêu Tông có nhiều người nghi ngờ thiện chí của họ Trịnh. Họ xúi dục nhà vua bắt Nguyễn Bá Kỷ, một thuộc tướng của Trịnh Tuy, khi vào chầu. Theo đó sẽ làm áp lực với Trịnh Tuy, và nhà vua nghe theo. Trịnh Tuy nổi giận ở doanh trại của mình, đã làm vua Chiêu Tông giết luôn Nguyễn Bá Kỷ. Đây quả là một sai lầm lớn.

      Thật không rõ buổi thiết triều hôm ấy diễn ra như thế nào. Vua Chiêu Tông không thể thơ ngây bắt Nguyễn Bá Kỷ để tạo áp lực với Trịnh Tuy. Bên ông còn có cả những đại học sĩ như Đàm Thận Huy, Nguyễn Hữu Nghiêm, Dương Khảo, tại sao họ không khuyên can ông điều nầy? Nhưng, cái chết của Nguyễn Bá Kỷ là có thật, được bá cáo công khai. Nó làm tan hoang mối giao hảo với Trịnh Tuy mà nhà vua cần có trong lúc nầy. Nó chỉ khiến cho Mạc Đăng Dung ở Hải Dương thu lợi, và họ Mạc đã không chờ đợi lâu. Chỉ ba ngày sau ngày Nguyễn Bá Kỷ chết, Trịnh Tuy cho phục binh ở Dịch Vọng. Lúc này chiến trường đông bắc giữa Nguyễn Kính và Mạc Quyết vẫn đương tiếp diễn. Bên nhà vua chỉ có các vị quan văn và phó đô tướng Hà Phi Chuẩn. Họ Hà có lòng, có đức, nhưng không phải là nhà quân sự giỏi. Ông không thể điều quân hữu hiệu để chống cả vạn quân của Trịnh Tuy tấn công kinh thành. Kết quả rất nhiều người chết, mà không bảo vệ được nhà vua. Vua Lê Chiêu Tông bị Trịnh Tuy bắt đi theo đoàn quân trở về Thanh Hoa. Dưới chiêu bài Chiêu Tông, Trịnh Tuy mưu lập một triều đại mới. Đây là lần thứ tư vị vua có niên hiệu Quang Thiệu nầy phải rời bỏ kinh đô.

      Vua Lê Chiêu Tông bị bắt, tình hình chuyển đi một lối khác. Tướng lãnh và sĩ phu bắc đạo nản lòng. Họ không còn điểm dựa để chính danh cho cuộc khởi binh như lúc ban đầu. Tướng Nguyễn Kính thu quân về miền nam Kinh Bắc để dưỡng quân. Thượng thư Đàm Thận Huy, Nguyễn Hữu Nghiêm và Hà Phi Chuẩn ở kinh thành đang lung túng cầm đầu một triều đình không vua. Lúc đó có Định Sơn hầu Giang Văn Dụ từ Sơn Tây mang quân bản bộ vào kinh thành ủng hộ Đàm Thận Huy. Họ Giang xin triều đình giữ tinh thần Cần Vương như cũ. Mục tiêu đưa ra khá nặng nề: diệt Mạc Đăng Dung và giành vua Chiêu Tông từ Trịnh Tuy. Công việc chưa đi được bước thứ nhất, đã bị họ Mạc sai Kiều Văn Côn, Mạc Đăng Doanh và Mạc Quyết đánh vào kinh thành. Giang Văn Dụ và cả triều đình chạy tán lọan. Đó là ngày 12 tháng 11 năm 1522. Hơn một tháng sau, trước tết nguyên đán quý mùi 1523, Mạc Đăng Dung rước Thống Nguyên đế Lê Xuân và thái hậu Trịnh Thị Loan từ Hồng Thị về kinh sư. Lúc nầy Thống Nguyên đế vừa tròn 15 tuổi, được quốc công Mạc Đăng Dung nhân danh mình phế truất người vua anh. Ở Thanh Hoa, vua Lê Chiêu Tông không biết mình còn được gọi một tên khác: Đà Dương vương.

      Ngày 29 tháng 2 năm qúy mùi 1523, Thống Nguyên đế tức vua Lê Cung Hoàng chính thức thiết triều lần đầu tiên. Nhà vua có thủ đô, có triều đình, làm ông trở thành hợp lẽ hơn vua Chiêu Tông đang lưu vong ở Thanh Hoa. Mạc Đăng Dung lợi dụng ưu thế nầy chiêu dụ hàng quan văn và tướng lãnh chứ không muốn đối địch với họ. Nguyễn Kính, Nguyễn Áng là hai vị tướng đầu tiên thuần phục. Cung kiếm không còn thù nhau giữa hai phe lâm chiến trước đây, tuy nhiên những người một lòng trung thành với vua Chiêu Tông thì không chịu khuất phục. Đàm Thận Huy, Nguyễn Hữu Nghiêm, Nguyễn Thái Bạt, và Hà Phi Chuẩn đã kéo quân trung kiên về Yên Thế, Bắc Giang để chiến đấu.

      Lực lượng họ Đàm so ra quá nhỏ không làm Mạc Đăng Dung bận tâm. Ông lo chỉnh đốn về quân sự và hành chánh các nơi. Ông giúp vua Lê Cung Hoàng tổ chức thi hội và thi đình trong thời gian nầy. Đào Nghiễm và Hoàng Văn Tán là 2 nho sinh đỗ đồng tiến sĩ. Họ được nhận ngay tước phẩm của triều đình để điền khuyết những người đã bỏ đi. Nhìn chung, Mạc Đăng Dung mềm dẻo trong cách điều hành để tránh những xung đột không cần thiết. Tuy nhiên, đối với lực lượng Trịnh Tuy thì họ Mạc quyết tâm tiêu diệt. Đầu tháng 3 năm 1523, hai vạn quân thủy bộ trực chỉ Thanh Hoa. Mạc Quyết thừa lịnh Mạc Đăng Dung chỉ huy chiến dịch mùa xuân nầy. Có Vũ Hộ và Vũ Như Quế phụ tá, Mạc Quyết chia 3 ngả tiến về Lam Kinh, hành dinh của Trịnh Tuy. Miếu mộ, đền đài nhà Lê ở đây chỉ được quân hai bên kiêng nể một cách chừng mực. Qua hai ngày chiến đấu, Lam Kinh không trở thành hoang tàn, nhưng cũng để lại những đổ vỡ theo đúng nghĩa đen và nghĩa bóng. Lam Kinh đều là nơi tôn kính của cả hai bên thắng và thua. Trên danh nghĩa đứa em Lê Xuân của mình thắng, vua Lê Chiêu Tông thua. Ông được Trịnh Tuy cùng tàn quân đưa về Lang Chánh, miền tây núi rừng Thanh Hoa. Không biết nhà vua thất thế nầy nghĩ gì, khi đặt chân đến nơi mà đức Thái Tổ và và nghĩa sĩ Lam Sơn của ông đã có mặt. Đúng một trăm năm trôi qua, biết bao nhiêu thăng trầm dời đổi.

      Đuổi được Trịnh Tuy về miền núi, nhưng Mạc Đăng Dung vẫn chưa yên tâm. Trong tháng 7 năm 1523 ấy, dưới danh nghĩa vua Cung Hoàng, họ Mạc truy quét Đà Dương vương. Khó ai còn tơ tưởng một vị phế vương ở nơi rừng núi xa xôi nữa, nhưng Mạc Đăng Dung cũng cố tìm bắt. Qua hai lần truy lùng gắt gao vào năm 1524 và năm 1525, vị vua sa cơ 19 tuổi Chiêu Tông bị bắt ở Lang Chánh. Trước đó vài tháng, Trịnh Tuy đã cao tuổi không chịu được sương lam nên đã chết. Những tàn quân cuối cùng không bảo vệ được vua Chiêu Tông. Nhà vua bị giải về kinh đô, và giam lỏng ở Đông Hà. Niềm hy vọng Cần Vương không còn tăm hơi nào nữa. Ở Yên Thế, lực lượng của Đàm Thận Huy cũng trên đà suy yếu vì thời tiết khắc nghiệt và lương thực khan hiếm. Khi hay vua Chiêu Tông bị giam cầm mà không có khả năng giải cứu, hàng ngũ bị rả ra từng mảnh. Trước tình thế ấy Đàm Thận Huy tự sát ở rừng Yên Thế. Hà Phi Chuẩn bị một kẻ phản bội chỉ điểm bị bắt giải về kinh thành xử chết. Nghiêm Bá Kỳ, Nguyễn Xí trốn thoát được. Nguyễn Văn Vận, Nguyễn Thái Bạt tự động về kinh đô xỉ vả Mạc Đăng Dung rồi chịu chết. Nguyễn Hữu Nghiêm và con trai trốn lên tới Tam Nông, Phú Thọ, nhưng cũng bị bắt. Hai vị nầy bị chết thảm bằng cách cho xe xé xác để răn đe kẻ khác. Bên cạnh những liệt sĩ âm thầm nầy, cũng có những người đầu hàng họ Mạc và được lưu dụng: Dương Khải làm thừa chính sứ Quảng Nam. Phạm Bỉnh Khiêm làm Hộ bộ thị lang. Nguyễn Mậu làm thừa chính sứ Tuyên Quang. Nếu trước đây Mạc Đăng Dung biết lưu dụng Lê Bá Ly, Nguyễn Kính, Nguyễn Áng làm quan võ, và bây giờ biết dùng trở lại những vị quan văn nầy thì không thể nói ông là một ngư phủ tầm thường.

      Sang năm 1526 hầu như không còn loạn lạc. Tháng 3, Mạc Đăng Dung đưa vua Lê Cung Hoàng về Lam Kinh. Trong chuyến đi có cả phế đế Chiêu Tông nay được gọi là Đà Dương vương. Trước mặt hai anh em nhà vua và cận thần, Mạc Đăng Dung cho tu sửa những lăng tẩm đã bị hư hại trong trận giao tranh với Trịnh Tuy. Ông còn đích thân hầu nhang lễ để hai nhà vua cúng bái các vị tiên đế nhà Lê. Tưởng những việc làm nầy như là lòng trung thành của một đại thần, nhưng không phải vậy. Một tháng sau, tháng 4 năm 1526, Mạc Đăng Dung lại sắp xếp một việc khác: Việc triều đình đón rước ông. Ông được vua Lê Cung Hoàng phong làm An Hưng vương, và về làng Cổ Trai khấn cáo với tiên tổ. Từ cung đình bọn Vũ Hữu, Phan Đình Tá, Đỗ Hiếu Đễ nhận kim sách của nhà vua về quê hương họ Mạc để đón vị tân vương tử đại thần của triều đình. Nếu trước đây 2 năm ông được phong làm Bình chương quân quốc trọng sự trong thinh lặng, thì lần nầy là sự rầm rộ chưa từng có. Cờ tiết, ô lọng, quạt hoa đón rước một An Hưng vương ngồi trên kiệu tía với mũ hoa, đai ngọc. Nó giống như người ta đi rước một ông vua thật sự. Ông về triều đình với tước An Hưng vương. Ông có quyền hạn của một vị vương tử, nhưng bao trùm cả vua. Trong thời gian nầy, chính xác là ngày 18 tháng 12 năm 1526, ông sai Phạm Kim Bảng giết vua Chiêu Tông trong sự im lặng. Đó là những bước đầu để sáu tháng sau, Mạc Đăng Dung buộc vua Lê Cung Hoàng thoái vị.

      Ngày 15 tháng 6 năm đinh hợi 1527 là ngày chính thức vua Cung Hoàng mất ngôi. Dù tay chân trong ngoài của Mạc Đăng Dung đã chuẩn bị đầy đủ, nhưng đến giờ chót vẫn để lại chút khôi hài của kẻ sang đoạt. Sáng ngày 15 hôm ấy, các quan văn võ vào triều trước, chỉ chờ vua Cung Hoàng và Mạc Đăng Dung vào và đọc chiếu nhường ngôi. Dĩ nhiên tờ chiếu nầy đã được viết sẵn, chỉ chờ đọc. Lại bộ thượng thư Trương Phu Duyệt đã được giao việc nầy, nhưng ông không làm. Cái gan của ông Trương vào chầu hôm ấy thật là lớn. Khi các quan biết ông chưa sẵn sàng tờ chiếu, họ hối thúc ông. Ông quắc mắt nhìn cử tọa và mắng kẻ quyền thần Mạc Đăng Dung vừa bước vào: “Thế nầy nghĩa là gì?” Mọi người làm thinh trước cái dũng đáng sợ của họ Trương, và yêu cầu Nguyễn Văn Thái gấp rút thảo chiếu. Mọi việc cũng xong. Chiếc ghế vàng ở điện Kim Quang hôm ấy không có vua Cung Hoàng. Nhà vua không khoẻ không thiết triều, chỉ sai người đọc chiếu chỉ mà Nguyễn Văn Thái mới vừa khởi thảo. Hôm ấy Mạc Đăng Dung lên ngôi. Họ Mạc chọn niên hiệu Minh Đức. Đại xá cả nước, kể cả Trương Phu Duyệt.

      Khi triều họ Mạc bắt đầu, thì số phận vua Thống Nguyên Lê Xuân cũng giống như vua anh Chiêu Tông trước đây 6 tháng. Ông bị phế làm Cung vương và bị đem giam ở nội điện phía tây cùng với người mẹ Trịnh Thị Loan hoàng thái hậu. Ông và người mẹ bị buộc phải tự tử bằng thuốc độc vào tháng 8 năm 1527. Trước những thị vệ cúi đầu dâng chén thuốc đen ngòm, hoàng thái hậu Trịnh Thị Loan có lời nguyền không khác của vua Lý Huệ Tông hơn 300 năm trước là mấy: “Mạc Đăng Dung là kẻ bề tôi, manh tâm cướp ngôi, lại giết mẹ con ta, ngày sau con cháu nó cũng lại bị như thế.” Chưa đầy một năm, ba mẹ con của bà hoàng thái hậu cuối cùng của triều Lê Sơ đều bị chết dưới tay Mạc Đăng Dung. Dư âm cái chết của ba vị nầy vẫn mang mang suốt chiều lịch sử.

Mười ba đạo phân vân chưa định
Đâu Chiêu Tông đâu lại Thống Nguyên
Hai bên huynh đệ chưa từng hận
Chỉ tại Đăng Dung lấn chuyên quyền

Tờ huyết chiếu Cần Vương máu lệ
Ở Bắc Giang, Phi Chuẩn ứng hành
Sông Thương chảy mãi về đâu đó
Có biết Tây Kiều gọi chiêu anh?

Đâu những kẻ sĩ phu khanh tướng
Đâu những người dân dã rừng xanh
Nhắn nhau níu lấy hồn Kinh Bắc
Khởi nghĩa Cần Vương chắc sẽ thành

Nào Đình Tú, Thận Huy, Thái Bạt
Cả Sơn Tây Nguyễn Kính cũng đà
Xa xôi Thanh Hóa còn họ Trịnh
Thanh thế nầy chinh chiến không xa

Tình thế ấy Đăng Dung nghi ngại
Quyết dời đô về tận Hải Dương
Nước non như đã thành hai phía
Trận địa lan qua khắp nẻo đường

Đâu Nghĩa Lễ, Ninh Giang, Bộc Độ
Đâu thắng thua lui tới nhiều ngày
Tướng quân Đình Tú sa tay giặc
“Phản loạn Lê triều” ai có hay?

Rồi ngày tháng tin bay cả nước
Đất Bắc Hà nhiều mặt dàn quân
Ai là Mạc Quyết, ai Nguyễn Kính
Chiến trận nơi nao mãi chẳng dừng

Loạn Kinh Bắc, kinh thành chợt trống
Mạc Đăng Dung lựa thế bao vây
Nam thành bỏ ngỏ Đông Hà bỏ
Chinh chiến về đâu thế cuộc nầy

Lại Thúc Mậu, Dư Hoan đều chạy
Quân Hưng Hiền đuổi sát theo sau
Tinh mơ Phục Cổ thành chiến địa
Máu đổ thành xưa kiếp vận này

May lúc ấy Trịnh Tuy xuất chiến
Người chưa qua mà tiếng đã sang
Đăng Dung binh tướng quay Hồng Thị
Bỏ cuộc hành quân máu lửa tràn

Vua trở lại Thụy Quang đại điện
Vời Trịnh Tuy trú tập ngoại thành
Trong lòng mấy chút nghi còn lại
Cũng thoa son mà đón công khanh

Thế đã thế quân thần hợp sức
Tưởng thăng hoa đánh bại Mạc tà
Ai đem Bá Kỷ ra mà giết
Để mối giao tình chẳng nở hoa

Mới vừa đó bỗng thành thù địch
Quân Trịnh Tuy lừa thế bao vây
Ngàn quân cũng đủ tiêu thành quách
Huống những nhiều hơn đến thế nầy

Đồi Dịch Vọng tây nam nội điện
Quân triều đình thất tán chơi vơi
Văn thần mấy kẻ buông gươm giáo
Phi Chuẩn tướng quân cũng rụng rời

Vua Chiêu Tông rơi vào họ Trịnh
Một mùa đông cố lý Lam Kinh
Giữa trời Thanh Hóa Chiêu Tông sống
Chẳng thấy non sông chẳng thấy mình

Vua không biết trong cùng thời ấy
Những bắc thành muôn việc đổi thay
Cần Vương Nguyễn Kính thôi chinh chiến
Rút xuống miền nam đợi tháng ngày

Miền Kinh Bắc không còn đổ máu
Nhưng kinh thành máu lệ lại sa
Tướng quân Giang Dụ, Sơn Tây trấn
Tiếp nối Cần Vương mộng nước nhà

Cùng Phi Chuẩn, Thận Huy, Dương Khảo
Giữ Cần Vương như sợi tơ chiều
Chống quân họ Mạc trong thế yếu
Phải bỏ kinh thành dặm liêu xiêu

Rừng Yên Thế ai người tuẫn tiết
Thành Đông Kinh ai chết vô danh
Ai người xỉ vả lên họ Mạc
Ai ở Tam Nông xác chẳng lành?

Những lúc ấy Thống Nguyên triều đại
Đã về tay thái phó Đăng Dung
Lê triều bước xuống bờ suy tận
Chút nắng hoàng hôn ngấn bập bùng

Vua “ra lịnh” Đăng Dung chinh phạt
Về Lam Kinh truy giặc Trịnh Tuy
Cổ thành miếu mộ im thinh lặng
Mà tiếng gươm đao chẳng kiêng vì

Trận chiến cuối Trịnh Tuy thất bại
Đưa Chiêu Tông về tận đầu non
Tàn quân còn lại bao nhiêu ấy
Để kẻ sa cơ chết mỏi mòn

Rồi thu tới giữa rừng Lang Chánh
Vua Chiêu Tông bị bắt trở về
Đệ huynh nhìn mặt mà không khóc
Lệ ứa trong lòng lệ vua Lê

Cửa Đông Hà Chiêu Tông giam lỏng
Điện Kính Thiên tại vị Cung Hoàng
Cả hai vua trước vua sau ấy
Lấy gì làm chủ được giang san

Rồi một sớm Lam Kinh tảo mộ
Cả hai vua được rước đi về
Đăng Dung thần tử đi hầu lễ
Nhị vương bái lạy những tiền Lê

Tưởng như thể trung thần Đại Việt
Mà đường đi từng bước đặt bày
Lọng vàng kiệu tía vua ban tặng
Lòng đà soán nghịch lắm người hay

Ngày tháng chạp Chiêu Tông bị giết
Bến Đông Hà im lặng buồn hiu
Cao xanh từng đã soi nhân thế
Chắc biết về đâu hệ Lê triều

Nhiêu khê mấy nẻo dòng kinh sử
Đinh hợi năm nào bút mực ghi (1527)
Thống Nguyên thoái vị trao họ Mạc
Đại Việt từ đây sẽ chuyện gì

Mùa thu tới Cung vương thọ tử
Cùng mẹ mình ở tại tây cung
Lời nguyền soán nghịch còn treo đó
Họ Mạc về đâu có vô cùng?


<<  |  >>