Skip to content

Chương 19/7

NHÀ LÊ SƠ
(1428 – 1527)

Đoạn bảy

LÊ CHIÊU TÔNG VÀ NHỮNG RỐI REN NHẦT CỦA TRIỀU LÊ SƠ

 

      Đó là ngày 7 tháng 4 năm 1516, nước Đại Việt không vua. Triều thần khẩn cấp tôn phò vua mới, nhưng không đồng thuận. Mãi đến sáng hôm sau, Trịnh Duy Sản mới nhượng bộ phe của người anh mình là Trịnh Duy Đại và Tường quận công Phùng Dĩnh. Họ lập Lê Quang Trị lên làm vua. Trị mới 8 tuổi, con của Mục Ý vương, gọi vua Tương Dực là chú ruột. Tuy đã có vua, nhưng triều đình vô cùng bất ổn, đại thần không thuần phục. Nguyễn Hoằng Dụ bỏ yểm trợ cho Lại Thúc Mậu kéo binh về. Lại Thúc Mậu theo chân Hoằng Dụ bỏ Trần Cảo tung hoành ở núi Ngạc. Trước tình hình ấy, Trịnh Duy Đại và Phùng Dĩnh rước vua Lê Quang Trị về Tây Kinh ( Tây Đô thời nhà Hồ) để được an toàn. Trịnh Duy Sản và các đại thần khác không bằng lòng. Họ lập Lê Y lên làm vua. Y 11 tuổi là con của Cẩm Giang vương, cũng gọi vua Tương Dực bằng chú ruột. Trong lúc ấy thì quân của Nguyễn Hoằng Dụ và Lại Thúc Mậu đã về tới phủ Phụng Thiên. Hai người này đốt thành trì để uy hiếp phe Trịnh Duy Sản. Họ bắt giết người thiết kế Cửu Trùng đài Vũ Như Tô, và kéo quân tới sát nội thành. Trịnh Duy Sản không muốn đối đầu với Nguyễn Hoằng Dụ trong lúc nầy. Trong thâm tâm, họ Trịnh cảm thấy mình đã gây ra một tai họa, không thể đổ máu thêm. Ông ta cùng thân vương Lê Chiêu Nghĩa, chỉ huy sứ Đô ty Mạc Đăng Dung phò vua Lê Y về Tây Kinh.

    Vô tình ở Tây Kinh có hai vua, mà ở Đông Kinh không có vua nào. Không có vua tức không có chiếc “kim bài” chính thống, Nguyễn Hoằng Dụ không thể nào an định tình hình. Cướp bóc nổi lên như giá đậu nẩy mầm. Lợi dụng thời cơ, quân của Trần Cảo từ Ngạc Sơn kéo về kinh đô. Trước những rối ren muôn mặt, Nguyễn Hoằng Dụ không chống nổi Trần Cảo phải rút quân về Lý Nhân. Trần Cảo dẹp cướp bóc, chỉnh đốn quân đội, đem an ninh về từng khu vực. Họ Trần tự xưng làm vua lấy niên hiệu là Thiên Ứng. Ông ta cố tình chọn niên hiệu mang tên nầy để làm người ta nhớ đến một Trần Cảo Thiên Khánh khi xưa, và ứng với câu sấm “Đông phương hữu Thiên Tử khí”. Tuy nhiên, triều đại Thiên Ứng vẫn không được dựng thành. Một người con nuôi của Trịnh Duy Sản, đang nằm vùng để chống Nguyễn Hoằng Dụ, tập họp quân binh chống Trần Cảo. Đó là Trần Chân. Trần Chân là một dũng tướng có tài. Dưới trướng ông có Nguyễn Kính phù trợ. Họ từ Hoàng Hoa, phía đông kinh đô, kéo quân tới Giảng Võ để chận đánh quân của Trần Cảo do Phan Ất chỉ huy. Trận Chiến kéo dài nhiều ngày xung quanh những sân tập bắn có từ thời vua Lê Thánh Tông. Khói và người chết hai bên đã biến Giảng Võ thành một chiến địa sôi sục. Lực lượng ngang nhau, nhưng chỉ vài ngày sau đại quân của Trần Cảo tiến tới tiếp viện cho Phan Ất. Trần Cảo đã mau chóng đuổi quân của Trần Chân trở về lại Hoàng Hoa.

      Lúc nầy ở Tây Kinh có một dàn xếp mềm dẻo. Trịnh Duy Đại và Phùng Dĩnh bằng lòng với Trịnh Duy Sản phế Lê Quang Trị và phò Lê Y lên làm vua. Lê Y đặt niên hiệu là Quang Thiệu tức vua Lê Chiêu Tông.

      Dưới danh nghĩa chính thống vua nhà Lê, Trịnh Duy Sản kêu gọi tướng lãnh các nơi về giúp Trần Chân diệt Trần Cảo. Nguyễn Hoằng Dụ bỏ qua việc thí vua Tương Dực của Trịnh Duy Sản mà đồng lòng đứng dưới trướng Chiêu Tông chống Trần Cảo. Trịnh Tuy, một hầu tước ở Thanh Hoa, cháu họ của Trịnh Duy Sản cũng mang quân giúp sức. Rất tiếc thái sư Lê Quảng Độ lại không có trong hàng ngũ nầy. Ông chỉ bằng lòng phế vua Lê Tương Dực như đã thỏa thuận với Trịnh Duy Sản chứ không phải hạ sát vị vua nầy. Đó là lý do ông bất hòa với họ Trịnh. Ông và Trình Chí Sâm đã ở lại kinh thành, và đầu hàng Trần Cảo. Đại quân của vua Lê Chiêu Tông từ Thanh Hoa kéo về làm nghiêng lệch cán cân giữa Trần Chân và Trần Cảo. Thị trấn Giảng Võ đã trở thành một chiến địa hoang tàn từ vài hôm trước, nay sôi sục trở lại.

      Trần Cảo thắng được Trần Chân, nhưng rất khó đối đầu với liên quân dưới trướng của vua Lê Chiêu Tông: Trịnh Duy Sản và Trịnh Tuy từ Thanh Hoa, Nguyễn Hoằng Dụ từ Lý Nhân, Trần Chân từ Hoàng Hoa. Ba mặt giáp công nầy ồ ạt tiến quân về thủ đô. Dĩ nhiên Trần Cảo không thể nào chống cự nổi. Chỉ sau một ngày cầm cự, Trần Cảo thu quân về mặt bắc ở ngoại thành. Ở đây, liên quân kịp đuổi theo, nhưng không đủ mạnh để tiêu diệt. Bại binh Trần Cảo đang đêm lấy thuyền xuôi dòng sông Đuống về Đông Triều. Sáng ngày hôm sau, vua Lê Chiêu Tông được rước về điện Kính Thiên nối tiếp đời sau của người vua chú Lê Tương Dực. Đó là ngày 27 tháng 5 năm bính tý 1516.

      Tạm thời đất nước yên, nhưng còn rất yếu. Nó như một con bịnh vừa qua một cơn đau chí tử mà những mầm bịnh vẫn còn. Một khu vực rộng lớn núi non gọi là Đại Đồng ở miền tây Tuyên Quang bắc Hưng Hóa sinh loạn. Có hai tay hảo hớn chạy nạn từ Hải Dương lên đây can thiệp vào cuộc loạn nầy. Họ là hai anh em Vũ Văn Uyên và Vũ Văn Mật ủng hộ những cư dân bị áp bức chống lại các tù trưởng. Bên cạnh loạn Đại Đồng, đất Kinh Bắc loạn cướp nổi lên suốt từ Từ Sơn đến Phả Lại. Tương tự như thế, ở Đông Triều, Trần Cảo đang khoanh vùng  tự trị. Ba vùng nầy bất ổn từng giờ, mà các đại thần không ai thực sự chú tâm, lại ngấm ngầm tạo phe dựng cánh. Trước tình thế ấy vua Chiêu Tông còn quá thơ ngây để đối phó. Mười một tuổi, ông lầm lẫn những người theo hay chống mình. Đối với Đại Đồng tây bắc, nhà vua để nó tự sinh tự diệt không can thiệp. Đối với loạn Kinh Bắc ông sai Trịnh Tuy và Lại Thúc Mậu đi dẹp, nhưng chúng như một đám mụn nhọt có sẵn dưới làn da. Diệt chỗ nầy nổi chỗ khác. Đối với cha con Trần Cảo, ông treo giải thưởng để diệt họ, nhưng không thành công. Đến tháng 10 cùng năm, nhà vua phải ra lịnh Trịnh Duy Sản làm chánh tướng, Nguyễn Hoằng Dụ làm phó tướng mang quân đi diệt Trần Cảo.

      Trên 10 ngàn quân ra đi lúc mùa đông đang tới, và nạn đói đang thăm dò. Lính triều đình hành quân dài ngày ở rừng Đông Triều không diệt được du kích Trần Cảo mà gặp khó khăn về lương thực. Trịnh Duy Sản đã đến từng đơn vị nhỏ để ủy lạo tinh thần binh sĩ. Điều nầy đã làm mọi người thấy gắn bó với vị chỉ huy của mình, nhưng rất tiếc, kết quả thì ngược lại. Họ phải xa ông vĩnh viễn. Đầu tháng 11, một cuộc khiêu chiến của Trần Cảo diễn ra. Tùy tướng Hạnh, người trực tiếp giết cựu hoàng Lê Tương Dực, bị chết ngay ở giờ đầu. Trịnh Duy Sản tức giận tự cầm quân nghênh địch. Quân Trần Cảo giả yếu thế chạy về Nam Giãn. Tại đây, Trịnh Duy Sản lọt phải ổ phục kích đã giăng sẵn. Họ Trịnh và một tùy tướng là Nguyễn Thượng đều bị bắt. Hai người nầy bị đưa về tổng hành dinh Vạn Kiếp của Trần Cảo và bị xử chết. Sẵn đà, Trần Cảo đưa quân tấn công cánh quân Nguyễn Hoằng Dụ. Dụ không chống cự nổi, kéo quân về kinh thành, Trần Cảo đuổi theo. Lần thứ hai, đạo quân Đông Triều của họ Trần có mặt ở bờ bắc sông Nhị Hà.

      Để đối đầu với Trần Cảo, Trần Chân được phong tước Thiết Sơn bá, và mang quân Hoàng Hoa vừa được bổ sung qua sông. Ông có hai người huynh đệ là Nguyễn Kính và Thân Duy Nhạc trở thành hai thuộc tướng đắt lực. Họ đã coi Trần Chân như là huynh trưởng tốt từ những ngày đầu, nên họ cũng hết lòng trong trận chiến này. Sự tinh nhuệ của đạo quân Hoàng Hoa cọng với lòng báo thù cho cha nuôi Trịnh Duy Sản, Trần Chân đã nhanh chóng dành thế chủ động. Dù đã một lần là bại tướng của Trần Cảo ở Giảng Võ, nhưng Trần Chân không hề nao núng. Ở trận chiến nầy, nếu quân Trần Cảo có lòng tin vào thiên mệnh “khí thiên tử hiện phương Đông”, thì quân Trần Chân có máy bắn đá. Trong 3 ngày chiến đấu kịch liệt súng gươm, Trần Chân và Nguyễn Kính đã tỏ ra là hai vị tướng xuất chúng. Họ để Thân Duy Nhạc yểm trợ phía sau, Chân và Kính đi đầu hai bên trái phải yểm trợ cho nhau tiến chiếm từng mục tiêu. Họ chiếm Bồ Đề, đánh Gia Lâm, phá Tiên Du. Quân Hoàng Hoa theo chân hai vị tướng liều lĩnh nầy cứ tiến về phía trước. Quân Trần Cảo thiệt hại nặng nề. Ông ta cố thu tàn quân chạy về bên kia sông Như Nguyệt. Từ đó “vua” Thiên Ứng Trần Cảo không còn nghe tiếng tăm.

      Diệt được Trần Cảo, vua Lê Chiêu Tông, qua người mẹ Trịnh Thị Loan, an định tình hình. Ông phái tướng thắng trận Trần Chân về lại Hoàng Hoa thành lập đạo quân tổng trừ bị. Ở khu vực hạ nguồn sông Hồng nầy, tư lịnh Trần Chân có nhiệm vụ can thiệp vào bất cứ nơi đâu khi có lệnh. An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ trông coi bắc Phụng Thiên, trong đó bao gồm cả đạo quân bảo vệ hoàng thành của Mạc Đăng Dung. Họ Nguyễn đặt hành dinh ở Đông Hà bên bờ sông Nhị. Song song với phía bắc, Vĩnh Hưng hầu Trịnh Tuy chịu trách nhiệm nam Phụng Thiên. Họ Trịnh được lịnh tái phối trí đạo quân Kim Ngô của người chú Trịnh Duy Sản trước đây, và đặt hành dinh tại thành Đại La cũ. Sự sắp xếp nầy tưởng sẽ đưa triều đại Lê Chiêu Tông đến an bình, nhưng đã sớm có biến cố.

      Nguyên Nguyễn Hoằng Dụ có quan điểm giống cựu thái sư Lê Quảng Độ, phế Tương Dực chứ không giết vị vua nầy như Trịnh Duy Sản đã làm. Nếu Lê Quảng Độ bất mãn đi đầu hàng Trần Cảo, thì ông Dụ mang quân từ bắc Nhị Hà về chống lại họ Trịnh. Trịnh Duy Sản không muốn chống lại Nguyễn Hoằng Dụ trong lúc nầy, nên đưa Lê Y tức vua Lê Chiêu Tông về Tây Kinh. Ông Dụ bỏ qua những bất đồng để cùng phò vua Chiêu Tông đánh Trần Cảo, nhưng vẫn không ưa phe cánh của ông Sản từ đó. Đó là lý do hai phía nam và bắc phủ Phụng Thiên cứ xây lực lượng cho riêng mình để thủ thế. Đại La và Đông Hà thì bên tám lạng, phía nửa cân. Hai bên âm thầm kình chống nhau, và chuyện đáng ra không đến đã đến.

      Tháng 7 năm 1517, Nguyễn Văn Lự và Trịnh Duy Đại là hai vị tiền bối của Nguyễn Hoằng Dụ và Trịnh Tuy đứng ra giảng hòa. Họ cùng vào triều yết kiến vua Chiêu Tông để xác lập những nhân nhượng của mỗi bên. Khi đến nơi, bất thình lình Lự rút ra một tờ sớ bí mật đã viết sẵn. Theo đó có Trịnh Duy Đại và Trịnh Tuy âm mưu lập một nhà chúa bên cạnh nhà vua để điều hành đất nước. Họ tạo ra chứng cớ bằng những người có thật và những lời khai có thật. Trịnh Duy Đại bị xử chết không kịp kêu oan. Đây là âm mưu của Nguyễn Hoằng Dụ, nhưng nhà vua 12 tuổi không hề biết. Vị ấu quân nầy ra lịnh cho Nguyễn Hoằng Dụ cất quân tiêu diệt quân “phản loạn” Trịnh Tuy. Bên trong khu phố Phục Cổ và Khúc Phố, 3 lần đụng trận 3 lần thiệt hại quân số, nhưng không bên nào chịu thua. Lần thứ tư một thuộc tướng của Trịnh Tuy bị thương làm cán cân nghiêng lệch. Quân của Hoằng Dụ đuổi quân họ Trịnh chạy ra khỏi thành Nam về hạ nguồn sông Hồng. Lúc nầy Trần Chân ở Hoàng Hoa biết được âm mưu của Nguyễn Hoằng Dụ, ông cất quân giúp Trịnh Tuy đồng lúc tấu trình với vua Lê Chiêu Tông.

           Nhà vua lúc nầy mới rõ sự tình. Ông ra lịnh Trần Chân, Nguyễn Kính, Mạc Đăng Dung truy bắt Nguyễn Hoằng Dụ. Dụ yếu thế chạy về Thanh Hoa, nhưng bị cùng đường ở Thuần Hựu, Trường Yên (Ninh Bình). Rất may, ông được Mạc Đăng Dung nghĩ tình trong mấy tháng qua, tìm cách bỏ ngỏ để ông chạy thoát.

      Đuổi được Nguyễn Hoằng Dụ, nhà vua giao tất cả quyền hành của ông nầy cho Trần Chân. Họ Trần trung thành với nhà vua, và dùng sức mạnh quân đội để an định từng vùng. Tại kinh thành và những vùng phụ cận, quân của Trần Chân đến đâu là loạn cuớp bị tiêu diệt đến đó. Cái thần tượng quân sự dẹp tan loạn Trần Cảo, và loạn Nguyễn Hoằng Dụ như vang vang đâu đó. Ngay những bọn dựa hơi nội ngoại hoàng tộc từng hạch sách dân chúng cũng phải kinh sợ ông. Trong lúc ấy thì ở các trấn ngoài không được yên. Vua Chiêu Tông cử Trịnh Tuy ra làm tổng trấn Sơn Nam, giao lại đạo quân Kim Ngô cho Trần Chân. Mạc Đăng Dung cũng được nâng quyền hạn, ông được chuyển ra thống lãnh đạo quân Hải Dương. Lúc nầy họ Mạc được phong tước Vũ Xuyên bá. Riêng xứ Đại Đồng ở tây bắc, nhà vua phong tước Khánh Dương hầu cho Vũ Văn Uyên, và để ông ta bình định vùng núi non nầy. Sang đến mùa xuân thứ ba của vua Chiêu Tông tức là mùa xuân mậu dần 1518 thì ở Hải Dương, Sơn Nam và các nơi khác đều được an bình. Riêng kinh thành Đông Kinh đã trở thành một nơi lý tưởng. Nhà nhà đều không còn phải lo trộm đạo, và dân chúng đều có thể vui chơi suốt đêm. Những điều may mắn trong ngoài đó đi đôi với tiếng tăm của Trần Chân.

      Người ta không nghĩ Trần Chân là một tướng quân mà là một chân đế. Bọn nho gia hiếu sự và rảnh rỗi lại truyền nhau một câu sấm: “Trần hữu nhất nhân, vi thiên hạ quân, thố đầu hổ vĩ tế thế an dân”. Thời gian bấy giờ đã là đầu năm dần, mà theo như sấm, thì cuối năm dần đầu năm mẹo sẽ có một người họ Trần làm vua thiên hạ. Câu sấm nhảm nhí đó lúc ẩn lúc hiện làm ám ảnh vua Lê Chiêu Tông. Ba quan văn đại thần là Chữ Khảo, Trịnh Hựu và Ngô Bính được vời đến. Họ đều là họ hàng bên mẹ của nhà vua là bà Đoan Mục thái hậu Trịnh Thị Loan. Họ có tiếng giỏi về dịch lý và tử vi. Họ khuyên nhà vua tìm cách trừ khử Trần Chân trước mọi sự trở nên xấu đi. Kết quả là một âm mưu được sắp đặt.

      Trần Chân không hề biết âm mưu của nhà vua và bọn Chữ Khảo. Trong một lần phục triều như thường lệ ngày 11 tháng 7 năm 1518, Trần Chân và 5 người tùy tùng bị bọn Lực sĩ phục sẵn trấn áp. Dù thế, oai thần của một tướng lãnh đã làm bọn nầy khiếp đảm. Không gươm giáo, một mình ông đã chống lại đội lực sĩ đến 6 người. Tuy thế, sức người cũng có hạn. Khi những người tùy tùng của ông bị chết hết, ông đã thọ thương. Ông cố chạy về phía cổng thành, nhưng không may không thoát được lưỡi kiếm vô danh của một tên thị vệ. Vết thương không xứng nầy đã làm ông phải chịu chết. Tin tướng Trần Chân bị hãm hại nhanh chóng truyền ra ngoài. Nếu Quách Bốc ngày xưa đã vì Phạm Bỉnh Di đuổi vua Lý Cao Tông thế nào, thì Nguyễn Kính vì Trần Chân đuổi vua Lê Chiêu Tông thế ấy. Ngay trong buổi trưa cùng ngày, Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Thân Duy Nhạc đem cả hàng ngàn quân từ Sơn Tây tấn công cửa Đại Hưng.

      Cửa Đại Hưng như là thành đồng. Nguyễn Kính phải kéo quân về. Ba ngày sau, tại chùa Yên Lãng đội quân trung thành với tướng Trần Chân tăng lên gấp 10 lần. Không những là quân đội, có cả trai tráng và thổ phỉ. Họ tiến vào thành giữa đêm ngày 14 tháng 7. Với sự liều mạng của quân trung kiên, và mánh khoé của những tay đạo chích họ phá vỡ được mặt thành. Quân của Nguyễn Kính tràn vào, và quân tướng triều đình chạy tán loạn như ong vỡ tổ. Đoan Mục hoàng thái hậu Trịnh Thị Loan và vua Lê Chiêu Tông được được một số lực sĩ gia thần hộ giá qua sông trốn trong dinh Bồ Đề. Đội quân túc vệ cũng tán loạn không mấy người theo kịp nhà vua. Các vị quan văn có người sợ quá chết ngay tại chỗ. Có người chạy theo kịp nhà vua như Trình Chí Sâm, Nguyễn thì Ung. Có người lại chạy về hành dinh Sơn Nam của Trịnh Tuy như Hàn lâm viện kiểm thảo Nguyễn Sư. Vua, quan, dân, lính đều chạy, nội thành hoàn toàn bỏ trống. Một cuộc hỗn loạn chưa từng thấy trong cả 100 năm của thời Lê Sơ đang xảy ra. Không có cuộc xô xát nào đẫm máu giữa quân cẩm vệ với quân Nguyễn Kính, nhưng không có vật nào ở trong mọi cung điện nằm yên chỗ cũ. Nguyễn Kính vốn không phải là một tướng tài thao lược, ông chỉ có khả năng của một thủ lĩnh chiến đấu. Đứng trước một tình huống không có đối thủ để tranh hùng, ông để cho quân sĩ hỗn tạp nầy tha hồ cướp bóc.

      Tình hình như thế khiến vua Lê Chiêu Tông ở dinh Bồ Đề cuống cuồng lên. Nhà vua vẫn không yên tâm khi Thừa chính sứ Kinh Bắc nguyện trung thành. Ông nầy tên Phạm Khiêm Bính đã đưa hai ngàn quân bảo vệ dinh Bồ Đề, và nhận lịnh nhà vua đi cầu cứu. Ông gấp rút cho người đi Sơn Nam và Hải Dương. Ở Sơn Nam, Trịnh Tuy nghĩ đến ân tình Trần Chân lúc trước nên chần chừ không cất quân. Ở Hải Dương, Mạc Đăng Dung mau mắn đưa quân về án ngữ mặt bắc Nhị Hà. Trong lúc ấy, vua Chiêu Tông cũng cho người gọi Nguyễn Hoằng Dụ về kinh sư. Nhà vua hy vọng người tôi thần không bị truy bức tới đường cùng trong lần trước còn nghĩ đến nhà Lê.

      Với sự có mặt đạo quân Hải Dương của Mạc Đăng Dung, vua Chiêu Tông yên lòng. Ông được họ Mạc khuyên lấy nghĩa vua tôi dụ dỗ Nguyễn Kính. Nguyễn Kính bàn với các thuộc tướng. Họ ra điều kiện nhà vua phải giao Chữ Khảo, Trịnh Hựu và Ngô Bính để tế sống Trần Chân, họ sẽ rút quân. Đây là một điều kiện không quá khó để đổi lấy an toàn cho một triều đại. Nhà vua lập tức cho thi hành, nhưng công việc không suôn sẻ. Những người cậu họ nầy đã sớm nghe được tin xấu, đã cùng nhóm quân cận vệ bỏ chạy. Không may, cả ba người họ đều bị chết trên đường bỏ trốn. Điều nầy làm làm vua Chiêu Tông trở thành kẻ thất tín, và Nguyễn Kính không chịu rút quân. Ông chỉ ra lịnh không được cướp bóc của dân chúng và hà hiếp phụ nữ. Đạo quân hỗn tạp nầy tuyệt đối nghe theo. Nó giúp kinh thành không rối loạn, nhưng trong các cung điện sạch bóng chẳng còn thứ gì. Một đôi đũa cũng được đem đi bán.

      Trong lúc ấy thì ở dinh Bồ Đề, Mạc Đăng Dung còn ngại quân của Nguyễn Kính nên không chịu ra quân. Ông chần chờ đợi đạo quân của Trịnh Tuy mới đồng loạt tái chiếm kinh thành. Họ Mạc không hề biết rằng ở Sơn Nam, Trịnh Tuy đương có một âm mưu khác. Họ Trịnh thấy Chiêu Tông không làm chủ được tình hình bèn âm mưu phế lập. Tháng 9 năm 1518, Trịnh Tuy và Nguyễn Sư lập Lê Bảng lên làm vua. Ông nầy là hậu duệ 4 đời của Cung vương Lê Khắc Xương, anh khác mẹ của vua Lê Thánh Tông. Trịnh Tuy cho sứ giả về kinh thành yêu cầu Nguyễn Kính ủng hộ lập trường của mình. Nguyễn Kính nghe theo vì cố chủ tướng Trần Chân, cố Mỹ Huệ hầu Trịnh Duy Sản cùng cánh với Trịnh Tuy. Từ đó Trịnh Tuy dời hành dinh về Từ Liêm và chính thức tôn Lê Bang lên làm vua lấy niên hiệu là Đại Đức. Trịnh Tuy tăng cường quân đội cả bộ và thủy quân. Những chiến thuyền từ Phủ Lý, Châu Giang, Thái Bình ngược dòng sông Hồng chuyển quân về Từ Liêm. Sự lớn mạnh quân đội như thế, cứ ngỡ vua Đại Đức Lê Bang sẽ thay vua Lê Chiêu Tông trong chốc lát. Rất tiếc điều nầy không xảy ra. Chỉ 3 tháng sau, cuối tháng 12 năm 1518, nhà vua nầy bị phế vì đã không chịu sự sắp xếp của Trịnh Tuy. Vị quyền thần họ Trịnh lập Lê Do, em Lê Bang, lên thay lấy niên hiệu là Thiên Hiến.

      Suốt thời gian làm mưa làm gió của Trịnh Tuy ở “triều đình Từ Liêm” thì xung quanh đã xảy ra hai sự việc: Thứ nhất: Quân đội của Nguyễn Kính ở nội thành trở nên hỗn loạn. Luạ là vàng bạc tiêu xài đã cạn, họ sinh ra giành xé nhau. Do đó lập trường ủng hộ Trịnh Tuy của nhóm Nguyễn Kính không còn thống nhất. Thứ hai: ở bên kia bờ sông Nhị Hà, Mạc Đăng Dung đã xây dựng được lực lượng lớn. Dưới danh nghĩa chính thống vua Lê Chiêu Tông, các lộ quân Kinh Bắc, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hải Dương đều ủng hộ. Không những thế, với ân tình cũ, họ Mạc gọi được cánh quân tái lập của Nguyễn Hoằng Dụ ở Thanh Hoa trở về.

      Những thay đổi nầy, Trịnh Tuy đã thấy. Ông muốn tấn công trước để giành thế chủ động. Tháng bảy năm 1519, Trịnh Tuy dùng thuyền chiến đưa quân qua sông tấn công triều đình Chiêu Tông ở dinh Bồ Đề. Trận chiến kéo dài nhiều ngày ở bờ bắc Nhị Hà bất phân thắng bại. Quân hai bên đều có tử thương lên tới số ngàn. Đến ngày thứ ba, cánh quân Nguyễn Hoằng Dụ nhập cuộc. Được sự yêu cầu của Mạc Đăng Dung, Nguyễn Hoằng Dụ xả đê sông Hồng làm ngập nước hành dinh Từ Liêm của Trịnh Tuy. Trịnh Tuy phải quay về hộ giá vua Lê Do Thiên Hiến. Lúc nầy Nguyễn Kính một lần nữa ra tay cứu Trịnh Tuy. Chiến trường mở rộng. Bốn lực lượng chia làm hai phe tấn công lẫn nhau. Quân của Nguyễn Kính tham gia sau cùng nên thừa sức mạnh đẩy quân Nguyễn Hoằng Dụ ra khỏi hoàng thành. Chiến trận của hai quân đội họ Nguyễn nầy chạy dài đến tận bờ sông Đáy. Hai bên đều có những thương vong dọc đường phía nam, nhưng so ra Nguyễn Hoằng Dụ thất bại nặng nề. Dẹp được đạo quân Thanh Hoa,  Nguyễn Kính đem quân trở lại hoàng thành.

      Khi Nguyễn Kính về tới Từ Liêm, thì trận chiến ở đây đã ngã ngũ. Quân của Mạc Đăng Dung đã tràn qua bờ nam Nhị Hà và làm chủ tình hình. Lúc nầy mới thấy quân của Mạc Đăng Dung đông hơn nhiều lần so với Trịnh Tuy. Họ Trịnh chỉ duy có đạo quân Sơn Nam, trong khi họ Mạc có toàn vùng phía bắc. Họ có dư quân số để vừa đắp đê, vừa tấn công họ Trịnh. Chưa hết một ngày, quân Trịnh Tuy yếu hẳn. Khi Nguyễn Kính trở về,  vua Thiên Hiến và đông các học sĩ Nguyễn Sư đã bị bắt. Nguyễn kính chỉ kịp cứu Trịnh Tuy thoát khỏi vòng vây. Họ Trịnh kéo tàn quân chạy khỏi hoàng thành. Giữa trời đêm của tháng bảy năm 1519 nầy, người ta tưởng sẽ có kịch chiến giữa quân Mạc Đăng Dung và Nguyễn Kính, nhưng điều đó không xảy ra.

      Giữa Mạc Đăng Dung và Nguyễn Kính không có thù nghịch. Họ Nguyễn vốn chỉ là một võ tướng, không có lòng làm quyền thần như Trịnh Tuy. Hơn nữa ông còn nợ vua Chiêu Tông một lời hứa khi bọn Chữ Khảo chết, mà không chịu rút quân (dù rằng cái chết nầy không đồng nghĩa với việc tế sống cho Trần Chân). Và, trên hết: lực lượng hiện thời của Nguyễn Kính đã suy giảm nhiều. Ông bằng lòng nghe theo Mạc Đăng Dung phò vua Lê Chiêu Tông. Nguyễn Áng, Thân Duy Nhạc, và đội quân huynh đệ cũng đồng lòng theo chủ tướng Nguyễn Kính. Khi tất cả các nơi đều yên ắng, ngày 20 tháng 9 năm 1519, Mạc Đăng Dung rước vua Chiêu Tông về kinh thành. Nhà vua đại xá khắp cả nước. Những thù hận giữa các phe phái trước đây hình như không còn nữa. Hầu hết các võ quan đều được thăng quan tiến chức. Mạc Đăng Dung từ Vũ Xuyên bá được phong làm Nhân quận công. Nhà vua trao cho ông quyền tổng chi huy quân đội. Ông có những tán lý quân vụ phụ tá để điều hành các lộ quân trong khắp 13 đạo. Nền văn học vốn đã trì trệ từ thời chiến tranh, nay cũng được cải thiện. Tháng 4 năm 1520 nhà vua cho tổ chức thi đình. Nguyễn Thái Bạt và 12 người khác đỗ tiến sĩ trong đợt nầy.

      Thế rồi, nhân một vụ nổi loạn nhỏ ở Tuyên Quang vào những ngày giáp tết Tân Tỵ 1521, vua Lê Chiêu Tông sai Mạc Đăng Dung đi lùng bắt tàn quân của Trần Cảo. Lúc này người ta mới biết vị “vua” Thiên Ứng nầy đã bỏ đi ẩn tu, và giao quyền hành lại cho người con trai là Trần Cung. Trần Cung bấy giờ chỉ còn là thủ lãnh một đám quân hỗn tạp hoạt động ở vùng bắc Kinh Bắc và Lạng Sơn. Họ Mạc đích thân mang quân đi dẹp. Tuy không bắt được Trần Cung, nhưng tàn quân tan rã và vợ con Cung bị giết. Thành tích nầy giúp Mạc Đăng Dung được thăng tước từ Nhân quận công lên Nhân quốc công, và giữ chức thái phó. Thời gian thăng hoa từ Vũ Xuyên bá lên Nhân quốc công kéo dài 2 năm. Đó cũng không phải là một nâng đỡ đặc biệt, nhưng quả là một nấc thang đáng nhớ.

      Với tước vị và chức vị mới nầy, cái nhìn của chàng lực sĩ trong đội túc vệ năm xưa biến đối. Mạc Đăng Dung bắt đầu gây phe cánh. Những người có vẻ bất phục họ Mạc đều bị giết chết hoặc thay thế. Đội trưởng đội túc vệ Đàm Cử, và hai nội quan Nguyễn Cấu và Nguyễn Thọ đều chết trong trường hợp nầy. Đó là 3 người rất thân cận với nhà vua. Điền vào chỗ trống đó là Mạc Quyết và Mạc Đăng Doanh. Hai người nầy một là em ruột, và một là con trai trưởng của Mạc Đăng Dung. Bên cạnh đó, Tán lý quân vụ Phạm Gia Mô, Tổng trấn Sơn Tây Vũ Hộ, các tướng Lê Bá Ly, Nguyễn Thì Ung và Trình Chí Sâm cũng theo Mạc Đăng Dung.

      Nhìn chung trong thời vua Lê Chiêu Tông từ năm 1516 đến năm 1521 nầy có 4 người nổi trội hơn Mạc Đặng Dung, nhưng đều thất bại: Trịnh Duy Sản nóng nảy cố tranh thắng với Trần Cảo ở Hải Dương để phải bị giết. Nguyễn Hoằng Dụ trung thành với nhà Lê, nhưng lại xích mích với Trịnh Tuy để dẫn đến thua Nguyễn Kính mà chẳng còn gì. Trần Chân có tài, có nghĩa khí, nhưng quá tin vào kẻ khác mà chết thảm dưới tay nhà vua và bọn bói toán. Trịnh Tuy có mộng quyền thần, nhưng lộ ra quá sớm để phải thua Mạc Đăng Dung. So ra 4 người họ không đủ kiên nhẫn và mưu lược như họ Mạc. Từ năm 1508 được phong Chỉ huy sứ ty Đô đến đầu năm 1521 khi được phong làm thái phó, họ Mạc nằm im như một con mèo, chỉ biết vâng lời đi bắt chuột. Biết bao nhiêu đổi thay từ Uy Mục đến Tương Dực đến Chiêu Tông, Mạc Đăng Dung luôn luôn làm kẻ thừa hành. Đến giữa năm 1521, thì triều đình không còn ai là kẻ đối đầu. Lúc nầy con mèo Mạc Đăng Dung trỗi dậy thành con cọp. Đó là lúc thời cơ thuận tiện để Mạc Đăng Dung thao túng quyền hành. Nếu ngày xưa Hồ Qúy Ly bước vào nhà Trần bằng con đường họ ngoại, thì Mạc Đăng Dung ngày nay bước vào nhà Lê bằng sức lực của chính mình. Nếu ngày xưa Hồ Qúy Ly khiêm liệt khi tạ ơn thượng hoàng Trần Nghệ Tông tặng tranh tứ phụ, thì ngày nay Mạc Đăng Dung đã sớm vung ra cái hào quang của mình.

      Từ tháng 7 năm 1522, Mạc Đăng Dung không còn kiêng nể nhà vua. Những thay đổi ở hoàng cung đều do ông quyết định. Ông đi bộ có lọng vàng, nếu đi bằng đường thủy ông dùng thuyền rồng. Ông tự ý phong cho con trai Mạc Đăng Doanh tước Dục Mỹ hầu, điều mà chỉ có một vị vua mới làm được. Đây là sự lấn át quá đà, mà nhà vua 16 tuổi không có sức đẩy lùi. Nhà vua chỉ có khả năng bỏ chạy. Ông được trưởng đội túc vệ Phạm Hiến hộ giá trốn ra huyện Thạch Thất, Sơn Tây vào đêm 23 tháng 7 năm 1522. Họ đi không rước được hoàng thái hậu và người em là hoàng đệ Lê Xuân. Ngày 28, Thân Duy Nhạc được lịnh của Mạc Đăng Dung đuổi theo đoàn tòng vong, và họ gặp nhà vua ở huyện lỵ nầy. Tại đây, khắp cả dân quân đều hướng ứng lời kêu gọi Cần Vương của Phạm Hiến. Với sức mạnh liều chết để bảo vệ vị quân chủ sa cơ, họ đánh tan được quân của Thân Duy Nhạc, nhưng phải đối đầu với một tình thế vô cùng bất ổn. Theo dự trù, Phạm Hiến sẽ đưa nhà vua đến Ba Vì, nơi có người anh là tướng quân Phạm Thứ trú đóng. Điều nầy không thực hiện được vì mặt tây nam nầy đã bị phong tỏa. Tổng trấn Sơn Tây là Vũ Hộ đã được lịnh Mạc Đăng Dung giữ chân Phạm Thứ. Liệu thế khó ở lại Thạch Thất, nhà vua đành phải giã từ những thần dân trung thành mà trốn về hướng bắc.

      Với nhóm tòng vong chưa tới 10 người họ phải giả dạng đi qua sông Hồng. Đây là đoạn đường gian khổ chưa từng có của vua Lê Chiêu Tông. Họ phải giả thành hai gia đình có cả ông già và phụ nữ di cư về Kinh Bắc. Phong trào Cần Vương đã dấu kín trong những bước khổ nạn nầy đến tận Bắc Giang. Tại đây họ gặp được sự cứu giá của phó đô tướng trấn thành nầy: Phúc Sơn hầu Hà Phi Chuẩn. Phong trào Cần Vương như ngọn đèn leo lắt trước gió từ từ tỉnh lại. Nó dần dần được thắp sáng lên ở miền sơn cước xứ bắc. Khi Hà Phi Chuẩn chưa có những bước đi đầu tiên, thì tại kinh thành có một triều đại mới.

Tương Dực chết giữa dòng đi xuống
Nước chảy quanh theo nước đổi thay
Lê gia rối loạn thêm nhiều nữa
Rồi sẽ ra sao nước lửa này

Vua bị giết hoàng thành vẫn cháy
Hoàng hậu yêu tuẫn tiết theo chồng
Con thơ ba đứa làm sao biết
Lưu lạc nơi nào những bến sông

Nước không thể không vua không lập
Bốc nhà ai Quang Trị lên ngôi
Triều thần xao xác không đồng nhất
Cửu ngũ ngôi cao mấy dễ ngồi

Vua chỉ vốn nhân thân hoàng tộc
Tuổi thơ ngây nào biết chuyện gì
Nghe tin Hoằng Dụ đem quân lại
Chưa kịp khai triều phải chạy đi

Lê Quang Trị chạy về Thanh Hóa
Đất Tây Kinh, Duy Đại phò trì
Đông thành, Duy Sản tôn vua khác
Cậu bé lên mười tức Lê Y

Vua Lê Y không hơn Quang Trị
Cũng kinh hoàng khi Dụ qua sông
Quân đi như thể mang thù báo
Duy Sản lui binh tránh máu hồng

Bỏ Đông Kinh lui về Thanh Hóa
Chốn quê cha Lê tộc thuận đồng
Rằng nay chỉ một ông vua nhỏ
Lê Y tức vị tức Chiêu Tông

Trong lúc ấy Đông Kinh rối loạn
Cướp nổi lên quấy phá nơi nơi
Tướng quân Hoằng Dụ ra quân dẹp
Mà loạn chẳng yên dậy đất trời

Quân Trần Cảo thời cơ lợi dụng
Qua sông Hồng chiếm cứ Từ Liêm
Dẹp giặc cướp xưng vương Thiên Ứng
“Thiên Tử Đông Phương” có phải điềm?

Dân xơ xác những ngày cướp chiếm
Nương bình yên dưới bóng quân Trần
Cuối cùng Trần Cảo như hóa thánh
Đuổi Dụ ra thành tận Lý Nhân

Cướp đã mất, Dụ đà bỏ chạy
Cảo lên ngôi, Thiên Ứng niên triều
Đông phương đã ứng điềm thiên tử
Hoàng thành mừng hội biết bao nhiêu

Giữa lúc ấy triều đình Thanh Hóa
Có Trần Chân nằm tại Hoàng Hoa
Đã theo Duy Sản từng chinh chiến
Chống lại Đông Kinh tại đất nhà

Buổi kịch chiến diễn ra Giảng Võ
Ngày sục sôi mới rõ tài danh
Tuy là quân ít so muôn một
Nguyễn Kính, Trần Chân phá đột thành

Nhưng rất tiếc cũng đành bỏ cuộc
Một trăm quân không địch muôn người
Thu binh trở lại Hoàng Hoa cũ
Đợi đến bao giờ loang nắng tươi

Rồi một buổi tinh mơ cũng đến
Vua Chiêu Tông chiêu dụ muôn nơi
Khởi từ Thanh Hóa đà bắc tiến
Hịch sắc phù Lê rõ sáng ngời

Đâu Hoằng Dụ, đâu là Duy Sản
Đâu Trần Chân, đâu những Trịnh Tuy
Không hiềm nhỏ nhặt so khanh tướng
Diệt Cảo phò vua, tổ quốc vì

Triều Thiên Ứng tới khi toan tính
Chống sao cùng ba mặt giáp công
Bỏ thành mà chạy về sông Đuống
Trở lại Đông Triều có tiếc không?

Từ dạo ấy Chiêu Tông tức vị
Nhưng Lê triều vẫn tiếp long đong
Nhà vua chỉ độ lên mười ấy
Trị nước sang trang mấy khó lòng

Xứ Kinh Bắc chìm trong nạn cướp
Đất Đông Triều, Trần Cảo giang san
Đại Đồng, họ Vũ nghiêng tây bắc
Tao loạn tràn qua mấy núi ngàn

Dẹp Kinh Bắc vua sai Thúc Mậu
Bình Đông Triều vua ủy đại quan
Cả hai Hoằng Dụ cùng Duy Sản
Cuối thu bính tý kịp lên đàng (10/1516)

Nhưng đông tới dần dần bất lợi
Rừng Đông Triều mây nước không yên
Bao lần đụng trận bao lần bại
Gian khó theo nhau nối tiếp liền

Rồi một sớm giữa rừng Nam Giãn
Rơi phục quân Trần Cảo giăng ngang
Ai hay Duy Sản từng chinh chiến
Mà phải buông gươm chịu đầu hàng

Chiều Vạn Kiếp trời đông ảm đạm
Nguyên quận công thọ tử đền thù
Nghịch thần? trung liệt? danh như phấn
Bại, thành cũng lạc giữa thiên thu

Duy Sản chết, đâu quân Hoằng Dụ
Đoàn bại binh di tản mùa đông
Rút về chưa tới bờ sông Nhị
Trần Cảo xua quân loạn máu hồng

Bắc sông Nhị trở thành trận địa
Từ kinh thành vua phái Trần Chân
Gia Lâm cho tới Tiên Du xứ
Kịch chiến đôi bên tướng họ Trần

Thù nghĩa phụ Trần Chân phải trả
Dũng tướng nầy có cả đệ huynh
Ở đây Nguyễn Áng, kia Nguyễn Kính
Đánh bạt đông tây chủ tình hình

Sông Cầu, xứ Lạng hay Kinh Bắc?
Trần Cảo nơi nao mất biệt rồi
Thần Lê trở lại thù phe phái
Những Trịnh Tuy, Hoằng Dụ phân đôi

Thời Chiêu Tông nhiều lần trôi nổi
Gây hàm oan gỡ mãi không ra
Lần nầy một dải lê thê ấy
Hại mấy nhà ai đến mấy nhà

Hại Duy Đại chết thềm cung điện
Hại Trịnh Tuy phải bỏ Nam thành
Khá khen Hoằng Dụ danh như tướng
Thiện ác theo đường bước công khanh

Vua Chiêu Tông nào rành hư thực
Lịnh Đông Hà tập đánh Đại La
Bên thềm Phục Cổ lên Khúc Phố
Quân Việt thi nhau phá nát nhà

Nhưng cuối cuộc Trịnh Tuy yếu thế
Bỏ thành Nam chạy mãi về đông
Cơ may lúc ấy Trần Chân giúp
Cứu Trịnh Tuy trụ lại sông Hồng

Lê Chiêu Tông lúc nầy mới rõ
Xoay ngược chiều ra lịnh truy gian
Trần Chân được lịnh đi truy phạt
Nguyễn Kính, Đăng Dung cũng sẵn sàng

Nguyễn Hoằng Dụ đâu rồi ngang dọc
Bị sa cơ Thuần Hựu trăng soi
Đăng Dung nghĩ tới ân tình cũ
Bỏ ngỏ nơi nao những lạch ngòi

Dõi cuộc thế Dụ về Thanh Hóa
Vua Chiêu Tông biết được rồi thôi
Từ nay có lẽ không thù hận
Phe cánh hai bên đã giải rồi

Công lao ấy Trần Chân trội nổi
Vua giao quyền tiết chế quân binh
Đã từng diệt hết quân Trần Cảo
Trần Chân sớm định được tình hình

Nào những xứ những vùng Tây Bắc
Nào phương nam đến tận kinh thành
Trần Chân nổi tiếng tài tiết chế
Cướp khấu nơi nào cũng khiếp danh

Oai phong ấy đã thành tăm tiếng
Bọn nho gia rảnh rỗi sính tài
Sấm rằng: “thiên hạ Trần chân đế
Sẽ lấy sơn hà trong nay mai”

Tin như có, như không, như có
Chuyện thế gian “sấm bói” chuyện dài
Đã từng danh liệt như Trần Cảo
Nên mặc cho đời ai với ai

Lòng quân tử Trần Chân không ngại
Mà tiểu nhân mấy kẻ nghi nàn
Một ngày triều thiết như thường lệ
Tướng Trần chết thảm bởi quân gian

Vua Chiêu Tông tin sàm Chữ Khảo
Giết Trần Chân sinh loạn kinh hoàng
Mãnh thuộc tướng là chàng Nguyễn Kính
Vì Trần Chân mà mặc giang san

Đệ huynh từ lúc theo Duy Sản
Nên thù phải trả mặc công khanh
Chiêu quân không kể hàng thổ phỉ
Đánh bức hoàng cung cướp lấy thành

Vua phải chạy qua đồi Kinh Bắc
Ngự Bồ Đề mà ngó Đông Kinh
Bên kia đền điện còn nguyên đó
Mà những vàng son đã phụ tình

Mất tất cả chỉ còn Phạm Bính
Là thừa tuyên Kinh Bắc khiêm tài
Tỉnh hồn vua gọi quân cứu giá
Mạc, Trịnh nơi nào ai với ai

Mạc Đăng Dung đi về rất sớm
Mà Trịnh Tuy hờ hững như không
Riêng quân Hoằng Dụ miền Thanh Hóa
Hò hẹn mà chưa những thuận đồng

May Nguyễn Kính không lòng nghiệp bá
Chiếm kinh thành chỉ thế rồi thôi
Ép vua giao bọn gian Chữ Khảo
Tế sống Trần Chân thế đủ rồi

Thế rất dễ mà không đạt được
Sợ bạo thù, Chữ Khảo trốn đi
Vô tình hòa ước mà không được
Ai biết rồi ra sẽ chuyện gì

Giữa lúc ấy Trịnh Tuy phản lập
Lập Lê Bang rồi lại Lê Do
Lập nên Thiện Kiến nam sông cái
Chỉ cách Chiêu Tông một chuyến đò

Triều Thiện Kiến tỏ đầy sức mạnh
Gom toàn quân từ trấn Sơn Nam
Trịnh Tuy còn được quân Nguyễn Kính
Phù trợ theo sau những mật đàm

Vua chưa phế mà đà phù lập
Quả Trịnh Tuy không phải tay vừa
Ly khai nghĩ chắc thành hơn bại
Mà thế xoay vần lại đẩy đưa

Là đối địch Trịnh Tuy khởi chiến
Thu đang sang kỷ mão năm nào (7/1519)
Hai bên kịch chiến bờ sông bắc
Đôi phía Lê triều cứ tiêu hao

Máu đã chảy Gia Lâm, Phú Hựu
Lần sang sông phủ Quốc, Từ Liêm
Hôm nào đê xả bờ sông cái
Thiện Kiến điêu linh sắp chết chìm

Thế trận ấy đến hồi lan rộng
Mạc Đăng Dung danh chính chiêu quân
Từ đông, tây bắc cùng kinh bắc
Kích Trịnh Tuy không có chỗ dừng

Giữa lúc ấy hùng quân Nguyễn Kính
Nhập cuộc nầy giải cứu Trịnh Tuy
Đuổi quân Hoằng Dụ về sông Đáy
Trở lại Đông Kinh quyết so bì

Tưởng như thế mà không phải thế
Mạc Đăng Dung lấy nghĩa phò Lê
Chiêu hàng Nguyễn Kính, người mãnh tướng
Họ Nguyễn săm sê đã thuận về

Thế loạn giặc đã bình một thuở
Mọi công thần đều được thăng quan
Đăng Dung tước bá lên công tước
Mấy nấc thăng hoa thấy rõ ràng

Là quan võ mười ba trấn đạo
Mà Đăng Dung còn vói ngành văn
Vừa truy bọn giặc Trần Cung cũ
Vừa khuyến thi hương hội thường hằng

Từ dạo ấy quận công họ Mạc
Bước lên thêm những bước công khanh
Quốc công thái phó thu tân tỵ (1521)
Điểm cuối công danh đã đạt thành?

Nào ai biết ai sanh ra phận
Phận đế vương hay phận tôi thần
Đăng Dung xô đẩy thời thành thế
Mọi thứ xoay vần dễ phân vân?

Thế đã vững lọng vàng đi bộ
Đường thủy kia dùng cả thuyền rồng
Công danh công khó không còn nặng
Cửu ngũ bên thềm hẳn với trông

Vua đã biết sức mình bất lực
Quyền thần nầy hơn cả Trịnh Tuy
Đem so Sản, Dụ, Trần Chân tướng
Mấy kẻ kia đâu đưọc kịp bì

Vua nghĩ thế giữa chiều thu lặng
Bóng hoàng thành đổ vắt qua sân
Làm vì sau trước đều thọ tử
Hãy quyết ra đi thử một lần

Đêm hạ huyền vành trăng mờ khuyết
Đường Sơn Tây, Phạm Hiến đưa đi
Bên giờ nhật nguyệt giao thoa ấy
Gió bụi từ đây sẽ chuyện gì?

Huyện Thạch Thất, cần vương dựng lập
Rừng Bắc Giang trời đất chứng minh
Trong khi ở tại kinh thành ấy
Mạc Đăng Dung tân lập triều đình


<<  |  >>