Skip to content

Chương 19/6

NHÀ LÊ SƠ
(1428 – 1527)

Đoạn sáu

LÊ TƯƠNG DỰC:
VỊ VUA BƯỚC LÊN DẤU SAI LẦM CỦA NGƯỜI TIỂN NHIỆM

      Vua Lê Tương Dực sinh ngày 26 tháng 6 năm 1495. Lên ngôi vào ngày 4 tháng 12 năm 1509. So ra, ông chỉ vừa 14 tuổi. Ở tuổi nầy chưa thể chững chạc trước một đất nước đang chuyển tiếp không bình thường. Việc đầu tiên ông cho an táng mẹ và các anh em, đồng lúc với việc trả thù. Cái xác của vua Lê Uy Mục bị giáng xuống thành Mẫn Lệ hầu, và được đem bắn nát bằng một loại súng “thần công” lúc bấy giờ. Cái thi hài rách tươm đó không được chôn ở Lam Kinh với tổ tiên nhà họ Lê. Những người họ ngoại của vị cựu hoàng nầy phải mang xác ông về Phù Chẩn. Chỉ có một ngôi mộ nhỏ dành cho ông, nhưng những người tận tụy với việc nầy hoặc đã từng được ơn mưa móc đều bị giết. Ngoài Phù Chẩn, ở Hoa Lăng và Nhân Mục cũng bị số phận tương tự. Hai địa danh sau là quê hương của người mẹ nuôi họ Nguyễn, và quê hương của cố hoàng hậu Trần Thị Tùng. Khương Chủng, Nguyễn Bá Thắng, Nguyễn Đình Khoa và nhiều đại thần họ ngoại của vua Uy Mục đã bị giết trong lúc này.

      Ngược với sự trả thù, vua Lê Tương Dực ban ân sủng cho những người có công: Nguyễn Văn Lang, linh hồn của cuộc khởi nghĩa, được thăng từ Nghĩa quận công lên Nghĩa quốc công. Nguyễn Hoằng Dụ, con của Nguyễn Văn Lang được phong làm An Hòa hầu. Người cậu họ Trịnh Duy Đại được phong Văn quận công, và cho giữ chức thượng thư bộ Hộ. Trịnh Duy Sản, người cậu họ thứ hai, được phong là Mỹ Huệ hầu. Lê Quảng Độ, tướng trấn thủ thành Đông Kinh, từ Thiệu quận công lên Thiệu quốc công. Lương Đắc Bằng từ Tả thị lang bộ Lễ thăng lên Lại Bộ thượng thư.

      Tình hình được ổn định, nhưng không thể nào không có những người hoài vọng triều đại cũ. Tháng 4 năm 1510 bọn thái giám Nguyễn Khắc Hài chiêu quân làm loạn, nhưng sớm bị tiêu diệt. Tháng 1 năm 1511, Thân Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng trong đội Cẩm Y khởi binh. Nó lan ra tới Cổ Pháp và Gia Lâm, nhưng cũng được dẹp yên. Sau hai biến cố nhỏ nầy, vệ quân Thiên Vũ của Mạc Đăng Dung được điều động tới bảo vệ điện Kim Quang. Ông được chỉ định làm Chỉ huy sứ ty Đô, coi an ninh hoàng thành. Từ đó cả phủ Phụng Thiên được yên, nhưng bên ngoài có những cuộc nổi dậy khác. Cuối năm 1511 Trần Tuân chiêu tập binh mã ở Hưng Hóa lên tới vài ngàn người. Nỗi bất bình vốn có từ thời vua Uy Mục, nhưng thực sự được biết đến khi Trần Tuân kéo quân về chiếm Sơn Tây vào tháng 12 năm 1511. Trịnh Duy Sản đã từng là tướng quân đánh chiếm hoàng thành đuổi vua Uy Mục, nhưng đành thất bại dưới đạo quân Trần Tuân. Trịnh Duy Sản đã mất hết 9 phần 10 quân số, chỉ còn lại chưa tới 100 người phải bỏ chạy. Điều nầy đã làm Trần Tuân coi thường quân triều đình. Từ Sơn Tây đoàn quân chiến thắng tiến về Từ Liêm, và chia quân trải ra tấn công hoàng thành. Đây là một sai lầm khi lực lượng quá ít. Bộ chỉ huy quá sơ sài của Trần Tuân bên bờ sông Tô Lịch là điểm nhắm của Trịnh Duy Sản. Họ Trịnh chỉ dùng một đơn vị nhỏ đột kích giết được vị chủ soái họ Trần nầy. Thuộc tướng Nguyễn Nghiêm lập tức thay Trần Tuân chỉ huy phản công, nhưng gặp đạo quân Nguyễn Văn Lang. Trong một canh giờ chiến đấu, phe khởi nghĩa phải rút chạy. Chỉ trong một ngày một đêm mà quá nhiều biến chuyển, Nguyễn Nghiêm không vực dậy được lực lượng khởi nghĩa. Họ vĩnh viễn mất tên.

      Diệt được loạn Hưng Hóa, nhưng Nghệ An lại nổi lên. Tháng giêng năm 1512 bọn Lê Nghi, Trịnh Hưng, Lê Minh Triệt khởi loạn xung quanh miền trung du. Có lần họ hoạt động ra tới ven biển, nhưng cuối cùng cũng bị Trịnh Duy Sản tiêu diệt. Sau chiến thắng nầy người cậu Trịnh Duy Sản được phong tước Nguyên quận công. Từ đây đến 2 năm sau, năm 1514, tình hình được yên ổn. Hạ bệ một vương triều mà chỉ có hai lần loạn phía trong nội thành và 2 lần loạn phía ngoài, thì cũng được gọi là bình yên. Nhiều người nghĩ sẽ có những bước đi lên. Người ta thấy nhà vua đã cho cải tổ Hàn Lâm viện, tổ chức thi hội và thi đình. Tiến sĩ Nguyễn Sư là Đông các đại học sĩ được phong làm Hàn Lâm viện Kiểm thảo sứ coi việc thi cử. Hoàng Nghĩa Phú, Nguyễn Đức Lượng đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ trong những năm đầu thời vua Lê Tương Dực. Bên cạnh đó, nhà vua còn chăm sóc quốc tử giám và văn bia tiến sĩ tiếp tục từ thời Hồng Đức. Với những thành tích về quân sự và văn học ấy, người ta nghĩ rằng nhà vua sẽ chận đứng được những bước chân đi xuống của triều đại trước.

      Rất tiếc không phải như thế. Trong mùa hè năm 1514 lúc mà vụ mùa lúa tháng 3 đã xong, quốc khố đã đầy, nhà vua quyết định xây Cửu Trùng đài. Theo sơ đồ của một kiến trúc sư tài ba lúc bấy giờ là Vũ Như Tô thì đài Cửu Trùng cao 9 tầng và rộng thênh thang gồm tới 100 nóc. Nó còn lớn hơn tất cả các cung điện trong nội thành cọng lại, và được xây cạnh hồ Tây. Bên cạnh đó còn đào một con sông từ Cửu Trùng đài nầy dẫn tới sông Tô Lịch. Con sông đào nầy phải quanh co uốn lượn để tăng thêm vẻ đẹp. Hai dự án nầy tưởng như là một điều không thể, mà vua Tương Dực cho thực hiện cùng một lúc. Lúc nầy nhà vua vừa 19 tuổi đã lập hoàng hậu, nhưng cái mộng vui chơi với cung nữ của một đế vương đã khiến ông quyết định thực hiện. Nhân lực trai tráng trong 13 đạo được thay phiên nhau gởi về để đào sông, xây thành. Mùa lúa tháng 8 năm đó bị sa sút là hệ quả đầu tiên sau 3 tháng khởi công. Cuối năm ngân khố chỉ bằng một phần hai năm trước, nhưng nhà vua vẫn cố đẩy mạnh công trình. Lúc nầy Nguyễn Văn Lang đã chết, Lương Đắc Bằng cáo lão từ quan. Trong triều chỉ còn Trịnh Duy Đại và Trịnh Duy Sản là hai công thần khởi nghĩa, nhưng nhà vua không nghe lời can gián của hai người cậu họ nầy.

      Bắt đầu tháng giêng năm 1515 đã cạn kiệt sức người. Quan phủ các nơi cố vắt sức lao động cho nhà vua. Điều nầy đã sinh loạn. Phùng Chương, một lãnh đạo nông dân ở Sơn Tây, thay vì đưa thanh niên ra xây Cửu Trùng đài đã dùng gậy gộc chiếm phủ trị. Trần Công Ninh ở Yên Lãng, Đặng Hân, Lê Hát ở Thanh Hoa cũng hành động tương tự. Nhiều nơi khác cũng rục rịch như thế. Trịnh Duy Sản phải dùng đến quân đội để trấn áp, nhưng thực sự không được yên. Chúng như vô số mầm nấm trên một cây rơm ẩm. Điều nầy làm Trịnh Duy Sản trực tiếp thỉnh cầu nhà vua ngưng ngay xây Cửu Trùng đài và đào sông. Vua Tương Dực không những không nghe mà càng sa vào tửu sắc. Rượu và cung nữ trần truồng trên thuyền ở hồ Tây cùng nhà vua vui chơi mỗi đêm. Đó là những nhát dao đâm vào lưng dân phu đang làm nô dịch. Và, có lẽ triều Lê đến lúc mạt vận, vua Lê Tương Dực cứ sa sâu vào những điều xấu. Thình lình ông giết 15 người tôn thất vì chỉ có ý bất bình. Người ta nói ông làm điều nầy để răn đe ai có mầm mống cản ông xây Cửu Trùng đài. Bên cạnh đó ông còn đem cung nhân của cựu hoàng Uy Mục và cả của vua bác Hiến Tông thông dâm. Không biết đây có phải là tiếp tục trả thù hay không, nhưng rõ ràng là bịnh hoạn. Trong số những người cung nhân còn sót lại nầy có người đã lên tới 50 tuổi, trong khi vua Tương Dực chỉ mới 20. Nhiều lần như thế, làm Trịnh Duy Sản đã can ngăn đến xúc phạm nhà vua. Kết quả, vị đại quan nầy bị căng ra đánh bằng roi để trừng phạt tội phạm thượng.

      Dĩ nhiên là Trịnh Duy Sản hận một ông vua loạn cuồng. Ông được thái sư Lê Quảng Độ đồng tình. Họ quyết diệt một ông vua bạo ngược như họ đã từng làm với vua Uy Mục. Trong lúc hai người âm thầm phát thảo kế hoạch thì có loạn Trần Cảo ở Thủy Đường, Đông Triều. Không biết từ bao giờ, mà ở thời loạn lạc đương đại có lời sấm truyền rằng ở phương đông có khí vượng thiên tử: “Đông phương hữu thiên tử khí”. Trần Cảo lại vô tình trùng tên với vua Thiên Khánh Trần Cảo đã bị Bình Định vương Lê Lợi giết năm 1428. Tính ra đã gần 100 năm mà câu sấm như một điều báo ứng. Đó là lòng tin dân gian, và dựa vào lòng tin nầy, người ta theo Trần Cảo rất đông. Ngoài người con Trần Cung, còn có Phan Ất và Đoàn Bố tụ tập trai tráng lên tới trên hai ngàn người. Trần Cảo tự xưng là hậu duệ nhiều đời của vua Trần Thái Tông, và làm lễ cáo trời đất ở chùa Quỳnh Lâm, Đông Triều tuyên bố khởi binh. Đó là ngày mồng 4 tháng giêng năm bính tý 1516.

      Hơn hai ngàn quân ào ạt tiến qua sông Đuống chiếm Tiên Du, Quế Dương và Gia Lâm. Các đơn vị địa phương ở đó bỏ chạy. Trần Cảo cho quân tiến sát tới bờ bắc Nhị Hà và lập bản doanh ở dinh Bồ Đề. Nơi nầy vẫn còn di tích của thủ lĩnh Lam Sơn Lê Lợi chiến đấu với Vương Thông của một thời xưa cũ. Ở bên này sông, hoàng thành Đông Kinh được khấp báo, vua Tương Dực sai Lại Thúc Mậu, Nguyễn Khắc Nhượng, Trịnh Hồng mang 5 ngàn quân qua sông cự giặc. Với quân số gấp đôi, quân triều đình đã đuổi quân Trần Cảo rút ra khỏi vùng mới chiếm. Họ Trần đưa quân chạy về Ngạc Sơn. Tại đây họ bị lực lượng Bắc Ninh của Phùng Tiến và Trịnh Khổng Chiêu chận đánh. Cứ ngỡ rằng bị lưỡng đầu thọ địch, Trần Cảo sẽ thua, nhưng quân khởi nghĩa họ Trần lại thắng. Phùng Tiến và Trịnh Khổng Chiêu đều tử trận trước khi quân của Lại Thúc Mậu kéo đến. Tình hình ấy khiến vua Tương Dực sai đạo quân của Nguyễn Hoằng Dụ qua sông tăng viện cho Lại Thúc Mậu ở núi Ngạc. Liệu Trần Cảo làm thế nào để chiến đấu với cả Lại Thúc Mậu và đại quân  của Nguyễn Hoằng Dụ? Với tương quan lực lượng như con châu chấu và chiếc xe ấy, thì ở triều đình có đột biến đã giải vây cho cha con Trần Cảo.

      Sau trận đòn roi trượng, Trịnh Duy Sản không còn được tin cẩn như trước dù ông vẫn còn là tư lịnh của đạo quân Kim Ngô. Ông không được cử đi dẹp giặc Trần Cảo là một bằng chứng. Điều nầy càng làm cho ông mau tiến hành kế hoạch phế diệt nhà vua, trước khi một việc tệ hại đổ lên mình. Lúc nầy ngoài Lê Quảng Độ còn có thượng thư Trình Chí Sâm cũng đồng tình. Dưới tay họ có đạo quân Kim Ngô mạnh hơn đạo quân bảo vệ hoàng thành của Mạc Đăng Dung là một lợi thế. Tuy nhiên, Trình Chí Sâm cũng đề nghị chiêu dụ họ Mạc trước khi ra tay, nhưng cả Trịnh Duy Sản và Lê Quảng Độ đều ngần ngại. Theo họ, quân của ty Đô chỉ là quân bảo vệ địa phương, và Mạc Đăng Dung là con người mà ý tứ không để lộ ra ngoài. Thà là đối đầu, hơn là rước một con sâu vào nằm ngay trong bụng mình.

      Đêm 6 tháng 4 năm 1516, những đơn vị tinh nhuệ Kim Ngô của Trịnh Duy Sản tập trung ở bến Thái Cực. Nửa đêm về sáng, cả 3 ngàn người tiến về cửa Bắc Thần. Quân canh phòng của ty Đô ở đây lập tức bị tiêu diệt. Trịnh Duy Sản đưa quân tiến vào nội thành đốt phá cung điện. Nhà vua nghe động tịnh cùng quân cẩm vệ chạy ra hồ Chu Tước. Hồ nầy chỉ cách điện Kính Thiên chưa đầy 100 thước, nhưng Trịnh Duy Sản đã có mặt ở đó. Lúc nầy vua Tương Dực vẫn chưa nghi ngờ gì người cậu họ của mình. Khi ông cất tiếng hỏi quân giặc ở đâu và được trả lời bằng một tràng cười quái lạ. Nhà vua biết mình bị phản bội, lập tức bỏ chạy. Ông chỉ được toán nội nhân duy nhất của Nguyễn Vũ bảo vệ, nhưng họ đã không cứu được ông. Ông đã bị một cận vệ của Trịnh Duy Sản giết chết ngay cạnh bờ hồ, trước khi Mạc Đăng Dung kéo quân đến. Lúc ấy trời chưa sáng hẳn, và hoàng thành hỗn loạn với những đám cháy. Khâm Đức hoàng hậu, người vợ trung thành của vua Lê Tương Dực đã tự sát khi hay tin chồng bất ngờ lâm nạn. Bà là người thứ hai đã vì nhà vua mà chết, sau nội vệ cận thần Nguyễn Vũ. Đó là ngày 7 tháng 4 năm 1516.

Trong hay đục Uy vương đã chết
Hoàng hậu Trần tự vẫn Hồng Mai
Trăm năm bia thế là như thế
Lê tộc về đâu mấy ngắn dài

Đổi nhánh khác chia hai sau trước
Từ Giản Tu là nhánh Kiến vương
Cùng là hậu duệ vua Hồng Đức
Nối tiếp nhà Lê kế nghiệp đường

Giản Tu công tức vua Tương Dực
Chôn đệ huynh, người mẹ lời nguyền
Thù nầy phải trả trên đầu súng
Mẫn Lệ chết rồi xác chẳng yên

Khiêng linh cửu đi về Phù Chẩn
Đất Lam Kinh không nhận ô quân
An Lăng bia đá mờ nhân ảnh
Mộ địa oan khiên sóng có dừng?

Dừng hay động không còn dấu tích
Ở kinh thành Tương Dực ban ân
Trước sau những vị công thần cũ
Được gia phong tước vị lần lần

Đâu những kẻ tương lân công bá
Đâu thượng thư đâu những thừa tuyên
Trong ngoài một thuở như hưng thịnh
Nối lại ngày xưa nội tổ truyền

Được mấy chốc con thuyền Đại Việt
Lại lung lay từ những nguồn cơn
Hoài Lê Uy Mục quân thái giám
Cẩm y khởi loạn mấy căm hờn

Đôi loạn nhỏ hơn thua dậy sóng
Làm nhà vua tăng vệ nội biên
Kim Quang điện Đăng Dung trấn giữ
Sứ ty Đô họ Mạc liên quyền

Hoàng thành từ ấy yên như nước
Mà loạn bên ngoài mấy tương tranh
Trần Tuân dậy sóng rừng Hưng Hóa
Kéo tới Sơn Tây chiếm ngoại thành

Từ Liêm một độ tan thành quách
Duy Sản tiêu quân đến mất còn
Nửa đêm lừa địch say chiến thắng
Ai người không kịp thỏa chân bon

Quân kháng chiến khởi binh xứ khác
Đâu Trịnh Hưng, Lê Triệt phong ba
Không từ Hưng Hóa mà đất Nghệ
Duy Sản một phen định sơn hà

Qua loạn tặc thanh bình một thuở
Văn bia xưa nối tiếp ghi danh
Thi đình thi hội ơn lều chõng
Có kẻ lêu bêu có kẻ thành

Bên từng mỗi hanh thông văn võ
Ngành tằm tơ dệt lụa, tang nông
Từng mùa huê lợi tăng quốc khố
Thóc lúa xô gai chất chập chồng

Ai cũng ngỡ Thánh Tông trở lại
Thời vàng son rực rỡ quay về
Nào hay chỉ đỗi như gang tấc
Lê triều trở lại bước lê thê

Lê Tương Dực sinh mê cung nữ
Mê lâu đài, bịnh hoạn gian dâm
Cửu Trùng cung tháp vua cho lập
Sông uốn quanh co vạn lỗi lầm

Lưng quốc khố cạn dần kho lẫm
Chốn tầng mây trăm nóc chưa thành
Sông về Tô Lịch chưa thông nước
Trùng đài nước mắt đắp tầng xanh

Phu dân mộ mấy mùa nóng lạnh
Phơi lưng trần ngày nắng sương đêm
Để cho thuyền ngự say men rượu
Từng mỗi thâu đêm thiếu nữ mềm

Đêm Tây Hồ lung lay mờ ảo
Đèn hồ Tây vua đốt non sông
Ai người can gián cơn mê ấy
Mà để roi côn rướm máu hồng

Cùng lúc ấy phương đông xuất thế
Theo đồng dao tiên đoán mai sau
Rằng đông phương xuất ngôi thiên tử
Ai biết từ đâu chữ sấm này

Ở Thuỷ Đường, Hải Dương: Trần Cảo
Trùng trăm năm nào biết thực hư
Rằng quân báo oán từ Thiên Khánh
Trả mối thù xưa bất nhân từ

Như sóng vỗ tràn bờ sông Đuống
Từ Đông Triều tiến thẳng Tiên Du
Gia Lâm bờ bắc bờ sông Nhị
Khói tỏa gươm đao cứ mịt mù

Vua Tương Dực sai quân cự giặc
Chiều sông Hồng đầy những quân binh
Nào quân Thúc Mậu, quân Khắc Nhượng
Bao ngàn quân bao ngọn sóng kình

Thế quả mạnh triều đình đại thắng
Đuổi họ Trần về tới Ngạc Sơn
Tại đây cứ ngỡ quân Trần bại
Mà thế hai bên cứ chập chờn

Giữa hai phía hơn thua chưa rõ
Tăng quân binh Hoằng Dụ qua sông
Xôn xao một xứ chiều Kinh Bắc
Núi Ngạc sương pha đẫm máu hồng?

Tưởng là thế mà không phải thế
Tin triều đình đột biến đưa sang
Tinh mơ máu chảy bờ Chu Tước
Nước lặng mà nghe sóng kinh hoàng

Trịnh Duy Sản ra tay nhiều lẽ
Lẽ nào hơn có phải hận lòng
Trăm roi một mạng huề thua thắng
Xin đừng hỏi vặn đục hay trong


<<  |  >>